Phân loại các nhóm bệnh thường mắc của động vật trong chăn nuôi thú y - Pdf 13

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương IV.
PHÂN LOẠI CÁC NHÓM BỆNH

Nội dung chính của chương 4:
Cơ thể động vật thường xuyên đối mặt với các tác nhân gây bệnh từ bên trong và bên
ngoài. Thông thường cơ thể không nhất thiết mắc một bệnh này hay một bệnh khác có tính
chất riêng biệt.
Trong thú y cũng như y học việc phân ra từng nhóm bệnh có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng, nhằm:
- Dễ dàng chẩn đoán bệnh
- Có phương pháp điều trị đúng
- Có biện pháp phòng trừ bệnh kịp thời và đúng phương pháp.
Thực tế trong thú y các bệnh của các đối tượng vật nuôi, được chia ra mấy nhóm chinh sau:
* Bệnh truyền lây
* Bệnh ký sinh trùng
* Bệnh không lây truyền, hay còn gọi là bệnh nội ngoại khoa
* Bệnh sản khoa
* Một số khái niệm chung, và một số bệnh trong nuôi trồng thủy sản

1. Bệnh truyền lây
1.1. Định nghĩa
Bệnh truyền lây là những bệnh do virut, hay vi khuẩn gây nên, nó có thể truyền lây từ con
này sang con khác, từ loài vật này sang loài vật khác. Tính chất lây lan mạnh gây nên những
ổ dịch lớn có tính chất địa phương, quốc gia, vùng khu vực, châu lục và mang tính toàn cầu.
Bệnh truyền lây là nhóm bệnh nguy hiễm và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất, ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng.
Nhiệm vụ của khoa học nghiên cứu về bệnh truyền lây, là nghiên cứu những qui luật, thuộc
về đặc tính bệnh, đặc tính mầm bệnh, quan hệ mầm bệnh với động vật cảm nhiễm, tính
thôngá nhất giữa cơ thể với ngoại cảnh, các hiện tượng bệnh lý, điều kiện phát sinh, tiến triển
và ngừng tắt của dịch. Từ những nhận thức đó con người đề ra các biện pháp tích cực phòng

Mỗi một loài vi khuẩn hay vi rut thì gây bệnh cho một hay nhiều loài nào đó mà thôi.
Ví dụ, vi khuẩn Leptospira gây bệnh xoắn khuẩn, hay còn gọi là bệnh lợn nghệ ở lợn. Vi
khuẩn Brucella, gây bệnh sẩy thai truyền nhiễm chủ yếu là động vật nhai lại, như dê, cừu.
Virut LMLM chỉ gây bệnh lở mồm long móng cho loại động vật móng chẳn
* Con đường gây bệnh: Đa số bệnh truyền nhiễm lây lan chủ yếu thông qua con
đường thức ăn nước uống tiếp xúc, nhưng một số bệnh phải thông qua con đường gây bệnh
nhất định nào đó mà thôi. Vídụ: Bệnh uốn ván- Clostridium tetanus, con đường xâm nhầp
chủ yếu thông qua vết thương, bệnh dại do virut dại gây nên chủ yếu thông qua vết cắn từ
động vật mang trùng
* Số lượng và độc lực của vi khuẩn virut
* Sau khi mắc bệnh truyền lây, nếu khỏi bệnh thì cơ thể đó có khả năng miễn dịch với
bệnh đó. Ứng dụng vấn đề này trong thú y, cũng như y học, người ta tiêm phòng vác xin để
tạo miễn dịch cho con vật. Thú y, việc tiêm phòng vacxin cho các loài vật nuôi là việc làm vô
cùng cần thiết để phòng chống bệnh truyền nhiễm. Với y tế cộng đồng, việc tiêm chủng mỡ
rộng, tiến tới nước ta thanh toán 6 bệnh cho trẻ em (ho gà, uốn ván, bại liệt, đậu )là một
công việc đã và đang triển khai, yêu cầu bà mẹ mang thai, và trẻ em sơ sinh đến 6 tháng tuổi
tích cự hưởng ứng phong trào tiêm chủng.
* Sức đề kháng của cơ thể: Một khi đầy đủ các yếu tố gây bệnh trên đã có, nhưng khả
năng mắc bệnh phụ thuộc rất lớn vào sức đề kháng của cơ thể. Một cơ thể khỏe mạnh là cơ
thể đầy đủ hệ thống miễn dịch không bị tổn thương, sức khỏe cao để chống đỡ với bệnh tật.
Do vậy, việc chăm sóc sức khỏe vật nuôi nâng cao sức đề kháng của vật nuôi là việc làm
không thể thiếu được đối với người làm công tác thú y.
1.4. Tác động của vi khuẩn vi rut lên cơ thể động vật
Quá trình truyền lây là một quá trình xâm nhập độc tố của vi khuẩn vào cơ thể động vật, cơ
thể nhiễm độc- intocxination. Độc tố của vi khuẩn có hai loại (tocxin):
-Loại độc tố do quá trình sống của vi khuẩn tiết ra ngoài,người ta gọi là ngoại độc tố
(Exotocxin). Ví dụ: độc tố uốn ván,độc tố của vi khuẩn Butulizm và một số độc tố của nhóm
vi khuẩn kị khí, các độc tố của bọn này tác động lên nhiều cơ quan tổ chức của cơ thể. Trả lời
lại kích thích của loại độc tố này cơ thể sản sinh ra kháng độc tố (Antitocxin)
Loại ngoại độc tố này không có khả năng chịu nhiệt, với nhiệt độ 60

