vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
Tiểu Luận Tài chính Tiền tệ
Tiểu luận
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: Vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo
quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Việt Trang
Sinh viên thực hiện:
Lương Đức Thành
Lớp
Tài chính- Ngân hàng K10A
Hải Phòng, tháng 11 năm 2011
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu:
Như chúng ta đã biết lãi suất là một công cụ quan trọng của thị trường tiền
tệ, là biến số luôn gắn liền với nhịp thở của nền kinh tế và nó được chính phủ sử
dụng làm công cụ điều tiết lượng cung ứng tiền tệ. Không những thế, sự thay
đổi của lãi suất có tác động sâu sắc đến các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ
chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế
Vì vậy, lãi suất nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nó
là công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do ngân hàng nhà nước
(NHNN) điều hành. Nó có tác động rất lớn đến việc tăng hoặc giảm lượng tiền
lưu thông, quy mô tín dụng, quy mô huy động vốn, kích thích hay hạn chế đầu
tư và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng. Một chính sách lãi
suất đúng đắn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tuy nhiên nếu
áp đặt chính sách lãi suất không linh hoạt sẽ gây tác dụng xấu tạo nguy cơ dẫn
đến khủng hoảng kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập WTO đã có không ít những

Chương 3 đánh giá và đề suất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống lãi
suất ở Việt Nam.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo Trần Việt Trang đã giúp đỡ
em hoàn thành đề án này. Trong quá trình nghiên cứu vấn đề trên, do trình độ
và khả năng còn hạn hẹp nên bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô để hoàn thành tốt bài tiểu
luận này.
3
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1.1 khái niệm lãi suất
Nền kinh tế xã hội loài người đã trải qua một quá trình phát triển đi lên từ
thấp đến cao và trong quá trình này luôn luôn tồn tại hai trạng thái đối lập nhau
của các chủ thể đó là thừa vốn và thiếu vốn. Ở trình độ thấp khi nền kinh tế
hàng hóa chưa có sự phát triển cao, các chủ thể sẽ tìm cách dung hòa hai trạng
thái này một cách trực tiếp. Khi mức độ phân công lao động xã hội ngày càng
cao, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, xuất hiện trở ngại về không gian và
thời gian khiến cho việc tìm đến nhau của các chủ thể trở nên khó khăn dẫn đến
sự ra đời của các tổ chức tín dụng, những người có nhiệm vụ dung hòa nhu cầu
vốn của các chủ thể
Như vậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà có một bộ phận lớn nguồn vốn trong
nền kinh tế được huy động, tập trung và phân phối từ nơi tạm thời dư thừa sang
nơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.
Công cụ của hoạt động tín dụng là lãi suất. Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa
tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một lượng tiền nhất định để được sở hữu và
sử dụng lượng tiền ấy trong khoảng thời gian đã thoả thuận trước. Như vậy, lãi
suất chính là giá cả trả cho việc sử dụng tiền vốn, gắn liền với hoạt động tín
dụng ngân hàng, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan đến
gửi tiền và vay tiền.
1.2 Phân loại lãi suất
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng : lãi suất tín dụng ngân hàng chia thành ba

- Căn cứ vào giá trị thực của lãi xuất : lãi suất được chia thành hai loại :
+ Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào
thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các quan hệ tín
dụng, trên các phương tiên thông tin đại chúng.
+ Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay
đổi dự tính về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được khái quát thành
phương trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
Vì được điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suất
thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng như chi phí thật
của việc cho vay.
1.3 Vai trò và tác động của lãi suất trong nền kinh tế.
- Lãi suất đối với quá trình huy động vốn :
lãi suất là giá cả trả cho việc sử dụng vốn cho nên nó có tác động trực tiếp
đến quá trình huy động vốn. Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, cụ thể nếu duy trì
một chính sách lãi suất cao có thể huy động lượng vốn lớn. Thực tiễn con
đường phát triển của các nước đi trước đã chứng minh vốn là nhân tố quan
trọng đóng góp vào sự phát triển của một quốc gia. Vì vậy chính sách lãi suất
có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã
hội và các tổ chức kinh tế phải đảm bảo đúng định hướng vốn cho công cuộc
kiến thiết đất nước, đặc biệt nguồn vốn nước ngoài là một bộ phận quan trọng
trong chiến lược CNH-HĐH nước ta hiện nay. Việc áp dụng một chính sách lãi
suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm
bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay. Bởi lẽ trong nền kinh tế luôn
tồn tại một tỷ lệ lạm phát nhất định khiến cho giá trị của tiền tệ giảm theo thời
gian Cụ thể:

Khi lãi suất ở mức “i2” thì sẽ tác động lãi tỷ giá ở mức “tỷ giá 2”
Ta thấy mối quan hệ này là tỷ lệ thuận khi i tăng thì tác động làm tỷ giá tăng
- Lãi suất đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
hoạt động xuất nhập khẩu chịu tác động gián tiếp của lãi suất thông qua tỷ
giá hối đoái. Biểu hiện của sự tác động này là khi lãi suất tăng làm cho tỷ giá
6
i1
i2
Tỷ giá 1 Tỷ giá 2
Tỷ giá
tăng đấy giá cả trong nước cao hơn so với giá cả của hàng hóa nước ngoài, vì
vậy làm giảm xuất khẩu ròng.
Và ngược lại nếu lãi suất giảm sẽ làm cho tỷ giá giảm và làm tăng xuất khẩu
ròng.
Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua đồ thị sau :- Lãi suất với lạm phát.
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm
phát. Nhà kinh tế học Fishes đã chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm
phát, do đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát cụ thể tăng lãi suất,
thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kìm chế
Tuy nhiên, dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó sẽ
làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng trong dài hạn. Do vậy phải kết hợp nó
với các công cụ khác.
- Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực.
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm. Vấn đề là xã hội phải phân bổ
và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả. Nghiên cứu trong nền kinh tế thị
trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ các
nguồn lực giữa các ngành kinh tế. Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả,

của nền kinh tế trong tương lai cũng như gánh nặng về lãi suất đối với các ngân
hàng.
1.4 Các nhân tố tác động đến lãi suất
* Chính sách tiền tệ.
Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến lãi suất trên thị trường. Bên cạnh
việc quy định chính sánh lãi suất cho hoạt động của các ngân hàng thương mại,
Chính sách tiền tệ của chính phủ được ban hành còn nhằm mục đích kiểm soát
lượng cung ứng tiền tệ và kiềm chế lạm phát trong khoảng lạm phát dự tính. Mà
hai chỉ tiêu trên là hai nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi lãi suất thực tế
trên thị trường nên vì vậy cho nên chính sách tiền tệ là yếu tố tác động mạnh mẽ
đến sự thay đổi của lãi suất.
* Ảnh hưởng của sự thay đổi của tổng cầu(GNP).
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối tiền cung ứng( nếu tốc
độ lưu thông tiền tệ không thay đổi) để đảm bảo cung cầu tương ứng. Nếu trong
điều kiện đó, khối lượng cung ứng tiền(M1 hoặc M2) tăng quá cầu thì MV>PQ,
cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư làm cho lãi suất giảm. Ngược lại, khi
GNP giảm thì khối lượng tiền cung ứng thực tế cũng giảm theo, nếu tốc độ lưu
thông tiền tệ không thay đổi mà giảm khối cung ứng tiền tệ xuống quá thấp sẽ
đưa đến tình trạng MV<PQ. Lúc đó, cung vốn đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tư
thì lãi suất sẽ tăng.
* Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng:
Khi chính phủ đưa ra mức lạm phát dự tính của nền kinh tế, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất
danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi
suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng. Mặt khác, khi xuất hiện tỷ lệ lạm phát
nó sẽ tác động trực tiếp vào tâm lý công chúng. Lạm phát tăng sẽ làm cho giá trị
thực của đồng nội tệ giảm. Người dân thay vì cất giữ đồng nội tệ sẽ dành phần
tiết kiệm của mình cho việc dự trữ các loại hàng hoá hoặc những dạng thức phi
tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể.
Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất

2.1 Thực trạng điều chỉnh lãi suất.
2.1.1 Giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010.
* những định hướng của chính phủ giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010.
Sau nhiều năm đổi mới hoạt động và liên tục đổi mới cơ chế điều hành lãi
suất tuy còn nhiều những sự bất hợp lý nhưng về cơ bản chính phủ đã thực hiện
tốt vai trò trong công tác quản lý nền kinh tế. Và trong bối cảnh nền kinh tế
Việt Nam đang hội nhập rất sâu vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn này thì
việc ban hành một chính sách lãi suất hợp lý là điều rất cần thiết. Cụ thể trong
giai đoạn này các mức lãi suất chủ yếu như : lãi suất cơ bản bằng Việt Nam
đồng, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, Lãi suất cho vay qua đêm trong
thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng đều được quy
định một cách cụ thể, trong khi đó lãi suất tiền gửi bằng đô la Mỹ được thực
hiện theo cơ chế thỏa thuận. số liệu cụ thể như sau :
STT Lãi suất Số liệu
1
Lãi suất cơ bản bằng Việt nam đồng 8,0%/năm
2
Lãi suất tái cấp vốn : 8,0%/năm
3
Lãi suất tái chiết khấu 6,0%/năm
4
Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân
hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng
8,0%/năm
5
Lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ theo cơ chế thoả
thuận
* thực trạng điều chỉnh lãi suất giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010.

