phân tích tác động của đòn bẩy lên hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần - Pdf 13

MỤC LỤC
1
Lời mở đầu
Ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cũng
phải đối mặt với nguy cơ từ môi trường kinh doanh, và những trở ngại trong nội tại của
doanh nghiệp trong việc hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu. Một trong
những trở ngại đó chính là rủi ro.
Rủi ro có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực, nhưng mặt tiêu cực thường được
quan tâm hơn. Trong doanh nghiệp thường có hai loại rủi ro: rủi ro kinh doanh và rủi ro
tài chính. Đi cùng với 2 loại rủi ro có 2 kiểu đòn bẩy là đòn bẩy hoạt bẩy động và đòn tài
chính.
Thuật ngữ “đòn bẩy” trong tài chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để gia
tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là con dao
hai lưỡi. Nếu hoạt động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại cái tốt lên gấp bội
lần. Ngược lại, nếu hoạt động doanh nghiệp xấu thì đòn bẩy cũng khuếch đại cái xấu lên
bội lần.
Vấn đề đang quan tâm và cần xác định hiện nay là phân tích đòn bẩy hoạt động,
đòn bẩy tài chính ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận và rủi ro, nên thay đổi tác động
của chúng ra sao, để công ty kiểm soát được rủi ro tổng thể mà vẫn sử dụng chúng như
công cụ tích cực để đạt được lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần mong muốn, đưa ra
những quyết định phù hợp liên quan nguồn vốn.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đòn bẩy trong hoạt động kinh doanh nên
em đã chọn đề tài: “PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY LÊN
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN”
Nội dung của đề tài gồm 3 phần:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY LÊN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN.
CHƯƠNG III: LIÊN HỆ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỒN BẨY LÊN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƯ A&D
Với thời gian nghiên cứu và lượng kiến thức tích luỹ còn có hạn, mặc dù đã có

chi phí có liên quan đến những máy móc thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, chi phí quản
lý, chi phí lương văn phòng, chi phí khấu hao, thuê tài chính dài hạn, chi phí bảo trì, bảo
hiểm, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo, bồi dưỡng nghiên cứu…
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu
tố khả biến. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm
của chi phí bất biến, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của
yếu tố khả biến. Sự pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất
định.
3
Ở đây chỉ phân tích trong ngắn hạn bởi vì trong dài hạn tất cả chi phí đều có thể
biến đổi. Qua thời gian, một doanh nghiệp có thể thay đổi quy mô các cơ sở vật chất và
số nhân viên điều hành để đáp ứng với các thay đổi trong doanh thu.
Số dư đảm phí (contribution margin) là chêch lệch giữa doanh thu và chi phí khả
biến. Số dư đảm phí được dùng để bù đắp chi phí bất biến, số dôi ra sau khi bù đắp chính
là lợi nhuận. Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và
một đơn vị sản phẩm.
Tỷ lệ số dư đảm phí là tỷ lệ phần trăm của số dư đảm phí tính trên doanh thu. Chỉ
tiêu này có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm, hoặc cho một loại sản phẩm (cũng bằng
một đơn vị sản phẩm)

Khi chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại theo cách ứng xử của chi phí, người
quản lý sẽ lập ra báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí. Đây là một công cụ
được sử dụng rộng rãi làm đơn giản hóa quá trình phân tích để ra quyết định, đặc biệt là
quá trình phân tích đòn bẩy hoạt động, người quản lý sẽ có căn cứ dự đoán các chi phí sẽ
phải ứng xử như thế nào vì các biến động của mức độ hoạt động trong toàn doanh nghiệp.
Gọi Q: sản lượng tiêu thụ, P: giá bán, V: chi phí khả biến đơn vị, F: chi phí bất
biến. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí như sau:
Tổng số Đơn vị
Doanh thu
(-) Chi phí khả biến

2
– PQ
1
Lợi nhuận tăng một lượng là: ∆EBIT = EBIT
2
– EBIT
1
= (P-V)(Q
2
-Q
1
)
PQQ
P
VP
EBIT )(
)(
12


=∆
4
Số dư đảm phí
Doanh thu
x 100%
Tỷ lệ số dư đảm phí =
Giá bán – biến phí đơn vị
Giá bán
Tỷ lệ số dư đảm phí =
x 100%