aggresion)
1.5. Một số nét khác biệt của bệnh lây truyền
Bệnh truyền lây có một số tính chất riêng khác biệt với các bệnh không lây truyền như sau:
-Bệnh gây nên do một laọi ví sinh vật được xác định rõ ràng
-Cơ thể mắc bệnh, cũng là nguồn bệnh, mầm bệnh từ được thải ra từ con vật mắc
bệnh tới con vật khỏe mạnh
-Cơ thể sau khi mắc bệnh thì có khả năng miễn dịch (khả năng không mắc lại) với
bệnh đó
-Bệnh truyền lây phát sinh có tính chất chu kỳ về thời gian nhất định- đó là thời kỳ ủ
bệnh.
Thời kỳ ủ bệnh là thời gian mà được tính từ khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể đến thời điểm
mà triệu chứng lâm sàng đầu tiên của bệnh xuất hiện. Mỗi một bệnh đều có thời kỳ ủ bệnh
khác nhau. Thời kỳ ủ bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như độc lực của vi khuẩn, sức đề
kháng của cơ thể
Ví dụ: thời kỳ ủ bệnh của bệnh lao là vài tháng, bệnh uốn ván 1-3 tuần
Trong thời gian ủ bệnh vi khuẩn trong cơ thể không ngừng được nhân lên và độc tố cũng
được sản sinh ra nhiều hơn.
-Trong thời gian vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, cơ thể có những phản ứng đặc hiệu
để chống lại sự xâm nhập đó, nên bệnh có thể không xẩy ra.
-Quá trình khỏi bệnh truyền lây không hoàn toàn là cơ thể vẩn mang trùng, có kả
năng gieo mầmbệnh ra môi trường bên ngoài, và có thể đén một lúc nào đó sức đề kháng của
cơ thể yếu bệnh lại tái xuất hiện.
1.6.Một số biện pháp phòng trừ bệnh truyền lây
1.6.1. Nguyên tắc chung của công tác phòng chống bệnh truyền lây
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
38
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Nguyên lý chung là vận dụng kiến thức về 3 yếu tố của bệnh truyền lây. Đó là:
-Nguồn bệnh
-Yếu tố trung gian

-Điều trị dự phòng con vật mang trùng
Nhất là đối với những động vật quí hiếm đắt tiền
1.6.3. Các biện pháp đối với ổ dịch
-Phát hiện sớm, khai báo kịp thời
-Cách ly kịp thời
-Điều trị triệt để
-Phải điều tra phát hiện những động vật nghi mang trùng
-Xử lý tình huống dịch bệnh động vật
-Công bố dịch, tùy theo tính chất và chức năng của từng cơ quan, người có trắch
nhiệm mà công bố dịch
-Các cấp chính quyền phối hợp với lực lượng thú y chỉ đạo công tác chống dịch triệt
để.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
39
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Trong từng vùng có nguy cơ dịch bệnh uy hiếp phải thực hiện hạn chế lưu thông
động vật. Các cơ quan tổ chức kiểm dịch triệt để nguồn động vật xuất xứ đi qua khu vực của
địa phương mình quản lý.
-Thực hiện tiêu độc triệt để bằng các hóa chất như: Vôi, xút, nước tro, axit, các hợp
chất tiệt trùng có chứa Clo, thủy ngân, crezol.
-Tiêu độc định kỳ các khu giết mổ
-Tiêu diệt các động vật trung gian truyền bệnh như muỗi, ruồi, ve bét vệ sinh môi
trường.
-Tăng cường sức đề kháng bệnh của các đối tượng vật nuôi, thức ăn chế độ nuôi
dưỡng qui trình nuôi khép kín
- Tăng cường công tác tiêm phòng
Đối với bệnh truyền lây luôn nhớ rằng công tác phòng là chủ yếu, hạn chế đến mức tối đa có
thể hạn chế được dịch xẩy ra. Việc điều trị bệnh lây truyền là một việc làm không hiệu quả.
Trong tình hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ như hiện nay của nước ta, công tác tuyên truyền
vận động phòng chống dịch bệnh truyền lây cần phải được tiến hành thường xuyên. Khi điều

40
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Bệnh do kst gây nên đối với vật nuôi ở nước ta là vô cùng phong phú và đa dạng. Vì nước ta
là một nước nhiệt đới nống ẩm, có điều kiện khí hậu vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của
bọn kst.
2.2. Những thiệt hại do bệnh kst
Hàng năm nghành chăn nuôi bị thiệt hại rất lớn do kst gây ra, những thiệt hại không những
cho chăn nuôi mà ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe cộng đồng. Những thiệt hại đó có thể tổng
kết thành những mặt chính sau:
-Thiệt hại gây ra do bệnh kst lan truyền cấp tính làm chết hàng loạt vật nuôi
Thể bệnh này thường thấy nhóm bệnh do nguyên sinh động vật gây nên, như bệnh huyết bào
tử trùng, tiêm mao trùng, bệnh cầu trùng có thể lây lan làm chết hàng loạt như: dịch huyết
bào tử trùng năm 1959, 1960, 1962 ở nông trường Bavì.
Ngoài ra, các bệnh giun sán như giun đũa ở gia súc non, sán là gan ở dê cừu, cũng có thể mắc
hàng loạt và tỷ lệ chết cao.
-Thiệt hại gây nên ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi.
Bệnh KST thường xẩy ra ở thể mạn tính, kéo dài triệu chứng bệnh, bệnh tích không rõ ràng,
nhưng ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của vật nuôi.
Đa số kst gây rối loạn quá trình tiêu hóa, cản trở quá trình hấp thu, làm giảm số lượng hồng
cầu, do đó dẫn tới vật nuôi còi cọc chậm lớn.
Về thiệt hại vấn đề này, tại hội nghị thế giới về kST nhà khoa học Yasin nói " Thường những
bệnh do vi rut, vi khuẩn gây ra có tính chất ồ ạt và cũng mất đi nhanh chóng, còn những bệnh
do KST gây nên thì kéo dài rất lâu gây nên những tổn hại cũng vô cùng to lớn"
-Thiệt hại do kst làm giảm sản phẩm của gia súc, thịt lông da
Ngoài việc ảnh hưởn đến sinh trưởng và phát triển của vật nuôi làm cho sản phẩm của chúng
thịt, long, sữa đều bị hạn chế.
Ví dụ: Do nhiều laọi KST mà thịt sau khi mổ phải hủy bỏ như bệnh gạo lợn, gạo bò. Bệnh
sán là gan gây nên thiệt hại tới hàng tăm nghìn tấn gan. Gà bị mắc bệnh sán lá sản lượng
trứng giảm và hay đẻ non. Cừu dê bị bệnh ghẻ giảm sản lượng long da
-Thiệt hại do bệnh kst ghép với các bệnh khác, bệnh kst mỡ cữa sớm cho các bệnh