cho phép, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịch
của các ngân hàng thương mại. Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá
vàng thế giới, có thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới.
+ Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín
dụng tăng dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm
phát. So với cuối năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước
tăng 10,82%, dư nợ tín dụng ước tăng 10,52%.
2.1.2 Giai đoạn sáu tháng cuối năm 2010
* những định hướng của chính phủ giai đoạn sáu tháng cuối năm 2010
Định hướng của chính phủ trong giai đoạn này là điều tiết mặt bằng lãi suất
thị trường theo hướng giảm dần, ổn định các mức lãi suất cơ bản và lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất hoán đổi ngoại tệ; Tăng thêm khối lượng
vốn giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn và lãi suất hợp lý, Tiếp
tục cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng
đối với nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, Phối
hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thúc đẩy các ngân hàng thương mại thực
hiện đồng thuận về lãi suất huy động và cho vay theo hướng giảm, phù hợp với
chỉ đạo của Chính phủ.
Để thực hiện mục tiêu này chính phủ đã có những chính sách cụ thể thông
qua một loại các quy định như quyết định số 1311/QĐ-NHNN ngày 31 tháng
05 năm 2010, số 1565/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 06 năm 2010, số 2281/QĐ-
NHNN ngày 27 tháng 09 năm 2010, số 2281/QĐ-NHNN, số 2561/QĐ-NHNN
ngày 27 tháng 10 năm 2010, số 2619/QĐ-NHNN ngày 05 tháng 11 năm 2010,
số 2868/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2010
Thông qua đó lãi suất cơ bản bằng Việt Nam đồng được duy trì ở mức
8,0%/năm, những tháng cuối năm 2010 được điều chỉnh lên mức 9,0%/năm.
Các loại lãi suất khác cũng được quy định một cách cụ thể.
11
STT Lãi suất Giai đoạn
trước ngày 05

Trong giai đoạn này, tuy chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp với mục
đích ổn định thị trường tài chính nhưng lãi suất đồng Việt Nam liên tục biến
động theo chiều hướng gia tăng, cả lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay.
Lãi suất huy động VND đã tăng vọt từ 11 - 11,5%/năm lên đến trên 17%/năm ở
một số NHTM đối với một số kỳ hạn ngắn, đồng thời lãi suất cho vay VND
cũng “leo thang” từ 13-14%/năm lên tới 19 - 21%/năm tùy từng loại khoản vay.
Một mặt, không ít NHTM đua nhau áp dụng các hình thức hấp dẫn để thu hút
tiền gửi tiết kiệm, mặt khác, một số không nhỏ NHTM lại dừng cho vay ra
trong bối cảnh thị trường liên ngân hàng lại “lặng sóng” với lãi suất giao dịch
thấp và hạn mức tín dụng của nhiều NHTM đã hết khi tổng tín dụng ngân hàng
cho nền kinh tế có thể đã tăng vượt mục tiêu 25% cho cả năm ngay từ tháng 11.
Hơn nữa, tốc độ cho vay bằng ngoại tệ đã lớn hơn rất nhiều tốc độ cho vay bằng
VND.
* Nhận xét chung về tình hình thực hiện chính sách lãi suất trong năm
2010 của hệ thống NHTM :
 Lãi suất thị trường vẫn ở mức cao đặc biệt là giai đoạn cuối năm :
12
- Đối với lãi suất huy động VND: Trong năm 2010, duy trì đà tăng của lãi
suất huy động vào những tháng cuối năm 2009, lãi suất huy động VND về cơ
bản đã gia tăng ở những tháng đầu năm, giảm và duy trì ổn định trong quý II,
quý III và gia tăng mạnh trong hai tháng cuối năm. Tính đến cuối tháng
12/2010, lãi suất huy động tăng 1,96 – 3,39% cho các kỳ hạn so với cuối năm
2009, tăng cao đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn từ 1 tháng đến 3 tháng.
Trong 6 tháng đầu năm lãi suất đã tăng so với cùng kỳ của năm 2009 với hai
mốc tăng tương đối ổn định. Nếu như trong quý I/2010, lãi suất huy động tăng
bình quân 0,03 – 0,07% cho tất cả các kỳ hạn chưa kể đến các hình thức khuyến
mại thì bước sang tháng đầu tiên của Quý II, để chấm dứt các chính sách tặng
thưởng được xem là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, các NHTM đã từng
bước công bố tăng lãi suất vượt ngưỡng 10,5% - là tỷ lệ được duy trì từ tháng
12/2009 để hình thành nên một mặt bằng lãi suất mới biến động xoay quanh