DOL theo cách khác:
Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ – VQ – F = Q(P-V) – F
Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên:
∆EBIT = ∆Q(P-V). Thay vào công thức (1) ta được:
5
Độ bẩy hoạt động (DOL)
ở mức sản lượng Q
(doanh thu S)
Phần trăm thay đổi
lợi nhuận hoạt động
Phần trăm thay đổi
sản lượng (hoặc doanh thu)
=
FQVP
VPQ
DOL
FQVP
VPQ
Q
Q
x
FVPQ
VPQ
Q
Q
FVPQ
VPQ
DOL
Q
Q

S
+
=
−−

=
S: doanh thu, V: tổng chi phí khả biến
Giả định có hai công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một lượng
doanh thu như nhau, thì những công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, lợi nhuận tăng lên
càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy hoạt động sẽ lớn hơn. Điều
này cho thấy những công ty mà tỷ trọng chi phí bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số dư
đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm với sự thay đổi
doanh thu, sản lượng bán.
1.2.Ý nghĩa và tác dụng của đòn bẩy hoạt động
Sau khi nghiên cứu về đòn bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câu hỏi: Hiểu biết về đòn
bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nào đối với giám đốc tài chính? Là giám đốc tài
chính, bạn cần biết trước xem ở một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ ảnh
hưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động. Độ bẩy hoạt động chính là công cụ giúp bạn trả
lời câu hỏi này. Khi doanh thu tăng hay giảm X % thì EBIT có chiều hướng tăng hay
giảm X %×DOL. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến động nhỏ trên
doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận.
Đôi khi biết trước độ bẩy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết
định chính sách doanh thu và chi phí của mình. Nhưng nhìn chung, công ty không thích
hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vì trong tình huống như vậy chỉ cần
một sự sụt giảm nhỏ của doanh thu cũng dễ dẫn đến sụt giảm lớn lợi nhuận.
Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và doanh số
ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc hiện đại, độ bẩy
hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận.
Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT. Tuy
nhiên sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần.

lợi nhuận cố định nên các cổ đông không phải chia sẻ lợi nhuận của họ nếu công ty rất
thành công, có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận cho cổ đông.
Cổ phiếu ưu đãi không được khấu trừ thuế khi tính thu nhập chịu thuế làm cho chi phí sử
dụng vốn cổ phần ưu đãi cao hơn chi phí sử dụng nợ, vì thế công ty thích sử dụng đòn
bẩy tài chính bằng nợ hơn cổ phiếu ưu đãi.
2.1.Độ bẩy tài chính (DFL)
Độ bẩy tài chính (degree of financial leverage – DFL) là một chỉ tiêu định lượng
dùng để đo lường mức độ biến động của EPS khi EBIT thay đổi. Độ bẩy tài chính ở một
mức độ EBIT nào đó được xác định như là phần trăm thay đổi của EPS khi EBIT thay
đổi 1 phần trăm.
7
Độ bẩy tài chính (DFL)
ở mức EBIT
Phần trăm thay đổi EPS
Phần trăm thay đổi EBIT
=
[ ]
)1/( tPDIEBIT
EBIT
DFL
EBIT
−−−
=⇔

Độ bẩy tài chính là công cụ để biết trước xem ở một mức định phí tài trợ nào đó, sự
thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận trên mỗi cổ
phần. Khi EBIT tăng hay giảm X % thì EPS có chiều hướng tăng hay giảm X %×DFL.
Nếu doanh nghiệp có độ bẩy tài chính cao, chỉ có biến động nhỏ của EBIT sẽ gây ảnh
hưởng lớn đến EPS.
EPS được xác định theo công thức sau:

NS
PDtIEBIT
EPS
−−−
=
)1)((
 Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thể hiện qua việc so
sánh giữa tỷ suất doanh lợi chung và lãi suất vay nợ. Sự chênh lệch giữa tỷ lệ lợi nhuận
đạt được và chi phí sử dụng vốn vay giúp doanh nghiệp biết được khả năng chi trả lãi vay
để có thể đưa ra quyết định tài trợ từ nợ vay hợp lý, quyết định này tác động lên tỷ suất
lợi nhuận trên vốn cổ phần như thế nào? Đây là vấn đề rất được cổ đông quan tâm.
Gọi NV: nợ vay, i: lãi suất vay, VCP: vốn cổ phần, TS: tổng tài sản (bằng vốn cổ
phần và nợ vay).
Công ty đầu tư tổng tài sản bằng vốn cổ phần thì toàn bộ lợi nhuận hoạt động sẽ
thuộc về cổ đông. Nếu đầu tư tổng tài sản bằng cả vốn cổ phần lẫn vốn vay thì lợi nhuận
hoạt động sẽ trừ đi chi phí lãi vay trước khi cổ đông nhận được lợi nhuận của mình.
Khi tỷ suất sinh lợi chung lớn hơn lãi suất cho vay:
i
TS
EBIT
VCP
iNVEBIT
TS
VCPEBIT
iNVEBIT
iNV
TS
VCPTSEBIT
i
TS



<−⇒
<−


<
.
.
.
0.
)(
=> Kết luận: đòn cân nợ có tiềm năng làm tăng tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần
nhưng đồng thời cũng đem lại cho vốn cổ phần một nguy cơ rất lớn: nếu tỷ suất doanh lợi
chung cao hơn lãi suất vay nợ, thì tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần sẽ trở nên cao hơn.
Trái lại, nếu tỷ suất doanh lợi chung thấp hơn lãi suất vay nợ, tỷ suất doanh lợi trên vốn
cổ phần sẽ trở nên thấp hơn cả chi phí trả lãi vay.
2.2.2.Phân tích mối quan hệ EBIT (Earnings before interest and taxs) – EPS
(Earnings per share)
Phân tích mối quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những phương
án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần. Từ sự phân tích này, chúng ta sẽ tìm
ra một điểm bàng quan (indifferent point). Dù phối hợp các phương án tài trợ thế nào thì
công ty cũng kỳ vọng EPS cao, tuy nhiên tại EBIT bàng quan thì phương án tài trợ nào
cũng đều mang lại EPS như nhau.
9
Dựa vào công thức trên đây, chúng ta có thể xác định điểm bàng quan bằng một
trong hai phương pháp: phương pháp đại số và phương pháp hình học.
Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp đại số
Áp dụng công thức tính EPS theo EBIT cho mỗi phuơng án, sau đó thiết lập
phương trình cân bằng như sau:

Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp hình học
Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS để có thể tìm ra được điểm
bàng quan, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ
phương án nào cũng mang lại EPS như nhau. Để làm điều này, chúng ta xây dựng đồ thị
xác định điểm bàng quan theo ba phương án như hình vẽ sau:

Đối với mỗi phương án, lần lượt vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EPS với tất
cả các điểm của EBIT. Tìm điểm thứ nhất bằng cách lần lượt cho EPS = 0 để tìm ra EBIT
tương ứng. Điểm thứ hai, cho EBIT bất kỳ để tìm ra EPS tương ứng. Mỗi phương án đều
xác định được hai điểm, nối hai điểm đó lại sẽ tạo thành đường thẳng phản ánh quan hệ
giữa EBIT và EPS của phương án đó.
Ý nghĩa điểm bàng quan
Từ phương pháp hình học cũng như phương pháp đại số, chúng ta tìm thấy điểm
bàng quan giữa hai phương án tài trợ bằng nợ và cổ phiếu thường là X. Điều này có nghĩa
là nếu EBIT thấp hơn điểm bàng quan X thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo
10
EPS
EBIT
Nợ
CP thường
Điểm bàng quan
EPS
ra được EPS cao hơn phương án tài trợ bằng nợ, nhưng nếu EBIT vượt qua X thì phương
án tài trợ bằng nợ mang lại EPS cao hơn phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường.
Sau khi phân tích quan hệ EBIT – EPS. Các công ty có thể lựa chọn tài trợ hoạt
động kinh doanh của mình hoặc bằng nợ vay, cổ phần ưu đãi hay vốn cổ phần để tận
dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính. Nếu như thế, các công ty phải được tài trợ hoặc
là toàn bộ nợ vay, cổ phiếu ưu đãi hay toàn bộ vốn cổ phần. Nhưng nếu giải pháp tốt nhất
là kết hợp tất cả các phương án tài trợ, vậy tỷ lệ mỗi loại là bao nhiêu là tốt nhất? Chúng
ta sẽ thảo luận các khía cạnh chủ yếu của nợ vay so với vốn cổ phần hay cơ cấu vốn (chỉ