phân bố bệnh kí sinh trùng. Thực vật liên quan đến phân bố của KST và còn ảnh hưởng tới
đời sống của chúng.
Ví dụ nơi nào phân bố nhiều cỏ tranh thì nơi đó có điều kiện phát triển bệnh bào tử trùng, ốc
nước ngọt là kí chủ trung gian của sán lá, nơi nào lòa ốc đó phát triển thì có điều kiện để
mầm bệnh tồn tại và lây lan.
Với điều kiện khí hậu, điều kiện phân bố động thực vật, trình độ chăn nuôi, và cả tập tục ăn
uống sinh hoạt của người dân nước ta thì bệnh kí sinh trùng vô cùng thuận lợi và phát triển.
Trong những năm lại đây trình độ dân trí được nâng cao, trình độ chăn nuôi đã cải thiện do
vậy, hạn chế rất nhiều bệnh kí sinh trùng gây ra.
-Điều kiện kinh tế xã hội
Ngoài nhân tố của điều kiện ngoại cảnh thì sự phân bố của kst phụ thuộc, liên quan chặt chẻ
với hoạt động của con người, cụ thể là điều kiện kinh tế xã hội.
Ví dụ bệnh gạo lợn gạo bò phụ thuộc rất lớn vào sự bảo quản phân người, bệnh giun bao phụ
thuộc vào tập quán ăn sống tái ở một số địa phương.
Bệnh sán dây phụ thuộc vào nếp sống văn hóa của vùng địa phương, nếu đời sống thấp điều
kiện xây nhà vệ sinh không đảm bảo hợp vệ sinh tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển.
Tập quán và trình độ chăn nuôi. Ví dụ tập quán nuôi lợn thả rong ở nông thôn và đồng bào
miền núi, lợn dể mắc bệnh giun phổi giun đũa
2.4. Con đường truyền bệnh của kst
Nguồn lây lan chính của bệnh là do số lượng rất lớn trứng và ấu trùng của kst bài tiết ra bên
ngoài. Nó vào cơ thể kí chủ bằng nhiều con đường khác nhau:
- Đường tiêu hóa, là con đường truyền bệnh của đại đa số kst, vì phần lớn trứng của
chúng được đào thải ra ngoài theo phân. Và trứng lẩn vào thức ăn nước uống vào miệng vào
đường tiêu hóa của kí chủ.
Ví dụ: Trứng đã có ấu trùng giun đũa có trong thức ăn nước uống trong đất, vật nuôi ăn uống
phải thức ăn nước uống có trứng đó và gây bệnh qua con đường tiêu hóa. Ấu trùng của giun
xoăn có khả năng bò lên cây cỏ trâu bò ăn phải cỏ đó sẻ bị mắc bệnh, hoặc nang ấu của sán lá
ruột Faciolopsis buski, bám trên mặt rong bèo, cây cỏ ở nước gia súc ăn phải cũng sẻ mắc
bệnh.
-Truyền qua da, gia súc có thể nhiễm cảm nhiễm kst qua da bằng hai phương thức

KST có thể kí sinh khắp nơi trong cơ thể động vật như: ruột, dạ dày, cơ, phổi , gan, thận mà
nời kí sinh nhiều nhất là đường tiêu hóa.
Mỗi một loại kí sinh trùng đều có nơi kí sinh thích hợp khác nhau, nhiều khi còn tìm thấy các
vị trí sai lệch. Ví dụ: sán lá gan có thể tìm thấy ở tử cung. Trong những trường hợp này đời
sống của chúng tồn tại không được lâu, vì những nơi đó không đủ điều kiện cho chúng phát
triển. Mỗi một loại động vật trong cùng một thời gian có nhiều loại kí sinh trùng kí sinh ở
nhiều cơ quan bộ phận khác nhau.
Đời sống của kising trùng trong cơ thể động vật phụ thuộc rất lớn vào cơ thể kí chủ.
Do đời sống kí sinh nên trong cơ thể động vật các cơ quan bộ phận không cần thiết của
kisinh bị thoái hóa, teo biến.
Ví dụ: cơ quan vận động của giun sán bị teo biến, cơ quan thị giác, hệ thống máu cũng không
có, hệ thống ống tiêu hóa vô cùng đơn giản.
Sức đề kháng của cơ thể kí chủ cao, thì khả năng tồn tại của kí sinh càng ngắn. Vì trong quá
trình kí sinh cơ thể kí chủ sản sinh ra kháng thể, hoặc một cơ chất tìm mọi cách đào thải kí
sinh ra khỏi cơ thể. Chính vì vậy việc nâng cao sức khỏe con vật là một trong những biện
pháp phòng trừ bệnh KST.
2.6. Biện pháp phòng ngừa tổng hợp đối với bệnh kst
- Điều trị : Là mục đích chữa cho con vật bị bệnh, khỏi bệnh, nhưng đối với ngoại
cảnh là phòng ngừa vì nó diệt trừ được mầm bệnh, loại trừ mầm bệnh gieo rắc cho con vật
khác.
-Phòng bệnh, phòng bệnh có hai phương thức:
*Phòng bệnh gián tiếp (phòng ngừa bị động). Nó có tính chất bị động làm cho con
người và gia súc không tiếp xúc với mầm bệnh, nó bao gồm các biện pháp như vệ sinh thức
ăn nước uống, vệ sinh chường trại
* phòng ngừa trực tiếp
Là phương pháp chủ động tấn công, dùng mọi biện pháp vật lý hóa học, cơ giới sinh vật học
trực tiếp tác động vào căn bệnh, nó bao gồm các biện pháp sau:
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
43
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