năm 2010 tiếp tục tăng nhẹ qua tất cả các tháng (tính đến cuối tháng 12, lãi suất
huy động USD tăng khoảng 0,82 – 1,36% cho các kỳ hạn so với đầu tháng
1/2010).
14
Lãi suất huy động USD một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010 (đơn
vị: %)
Như vậy, có thể thấy rằng, mặt bằng lãi suất huy động chịu sức ép tăng trong
năm do một số nguyên nhân chính: Nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng tiếp tục tăng cao trong bối cảnh phục hồi kinh tế; Chịu sức
ép từ chỉ số lạm phát do tác động trễ của các chính sách năm 2009 (trong năm
2010, chỉ số giá tiêu dùng chỉ giữ được ổn định từ tháng 3 đến tháng 8, các
tháng còn lại biến động tăng cao đã ảnh hưởng đến nhiều mục tiêu kinh tế vĩ
mô của Chính phủ và các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN);
Sự cạnh tranh thiếu lành mạnh của một vài các TCTD và tâm lý, kỳ vọng của
người dân. Mặc dù mặt bằng lãi suất có nhiều biến động nhưng vẫn đảm bảo
được lợi ích của người tiền trong bối cảnh lạm phát gia tăng vào cuối năm, vì
vậy tốc động huy động vốn trong năm 2010 đã được cải thiện rõ rệt so với
những năm trước.
15
Lãi suất cho vay tuy đã có sự điều chỉnh giảm ở một số lĩnh vực, ngành
nghề, nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao.
Lãi suất cho vay trong năm 2010 thể hiện hai điểm nóng là trong những
tháng đầu năm (trước và sau khi thực hiện lãi suất thoả thuận theo Thông tư số
07/2010/TT-NHNN) và hai tháng cuối năm thì lãi suất cho vay ở mức khá cao
(khoảng 14,5 – 18%).
Các tháng giữa năm, bắt đầu từ tháng 5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị
Quyết 23 ngày 7/5/2010 chỉ đạo NHNN có biện pháp phù hợp để khẩn trương
hạ lãi suất huy động xuống khoảng 10%, lãi suất cho vay khoảng 12% và điều
hành tỷ giá ở mức hợp lý. Tăng tính thanh khoản cho nền kinh tế thông qua việc
tăng tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng. Để thực hiện nhiệm

trưởng tín dụng cho năm 2011 là 23%. Đây cũng là thông điệp cho thấy NHNN
sẽ quản lý chặt tăng trưởng tín dụng. Cùng với các biện pháp đồng bộ nhằm
nâng cao chất lượng hệ thống, kiểm soát rủi ro, có thể kỳ vọng hệ thống ngân
hàng sẽ dần tăng cường về chất lượng. Cùng mục tiêu kiểm soát lạm phát, kỳ
vọng mặt bằng lãi suất sẽ được giữ ổn định và từng bước hạ trong năm 2011.
Lạm phát tại Việt Nam nằm nhiều ở yếu tố đầu tư công chưa hiệu quả, và nội
tại cơ cấu nền kinh tế còn bất hợp lý. Vì vậy, để tận dụng được những cơ hội
phục hồi sau khủng hoảng chúng ta cần thiết phải có một chính sách tiền tệ cởi
mở hơn nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, điều hành lãi suất sẽ diễn ra một cách thận trọng chứ không thể nhanh
chóng nới lỏng.
Luật Ngân hàng mới bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2011 sẽ có nhiều quy định
mới, trong đó quan trọng nhất là quy định về lãi suất: tách lãi suất điều hành
chính sách tiền tệ và lãi suất làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp và chống
cho vay nặng lãi. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN thay đổi nội hàm
lãi suất cơ bản theo hướng không công bố “trước” lãi suất cơ bản để định hướng
lãi suất thị trường mà thực hiện cơ chế công bố “sau” về lãi suất đã được hình
thành trên thị trường của các tổ chức tín dụng để làm cơ sở cho việc phòng,
chống cho vay nặng lãi trong nền kinh tế. Như vậy, cơ chế điều hành lãi suất đã
mang tính thị trường hơn, hạn chế được sự áp đặt mang tính hành chính, ép lãi
suất phải gò bó theo mục tiêu kiềm chế lạm phát như đã thực hiện một cách giật
cục trong năm 2010. Từ đó, các NHTM cũng chủ động hơn trong việc điều
chỉnh lãi suất sát với thực tế thị trường, các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong
việc cân đối nguồn vốn và tiếp cận với vốn ngân hàng.
Để thực hiện những mục tiêu đã đặt ra, trong năm 2011 ngân hàng nhà
nước đã đưa ra những quy định về lãi suất rất cụ thể :
NHNN ban hành thông tư Số: 02/2011/TT-NHNN quy định : Tổ chức
tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam (lãi suất tiền gửi;
lãi suất chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu) dưới mọi hình thức
không vượt quá 14%/năm; các Quỹ Tín dụng nhân dân cơ sở ấn định lãi suất