A
∆EPS
B
∆EBIT
Độ bẩy tổng hợp của công ty ở mức sản lượng (hoặc doanh thu) nào đó bằng phần
trăm thay đổi của EPS trên phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu).
Về mặt tính toán, độ bẩy tổng hợp (DTL) chính là tích số của độ bẩy hoạt động với
độ bẩy tài chính:
DTL
Q đơn vị hoặc S đồng
= DOL × DFL
Thay vào công thức tính DOL, DFL ta có được:
[ ]
)1/( tPDIEBIT
VS
DTL
S
−−−

=
(V: tổng biến phí)
CHƯƠNG III: LIÊN HỆ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỒN BẨY LÊN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƯ A&D
Sau đây chúng ta cùng xem xét tác động của đòn bẩy trong tài chính tác động như
thế nào lên hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp trong 2 quý I và II.
1. Phân tích đòn bẩy hoạt động
Để đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động, trước tiên chúng ta xem đòn bẩy hoạt
động ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động khi doanh thu thay đổi như thế nào.
Bảng ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động lên lợi nhuận
Đvt: ngàn đồng

Phần trăm thay đổi EBIT

B. Sau khi doanh thu tăng 30%
Doanh thu
Biến phí
Số dư đảm phí
Định phí
Lợi nhuận hoạt động
33.272.352
28.851.151
4.421.201
1.341.990
3.079.211
46.635.237
40.996.808
5.638.429
1.655.065
3.983.364
Phần trăm thay đổi
lợi nhuận hoạt động
49,5% 48,5%
Chúng ta cũng có thể nhanh chóng biết được phần trăm thay đổi lợi nhuận hoạt
động khi doanh thu thay đổi thông qua khái niệm tỷ lệ số dư đảm phí: nếu doanh thu tăng
một lượng thì lợi nhuận tăng lên một lượng bằng doanh thu tăng lên nhân với tỷ lệ số dư
đảm phí.
Quý 1: lợi nhuận tăng = 30% × 25.594.117 × 13% = 1.020.277 ngàn đồng.
 Tốc độ tăng lợi nhuận = 1.020.277 / 2.058.934 = 49,5%
Quý 2: lợi nhuận tăng = 30% × 35.873.259 × 12% = 1.301.176 ngàn đồng.
 Tốc độ tăng lợi nhuận = 1.301.176 / 2.682.188 = 48,5%
Doanh thu tăng với tốc độ 30% thì biến phí cũng tăng cùng với tốc độ như vậy để

Quý 1: Độ bẩy hoạt động = 3.400.924 / 2.058.934 = 1,65
Quý 2: Độ bẩy hoạt động = 4.337.253 / 2.682.188 = 1,62
Độ bẩy hoạt động cả hai quý đều dương chứng tỏ công ty đã vượt qua sản lượng
hòa vốn. Độ bẩy hoạt động quý 1 bằng 1,65 có nghĩa là từ mức doanh thu 25.594.117
ngàn đồng, cứ 1% thay đổi trong doanh thu đưa đến thay đổi 1,65% trong lợi nhuận hoạt
động theo cùng chiều với thay đổi trong doanh thu. Nói cách khác, một gia tăng 10%
trong doanh thu đưa đến một gia tăng 16,5% trong lợi nhuận hoạt động. Tương tự, một
sụt giảm 10% trong doanh thu đưa đến một sụt giảm 16,5% trong lợi nhuận hoạt động.
Độ bẩy hoạt động quý 2 bằng 1,62 có nghĩa là từ mức doanh thu 35.873.259 ngàn
đồng, cứ 1% thay đổi trong doanh thu đưa đến thay đổi 1,62% trong lợi nhuận hoạt động
theo cùng chiều với thay đổi trong doanh thu, một gia tăng 10% trong doanh thu đưa đến
một gia tăng 16,2% trong lợi nhuận hoạt động và ngược lại.
Sự sụt giảm trong độ bẩy hoạt động từ quý 1 sang quý 2 thể hiện khi doanh thu thay
đổi thì lợi nhuận quý 1 nhạy cảm hơn và rủi ro cũng lớn hơn so với quý 2.
2. Phân tích đòn bẩy tài chính
Độ bẩy tài chính (DFL)
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay để tính sự tác động của đòn bẩy tài chính không chỉ
có lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, những lĩnh vực hoạt động đầu tư khác của
công ty còn tạo ra các khoản doanh thu và chi phí hoạt động tài chính, doanh thu và chi
phí khác. Lợi nhuận hoạt động (để tính độ bẩy hoạt động) sau khi cộng các khoản doanh
thu và trừ chi phí này (không bao gồm chi phí lãi vay) sẽ tạo thành lợi nhuận trước thuế
và lãi vay.
Bảng ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên lợi nhuận
Đvt: ngàn đồng
Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Lãi suất (I)
Lợi nhuận dành cho cổ đông thường
Số lượng cổ phần (NS)
Lợi nhuận trên cổ phần (EPS)