và ấu trùng giun sán.
1. Cách lấy mẩu phân:
Đối với động vật lớn như trâu bò, ngựa, lấy mấu phẩntực tiếp qua trực tràng.
Đối với động vật nhỏ như lợn, dê, cừu chó, có thể dùng một ngón tay đeo găng, nhúng vào
glyxerin cho vào hậu môn để lấy phân.
Khối lượng phân lấy ít nhất là 5gr.
Trường hợp phân rơi xuống đát có thể lấy nhiều điểm khác nhau trên bải phân
2.Phương pháp trực tiếp:
Lấy một phiến kính sạch cho vào một giọt glyxerin với nước lả, sau đó cho một mẩu phân lên
phiến kính trộn đều, rồi đưa lên kính hiển vi để kiểm tra.
Phương pháp này tiện lợi đơn giản nhưng khả năng phát hiện kém chính xác.
3.Phương pháp phù nổi:
Lợi dụng tỷ trọng của trứng nhẹ hơn một số dung dịch bảo hòa, trứng sẻ nổi lên trên.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
44
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Cách tiến hành:
Bước một : Pha dung dịch bảo hòa
-Nước mối bảo hòa 38-40%
- Dung dịch bảo hòa đường 50%
-Dung dịch bảo hòa Thíosunphát Na 42%
-Dung dịch bảo hòa Sunphát manhê
Bước2:
Lấy một cốc có dung tích 100-200ml cho vào cốc 5-10 gr phân sâu đó cho vào gấp 10-12 lần
một trong các dung dịch trên, trộn đều, vớt rác ra.
Bước 3: Dùng lọ thuốc penicilin không sạch, sau đó ró đầy hổn dịch trên vào lọ.
Dùng phiến kinh sạch đậy lên. Đợi 15-20 cho vào kính hiển vi để soi.
Chú y: Phương pháp này chủ yếu dùng để tìm trứng của nhóm giun tròn.
4. Phương pháp dội rữa nhiều lần:
Thường dùng để kiểm tra trứng sán lá. Lấy 5-10 gr phân cho vào cốc thủy tinh có dung tích

45
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Cách tiến hành:
Lấy 20gr phân cho vào rây có lổ nhỏ, đặt nó vào một cái phểu thủy tinh, được nối với một
ống cao su gắn với một ống nghiệm.
Đổ nước nống vào (45-50
0
C) trên rây. Nước phủ lên lưới sts khoảng 1cm. Đợi 2-4 giờ, ấu
trùng lắng xuống đáy ống nghiệm. Lấy ống nghiệm ra chắt nước phần trên, hút cặn cho vào
phiến kính để xem.
8.Phương pháp Vaid
Phương pháp này cũng dùng để kiểm tra ấu trùng. Nhưng chủ yếu là phân của dê cừu và thỏ.
Kiểm tra ấu trùng giun lươn.
Lấy 3-4 gr phân cho vào hộp lồng có nước đợi sau 1-2 giờ, gạt phân ra lấy nước để kiểm tra.
9.Cách kiểm tra khi soi kính phân biệt với một số hình là trên tiêu bản
-Trứng giun sán có cấu tạo võ bên ngoài, bên trong có tổ chức của nó.
Võ trứng thường cấu tạo hai lớp.
-Ngoài trứng giun sán gây bệnh, trong phân còn chứa nhiều loại cặn phức tạp, cần
phân biệt trừng với các vật là sau: Tế bào thực vât, hạt tinh bột hạt mỡ, tế bào thượng bì,
nguyên sinh động vật

2.9. Học thuyết nguồn dịch thiên nhiên của viện sỹ E.H.Pavlopski

2.9.1. Khái niệm về học thuyết
Trong những năm Liên Xô (cũ) tiến hành công cuộc khai hoan những vùng đất rộng. Đảng
và chính phủ đã cử nhiều đoàn công tác điều tra. Năm 1938 Viện sỹ Pavlopski và nhiều nhà
vi trùng học, động vật học, kí sinh trùng học đã phát hiện nhiều bệnh có nguồn gốc thiên
nhiên liên quan đến người và gia súc. Trên cơ sở đó, viện sỹ đã tổng kết và đưa ra học thuyết,
gọi là học thuyết nguồn dịch thiên nhiên.
Khái niệm cơ bản của họch thuyết là: " Trong thiên nhiên hoang vu đã phát inh và tồn tại

+Bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên nó tồn tảitong thiên nhiên hoang
vu, không hề có dấu vết của con người.
+Sự tuần hoàn của bệnh được tiến hành liên tiếp trong nhóm sinh vật đã tồn
tại từ bao đời nay
+Nhóm ký chủ của căn bệnh và động vật gieo truyền càng nhiều bao nhiêu thì
tính phức tạp và nguy hiểm của bệnh bấy nhiêu.
+Khi động vật tiết túc hút máu đã bị cảm nhiễm căn bệnh có thể truyền bệnh
cho con người và động vật, khi đó người và động vật trở thành một khâu trong sự tuần hoàn
của bệnh
-Nguyên nhân người và gia súc mắc bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên.
Người và gia súc có thể mắc bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên do 3 nguyên nhân sau
+Động vật môi giới rời khỏi nguồn dịch thiên nhiên mà nó cư trú xâm nhập
vào người và gia súc mà chúng gặp để hút máu nuôi dưỡng chúng và truyền bệnh.
+Những động vật tàng trứ căn bệnh ở thể ẩn, có tác dụng truyền bệnh bị động,
vì vậy khi người và gia súc tiếp xúc với xác chết của nó thì mắc bệnh.
+Bản thân người và gia súc trực tiếp iếp xúc với nguồn bệnh
2.9.3.Nguyên tắc phònh trừ dịch bệnh có nguồn gó nguồn dịch thiên nhiên
-Khi cư trú có tính chất tạm thời
Như người đi qua chốc lát, hành quân, tìm khoáng chất cần mặc áo quàn kín , xoa dầu vào
mặt tay chân tránh côn trùng căn.
-Cư trú có tính chất lâu dài
Ngời những biện pháp như cư trú tạm thời, cần phải tiến hành phòng trừ công cộngnhư: phun
thuốc diệt ve muổi, phát quang bụi bờ, đốt rác,làm vệ sinh môi trường
2.9.4. Ý nghĩa của học thuyết
-Học thuyết này đã làm sáng tỏ khả năng truyền bệnh của các bệnh có tính chất nguồn
dịch thiên nhiên
-Học thuyết này cũng giải quyết được về mặt cơ sở lý luận về nguồn gôc bệnh tật của
con người và gia súc, tránh được những mê tín về bệnh tật
- Vạch ra phương hướng nghiên cứ bệnh tật của con người và gia súc ở những vùng
hoang sơ. Trên cơ sở đó phải tiến hành điều tra nguồn dịch thiên nhiên nơi đó mà cụ thể là:

Bệnh chung cho người và động vật:
-Bênh giun bao- Trichinellá spiralis
-Bệnh sán dây -Diphyllobothrium
*Trong thiên nhiên luôn luôn có ba thành viên cùng tồn tại, kế tiếp nhau từ đời này
sang đời khác.
Căn bệnh + Vật deo truyền + Động vật hoang dã
* Vật gieo truyền bị cảm nhiễm có thể gây bệnh cho người và gia súc.
Lúc này con người tham gia vào vòng tuần hoàn của mầm bệnh. Trong điều kiện nhất định
có tính chất nguồn dịch thiên nhiên có thể trở thành bệnh tật cho xã hội và có thể hoành hành
khắp từ thành thị đến nông thôn
* Đặc tính của bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên
- Bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên không hề có dấu vết vhân của con người
-Sự tuần hoàn của mầm bệnh tồn tại tiến hành liên tiếp trong nhóm sinh vật tồn tại lâu
đời trong lịch sử của giới sinh vật.
-Nhóm ký chủ và động vâth gieo truyền càng nhiều và phong phú thì bệnh lạ càng
phức tạp và muôn hình muôn vẻ.
-sau khi động vật tiết túc hút máu đã bị cảm nhiễm căn bệnh có thể truyền cho người
và gia súc, khi đó người và gia súc trở thành một khâu trong sự tuần hoàn của cơ thể căn
bệnh.
*Nguyên nhân người mắc bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên
Có ba nguyên nhân chính sau
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
48
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Động vật môi giới rời khỏi nguồn dịch thiên nhiên mà nó cư trú và xâm nhập vào
con người và gia súc mà chúng gặp để hút chất dinh dưỡng.
Ví dụ: Leishmelia do muổi hút máu chuột, nhím và nó bay xa trên 1,5km rồi truyền mầm
bệnh cho con người và vật nuôi.
-Ngững động vật tàng trử mầm bệnh thể ẩn tính có thể truyền bệnh thể bị động: Một
khi người và gia súc tiếp xúc với chúng hoặc xác chết sẻ bị lây bệnh.

học trò xuất sắc của L.Pasteur đã có nhiều cống hiến cho công việc này.
Cách mạng tháng tám thành công, ngay từ ngững ngày đầu và suốt những năm kháng chiến
chống Pháp, Đảng và nhà nước đã có chủ trương nghiên cứu tình hình nguồn bệnh thiên
nhiên. Kết quả đó đã góp phần không nhỏ phòng bệnh tâth cho bộ đội và nhân dân tham gia
kháng chiến.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, công việc tiến hành điều tra nguồn bệnh có nguồn
dịch thiên nhiên ở rừng Trường sơn là một trong những công việc không thể thiếu được.
Nhiều đoàn cán bộ đã anh dũng hy sinh cho mặt trận chống lại bệnh tật này. Một tấm gương
đó là anh hùng, G.S bác sỹ Đặng văn Ngữ đã có nhiều cống hiến điều tra tình hình bệnh sốt
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
49
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
rét. Góp một phần không nhỏ giảm bớt thương vong cho bộ đội ở rừng Trường Sơn vì bệnh
sốt rét.
Ngày nay, công cuộc khai hóa những vùng đất lạ, tìm tài nguyên khoáng sản ở rừng sâu, thì
việc ứng dụng học thuyết của E.H. Pavlopski lại càng có ý nghĩa to lớn.

3. Bệnh nội ngoại khoa- Bệnh không lây truyền

Trong nhóm bệnh này bao gồm các bệnh nội khoa và bệnh ngoại khoa
3.1. Bệnh nội khoa
Là một lỉnh vực khoa học thú y nghiên cứu nguyên nhân, quá trình phát triển và biện pháp
phòng trừ các bệnh nội khoa không lây truyền. Bệnh nội khoa không lây là những bệnh do
các yếu tố cỏ học, vật lý hóa học tác động lên cơ thể dẫn tới rối loạn hoạt động mô bào tổ
chức và cơ quan hệ thống.
Nội dung chủ yếu gồm các vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ những nguyên nhân rối loạn quá trình trao đổi chất xẩy ra trong cơ thể.
Các bệnh phát sinh do qua trình rối loạn các cơ quan hệ thống, như: bệnh không lây ở bộ
máy tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, nội tiết thần kinh, bệnh rối loạn quá trình trao đổi chất của
prtein, lipid, gluxit, nước, muối khoáng và vitamin

(Pharadization) với cường độ dòng điện cao hơn 25-50mA. Tác dụng của dòng điện kích
thích hưng phấn thần kinh vận động và thần kinh cảm giác.
Như điều trị bằng phương pháp cơ học - Xoa bóp- massage làm tăng tuần hoàn lympha và
tuần hoàn máu, ổn định thần kinh, cơ Tùy từng vị trí và cơ quan xuất hiện bệnh mà tiến
hành xoa bóp có kết quả.
Ngày nay, với những tiến bộ của các ngành khoa học đã sáng chế ra nhiều thiết bị y tế, thú y
để điều trị và phòng bệnh nội khoa có kết quả như tia xạ, hóa học trị liệu, rengen trị liệu, máy
xoa bóp
3.3. Bệnh ngoại khoa
Là nhóm bệnh mà can thiệp bằng phẩu thuật- liên quan đến mổ xẻ. Ngày nay, với những tiến
bộ khoa học phát triển đặc biệt là kháng sinh được sử dụng rộng rãi thì lỉnh vực ngoại khoa
càng phát triển giúp cho ngành chăn nuôi phát triển không ngừng. Nhiệm vụ của lỉnh vực này
là phòng các bệnh do chần thương điều trị các bệnh như thoát vị, apxe, khối u, gảy xương,
thiến hoạn gia súc
Ngoại khoa được chia ra hai phần chính: Ngoại khoa đại cương, ngoại khoa chuyên khoa.
Nhiệm vụ của ngoại khoa cần làm sáng tỏ các vấn đề sau:
-Các nguyên nhân cơ bản từ bên trong và bên ngoài dẫn tới các bệnh cần đến phẩu
thuật
-Cơ chế phát sinh các bệnh đó
-Triệu chứng lâm sàng và quá trình tiến triển của bệnh
-Phương pháp chẩn đoán bệnh
-Tiên lượng tiến triển của bệnh để có phác đồ điều trị
-Nguyên tắc điều trị và biện pháp chóng nhiễm trùng
-Quan tâm chế độ dinh dưỡng và chế độ lao tác của con vật
Nói tóm lại phần ngoại khoa đại cương là thực hiện các biện pháp phòng trị các hiện tượng
tổn thương và vết thương.
Tổn thương -là các yếu tố tác động bên trong bên ngoài gây nên các tổn thương cho mô bào
tổ chức, cơ quan nội tạng. Bao gồm các tổn thương như: Tổn thương trong nông nghiệp (điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng chuồng trại không đảm bảo), tổn thương do lao tác ( các tổn
thương xẩy ra trong quá trình lao tác của vật nuôi, như bò cày kéo, đẻ khó ),tổn thương do

điịnh được nồng độ chính xác, vì ta cũng chỉ tính thể thích nước tương đối trong đầm ao
nuôi.
-Dùng thuốc với nồng độ tiêu diệt lại không hiệu quả mà lại kích thích tác nhân bệnh
phát triển, nếu dùng liều cao ở mức tiêu diệt thì ảnh hưởng tới những cá thể khỏe mạnh.
-Dùng thuốc trong trị bệnh cho động vật thủy sản là đưa vào môi trường nước, có thể
thông qua thức ăn, hoặc phun vào ao, nên hiệu quả sử dụng thấp
-Việc dùng thuốc trị bệnh trong nuôi tròng thủy sản là tốn kém mà không đem lại
hiệu quả, nên việc phòng bệnh là cơ bản.
Do vậy, muốn phòng bệnh tốt trong nuôi tròng thủy sản cần nắm được các qui luật sinh học
vốn có của từng loài thủy sản, như qui luật hoạt động về kết đàn, thời kỳ thành thục sinh dục
đẻ trứng, vổ béo, di cư tìm mồi, phản ứng của chúng đối với màu nước.
Một đặc điểm riêng biệt đối với động vật thủy sản là sống trong nước nên quá trình hô hấp
khác đối với động vật trên cạn. Đối với chúng, quá trình lấy oxy là oxy thể hòa tan trong
nước, tức là từ thể lỏng vào máu, khác với động vật trên cạn, lấy oxy từ không khí vào, tức là
từ thể khí vào thể lỏng. Chính vì vậy, môi trường nước nuôi chúng phải đảm bảo một số qui
định khắt khe, nhất là nồng độ oxy hòa tan trong nước.
Để tiện nghiên cứu và theo dõi phòng trị, các bệnh ở động vật thủy sản cũng được chia ra
một số nhóm bệnh sau:
-Bệnh do sinh vật kí sinh: bệnh do thực vật kí sinh: virut, vi khuẩn, nấm tảo, đơn bào-
hay gọi là bệnh truyền nhiễm.
-Bệnh do động vật kí sinh: nguyên sinh động vật, giun sán, đỉa cá, nhuyễn thể, giáp
xã hay gọi là bệnh kí sinh trùng.
-Bệnh do sinh vật phi kí sinh (bệnh do sinh vật hại cá): Các loài sinh vật này không kí
sinh ở tôm cá nhưng gây cho tôm cá chết. Thường do các loại tảo độc, thực vật động vật hại
tôm cá. Ví dụ: bọ gạo, bon Cyclops dùng chủy nhọn đâm vở trứng hoặc chích chết tôm cá.
-Bệnh do các yếu tố vô sinh: bệnh do dinh dưỡng ( do thiếu thừa các chất dinh dưỡng
cung cấp cho tôm cá), bệnh do yếu tố môi trường ( do các yếu tố cơ học, hóa học, vật lý học,
môi trường ao nuôi như: pH, DO, BOD,CHOD, NH
3
, NH

, NaOCL, CuSO
4,
vôi,Xanh methylen, Formalin, cây thực
vật như: lá xoan, tỏi, cât thuốc cá. Các chế phẩm sinh học
Một số bệnh thường gặp ở tôm cá
Bệnh xuất huyết do virut ở cá chép
Đây là một bệnh khá phổ biến ở cá chép tự nhiên và cá nuôi trong ao hồ. Bệnh gây thiệt hại
kinh tế cho ngành nuôi các nước ngọt đáng kể. Bệnh có nhiều tên gọi khác nhau: Bệnh phù ở
cá chép, bệnh đốm đỏ cá chép, Bệnh virut mùa xuân cá chép.
Tác nhân gây bệnh:
Có nhiều tác giả có các ý kiến khác nhau, nhưng cuối cùng đề thống nhất một số quan điểm
như sau:
- Do virut có cấu tạo là ARN (Roy và ctv)
- Do một số loài nấm
-Do vi khuẩn gây xuất huyết
-Do ảnh hưởng của môi trường,. Trong môi trường nước lắng động một số oxuyt kim
loại , chúng gây cản trở cho hô hấp ở mang cá.
Các yếu tố gây bệnh trên tác động qua lại ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sống của cá-
nên người ta còn gọi là hội chứng đốm đỏ lở loét.
Dịch tể học:
Bệnh gặp ở nhiều đối tượng cá nước ngọt, như cá trắm, mè rôphi, chép, nhưng mắc bệnh
nặng nhất vẫn là cá chép và trắm.
Bệnh xẩy rảơ nhiều nước và châu luc khác nhau. Hay nói cách khác nơi nào có điều kiện
nuôi nước ngọt thì đều có bệnh xuất hiện.
Ở nước ta bệnh xẩy ra quanh năm, là một trong những trở ngại lớn cho nghề nuôi trồng nước
ngọt.
-Dấu hiệu bệnh lý:
Cá ngạt thở bơi ở tầng mắt , cá chết chìm ở tầng đáy.
Dấu hiệu bên ngoài: mang và da xuất huyết có thể xuất huyết nhiều điểm.
Da có màu tối những chổ xuất huyết có viêm có nhiều chất nhầy, các tơ mang kết lại.