)/ EPS
t-1
30% 34,4%
Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2
Độ bẩy tài chính
1
%30
%30
=
15,1
%30
%4,34
=
Có thể tính độ bẩy tài chính theo cách khác, công thức là:
[ ]
)1/( tPDIEBIT
EBIT
DFL
EBIT
−−−
=
Vì công ty không có huy động vốn bằng cổ phiếu ưu đãi và đang trong thời gian
miễn thuế nên [PD /(1-t)] = 0.
Quý 1:
1
0807.065.2
807.065.2
=

=DFL

1,65
1,00
1,65
1,62
1,15
1,86
Độ bẩy tổng hợp quý 1 bằng 1,65 có nghĩa mỗi thay đổi 1% trong doanh thu từ
mức doanh thu cơ bản là 25.594.117 ngàn đồng sẽ đưa đến một thay đổi 1,65% trong
EPS theo cùng chiều với thay đổi của doanh thu.
Độ bẩy tổng hợp quý 2 bằng 1,86 có nghĩa mỗi thay đổi 1% trong doanh thu từ mức
doanh thu cơ bản 35.873.259 ngàn đồng sẽ đưa đến một thay đổi 1,86% trong EPS theo
cùng chiều với thay đổi của doanh thu. Nói cách khác, một gia tăng 10% trong doanh thu
đưa đến một gia tăng 18,6% trong EPS và ngược lại.
Ở quý 1, độ bẩy tài chính bằng 1 nên công ty chỉ chịu sự tác động của đòn bẩy hoạt
động là 1,65. Sang quý 2, đòn bẩy hoạt động mặc dù có giảm nhẹ nhưng các khoản nợ
vay đã bắt đầu phát huy tính hiệu quả làm độ bẩy tài chính tăng đến 1,15 dẫn đến độ bẩy
tổng hợp cao hơn quý 1, ở mức 1,86. Độ bẩy tổng hợp quý 2 tác động lớn hơn quý 1 làm
EPS biến động nhiều hơn khi doanh thu thay đổi, hay lợi nhuận trên mỗi cổ phần có thể
tăng nhanh hơn và rủi ro cũng lớn hơn khi doanh thu giảm.
Ở quý 2, độ bẩy hoạt động giảm và độ bẩy tài chính tăng là hợp lý để tránh tác
động tổng hợp cùng lúc làm tăng rủi ro tổng thể. Tuy nhiên sự giảm xuống của DOL
không mang tính chủ quan, công ty chỉ quyết định được một phần trong việc đầu tư vào
tài sản cố định. Nhưng đòn bẩy tài chính thì khác, sự gia tăng của DFL là do công ty chủ
động đi vay nợ. Vì vậy hoàn toàn có thể đưa ra giải pháp tài trợ nhu cầu vốn tương lai
hiệu quả, hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận trên vốn cổ phần.
16
KẾT LUẬN
Một công ty đồng thời có tỷ lệ đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính cao thì sẽ rất
rủi ro trong đầu tư khá lớn. Một tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao có nghĩa là doanh nghiệp
đang tạo ra ít doanh thu nhưng có lợi nhuân biên tế trên mỗi đơn vị sản phẩm cao. Điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status