Bệnhnày cảm nhiễm nặng nhất là vào giai đoạn tôm giống.
Bệnh nặng tôm bơi lờ đờ trôi dạt vào bờ và chết hàng loạt.
Chẩn đoán:
Dựa vào tính chất dịch tể, dấu hiệu bệnhlý của tôm. Song phát hiện bệnh này ngày nay có
nhiều phương pháp:
- Nhuộm tiêu bản để tìm thể ẩn của virut
-Phương pháp chẩn đoán PCR
Phương pháp phòng và trị:
Bằng phương pháp chẩn đoán PCR, cần kiểm tra chất lượng đàn giống, nguồn gốc xuất xứ.
Hủy đàn tôm giống khi phát hiện có mầm bệnh. Các dụng cụ phục vụ nuôi tôm cần vệ sinh
tẩy uế.
Hiện nay phương pháp trị bệnh vẫn chưa có kết quả.

BỆNH NẤM THÙY MY

Nấm thùy my thường xuyên có trong môi trường nước, nhất là trong ao tù nước bẩn, nhiều
chất hửu cơ mục nát.
Bệnh thường phát sinh trong hoàn cảnh đặc biệt:
-Cá bị thương xây xát
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
54
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Bị các bệnh như kí sinh trùng mỏ neo, rận cá
-Nuôi với mật độ quá dày.
-Điều kiện môi trường nước không thuận lợi cho việc sinh trưởng của cá.
Ở nước ta bệnh nấm thùy my khá phổ biến, và có ở nhiều vùng nuôi cá nước ngọt ở nước ta
như: Hà Đông, Hà nội, Cao Bằng Lạng Sơn Bệnh thường ở cá rô phi trong mùa đông, cá
trắm cỏ, cá chép khi gặp thời tiết lạnh. Thiệt hại do bệnh gây ra vô cùng to lớn đối với ngề
nuôi cá nước ngọt.
Nấm thùy my có nhiều tên gọi khác nhau, có nơi gọi là nấm nước, hoặc mốc da Nấm thùy

những biện phpá kịp thời để ngăn chặn những thiệt hại đáng tiếc xẩy ra.
Sâu đây là những căn cứ cơ bản giúp cho cán bộ khuyến nông và những người cần quan tâm
đến chất lượng tôm nuôi:
1.Căn cứ vào trạng thái hoạt động của tôm:
Nếu phiêu sinh vật phát triển tốt, chất lượng nước tốt và tôm ở trong điều kiện tốt, thì kể từ
tuần lể nuôi thứ 3 sẻ ít nhìn thấy tôm.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
55
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Khi tôm bị sốc do môi trường xấu thì tôm nổi lên trên, hoặc tôm bị bệnh bất kỳ nào đó thì
chúng cũng nổi lên trên và tập trung vào ven bờ.
Vì vậy cần phát hiện trạng thái bơi nổi dạt của tôm. Điều quan trọng cần kiểm tra hàm lượng
oxy hòa tan.
Khi thấy tôm tập trung ven bờ và chết thì cần kiểm tra đáy ao, vét tôm chết để biết được tỷ lệ
tôm chết.
2. Căn cứ vào màu sắc của tôm:
Màu sắc của tôm liên quan đến môi trường sống của chúng. Ở những ao có mức nước cạn
màu của tôm có màu sẩm hơn tôm nơi ao sâu. Sự thay đổi màu sắc có dấu hiệu về bệnh lý
của tôm.
Tôm bị sốc có màu đỏ, nhất là bộ phận chân và đuôi. Nguyên nhân gây màu đỏ đó là do sự
phóng thích của caroten.
Tôm còi chậm lớn có một vệt đỏ dọc theo thân.
3.Căn cứu vào độ bẩn của tôm
Một trong những dấu hiệu không bình thường đó là hiện tượng tôm bị đống rong. Lượng
rong đống nhiều hay ít nói lên tình trạng sức khỏe của tôm. Tôm khỏe thì rong không đống,
vì bản thân chúng có quá trình tự làm sạch. Tôm khỏe khi lột xác thì toàn bộ phần dơ bẩn bị
đào thải và trở lại bình thường. Nhưng một khi môi trường ao bẩn thì kìm hảm quá trình lột
xác của tôm. Những chất bẩn không trong ao nuôi không những có hại cho sức khỏe của tôm
mà là điều kiện để mầm bệnh phát sinh.
4.Căn cứ vào màu sắc của mang tôm

Cyanophyta, Pyrrophyta, Chrysophyta phát triển quá mạnh, khi tảo chết có nhiều chất độc
gây hại cho tôm cá trong ao.
Tảo chết làm cho chỉ số pH trong ao tăng 9,5-11. Tảo chết sinh nhiều khí độc CO
2.
Trong ao nuôi nước lợ thấy độ trong của nước giảm xuống còn 15cm, cần cảnh giác tảo sẻ
phát triển tới đỉnh cao. Hiện tượng này nước trong ao sẻ có màu hơi đỏ hoặc màu tro.
Trong những trường hợp này thì:
-Tôm cá nổi đầu cao nhất vào sáng sớm ( cần phân biệt nổi đầu bình thường vào sáng
sớm vào khoảng 7-8 giờ thì kết thúc).
-Hàm lượng oxy hòa tan trơng nước ao nuôi giảm mạnh, tôm bơi quanh bờ ở tầng
mặt.
-Hiện tượng tôm bơi thành đàn ban ngày sát đáy là hiện tượng tôm thiếu thức ăn trầm
trọng.
- Khi tôm cá nổi đầu nghiêm trọng do nước " nở hoa" cần bơm thêm nước mới vào
ao. Có điều kiện sục khí, nhất là các ao nuôi tôm.
Hiện tượng sốc (stress) do nhiệt
Nhiệt độ ao nuôi quá thấp hay quá cao đều bất lợi cho đời sống tôm cá. Khi nhiệt độ vượt
quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng đến đời sống và có thể tôm cá chết hàng loạt.
Về mùa Đông nhiệt độ xuống 13
0
- 14
0
C, kéo dài gây chết tôm và cá.
Mùa Hè nhiệt độ tầng nước mặt lên tới 37-40
0
C, nhất là ao hẹp, nước nong dưới 1m, thì nhiệt
độ nước tầng đáy bằng nhiệt độ nước tầng trên. Tất cả đều làm cho tôm cá giảm bắt mồi, tăng
trưởng chậm, tỷ lệ hao hụt nhiều.
Ví dụ: Tôm sú sông trong nhiệt độ nước ao nuôi là 35
0

57
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Hàm lượng khí trong ao nuôi thích hợp là:
CHẤT KHÍ HÀM LƯỢNG THÍCH HỢP
N-NO
2
H
2
S
N-NH
3
< 0,25MG/L
0,002MG/L
0,02MG/L

Trời mưa các vùng đất chua phèn,nước mưa làm trôi độ chua của đất xuống ao. Kết quả độ
pH của ao hạ thấp, có thể gây chết cá, tôm.
Ở các ao nuôi cá nước lợ cần đề phòng lúc trời mưa. Nước ngọt nổi trên bề mặt ao tạo thành
lớp ngăn cách oxy hòa tan vào trong nước ở tầng dưới làm cho tôm cá bị thiếu oxy. Trong
trường hợp này cần quấy đảo ao để nước ngọt trộn đều trong ao.
Tóm lại,như chúng ta đã hiểu tôm cá sống dưới nước, việc chẩn đoán điều trị bệnh gặp vô
cùng khó khăn. Khi phát hiện được bệnh thì thực hiện biện pháp phòng, còn điều trị bệnh
không đơn giản.
Mặt khác môi trường nước là môi trường truyền bệnh khá nhanh. Trong thực tế dịch bệnh đã
gây nhiều thiệt hại về kinh tế thậm chí còn gây nguy hiểm cho con người. Vì vậy, trong bệnh
thủy sản cần quán triệt phương châm "phòng bệnh là chủ yếu, trị bệnh là quan trọng".
Phòng bệnh:
* Nguyên tác chung
-Luôn luôn tạo điều kiện tốt môi trường nước cho tôm cá như cho ăn đầy đủ chúng
lớn nhanh có sức đề kháng bệnh tật tốt.

-Đo các chỉ số môi trường nước ao nuôi như: DO. NH
3
, H
2
S, độ trong, CO
2
-Đối với ngoại KST thì dùng thuốc tắm và theo dõi sức chịu đựng của tôm cá.
-Với biện tích ao nuôi nhỏ thì có thể dùng biện pháp rắc thuốc
-Với bệnh KST, vi khuẩn thì tốt nhất là trộn thuốc vào thức ăn theo liều qui định
-Khi tôm cá bị bệnh việc chửa trị bằng thuốc là cần thiết nhưng phải hết sức chú ý là
giử cho môi trường nước sạch.

Tài liệu tham khảo:

1. Thomas Carlyle Jones, (1983), Veterinary pathology
2.Daniel. K. Kusewitt, (2001) Veterinary pathology, volume 38, p.20-23
3.Vũ Công Hòe, (2002), Giải phẩu bệnh học, NXB yhọc, Hà Nội
4.Sử An Ninh, (2004) Tồn dư kháng sinh và sức khỏe cộng đồng. Khoa học kỷ thuật thú y, 2.
74-82
D.Herenda, (1994) Cẩm nang kiểm tra thịt tại lò mổ.
BộNN& PTNT, (2003), Công tác vệ sinh thú y, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
5.Phạm Văn Tý, 2001), Miễn dịch học, NXB Hà nội
6.Nguyễn Chính, (1993), Kỷ thuật sản xuất tôm giống và cá nước lợ.
7.Cao Xuân Ngọc, (1997), Giải phẩu bệnh đại cương. NXB, nông nghiệp.
8.Lê Thanh Hòa (2004), nguyên lý ứng dụng RT-PCR; PCR, và dồng hóa sản phẩmNguyễn
Vỉnh Phước (chủ biên), Nguyễn Văn Hanh, Đặng Thế Huynh, !1978), Giáo trình bẹnh truyền
nhiễm gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
9.Phạm Hồng Sơn (chủ biên), Phan Văn Chinh, Nguyễn Thị Thanh, Phạm Quang Trung,
(2002), Giáo trình vi sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
10. Phạm Hồng Sơn, (2006), Giáo trình vi sinh vật (phần đại cương), NXB Nông nghiệp, Hà

2.5. Các loại kí chủ và nơi kí sinh của kst 43
2.6. Biện pháp phòng ngừa tổng hợp đối với bệnh kst 43
2.7. Phân loại bệnh kí sinh trùng 44
2.8. Phương pháp chẩn đoán bệnh ký sinh trùng 44
2.9. Học thuyết nguồn dịch thiên nhiên của viện sỹ E.H.Pavlopski 46
3. Bệnh nội ngoại khoa- Bệnh không lây truyền 50
3.1. Bệnh nội khoa 50
3.3. Bệnh ngoại khoa 51
3.4. Nhóm bệnh về sản khoa: 51
3.5. Một số nét về bệnh thủy sản 51
3.5.1. Biện pháp phòng trừ bệnh thủy sản 52
Tài liệu tham khảo: 59

Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
60


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status