Lãi suất
huy động
niêm yết
Loại tiền
Không
kỳ hạn
1
tháng trở
xuống
3
tháng
6
tháng
12
tháng
Nhóm
NHTMNN
VND 2,4–3,0 10-14
13,5-
14
13,5-
14
13,5-
14
USD
(áp dụng đối với
TCKT)
0,2-0,3 1,0 1,0 1,0 1,0
USD
(áp dụng đ/v cá nhân)

Loại tiền Ngắn hạn Trung, dài hạn
Nhóm
NHTMNN
- VND áp dụng đ/v sản
xuất kinh doanh thông
thường
- VND áp dụng đ/v
nông nghiệp, nông thôn và
xuất khẩu
14-15
12,5-14,5
15,5-17
15-16
18
USD 5,5-6,0 6,0-7,0
Nhóm
NHTMCP
- VND áp dụng đ/v sản
xuất kinh doanh thông
thường
- VND áp dụng đ/v
nông nghiệp, nông thôn và
xuất khẩu
15-16
14-15
17-18
16-17
USD 5,5-6,5 6,5-8,0
Về lãi suất bình quân liên ngân hàng:
- Đối với các giao dịch bằng VND: Lãi suất giao dịch bình quân trên thị

12
tháng
KKH
VND
10,56 12,70 13,37 13,19
13,4
1 12,88 12,81 2,06
USD
0,50 0,69 0,76 1,68 1,92 1,26 4,36
-
Trong những tháng cuối năm tình hình thực hiện lãi suất tại hệ thống
ngân hàng như sau :
Về lãi suất:
- Lãi suất huy động:
+ Lãi suất huy động VND ít biến động, các TCTD huy động với mức lãi
suất phổ biến sát 6%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1
tháng, 14%/năm ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên.
+ Lãi suất huy động USD phổ biến 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và
0,5%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế.
- Lãi suất cho vay:
19
+ Lãi suất cho vay VND tiếp tục ổn định. Hiện lãi suất cho vay đối với lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức 17-19%/năm; lãi suất cho vay sản xuất -
kinh doanh khác phổ biến ở mức 18-21%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản
xuất 22-25%/năm. Riêng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày
18/10/2011 điều chỉnh giảm lãi suất cho vay 1-2%/năm, cụ thể là cho vay sản xuất
kinh doanh thông thường tối đa 17%/năm, cho vay xuất khẩu tối đa 15,7%/năm,
cho vay nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay khắc phục bão
lụt tối đa 15%/năm.
+ Lãi suất cho vay USD: Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối

- Thấp nhất: 16
19-21
18-20
USD
6,0-7,5
7,5-8,0
Về doanh số giao dịch liên ngân hàng:
Theo báo cáo của các TCTD, tính đến ngày 19/10, tổng doanh số giao dịch
trên thị trường liên ngân hàng trong kỳ bằng VND đạt xấp xỉ 165.553 tỷ đồng,
bình quân đạt khoảng 33.110 tỷ đồng/ngày; bằng USD quy ra VND đạt 129.328
tỷ đồng, bình quân đạt khoảng 25.866 tỷ đồng/ngày.
Trong tuần, các giao dịch VND tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn ngắn với
doanh số qua đêm chiếm 42% tổng doanh số; tổng doanh số 1 tuần và 2 tuần
chiếm 37% tổng doanh số. Các giao dịch bằng USD vẫn chủ yếu tập trung vào
kỳ hạn qua đêm, với doanh số kỳ hạn này chiếm 63% tổng doanh số.
Về lãi suất bình quân liên ngân hàng:
Lãi suất bình quân liên ngân hàng đến ngày 19/10 cụ thể như sau:
- Đối với các giao dịch bằng VND: Lãi suất giao dịch bình quân trên thị
trường liên ngân hàng bằng VND có xu hướng tăng đối với tất cả các kỳ hạn;
với các mức tăng từ 0,20% đến 2,97%. Trong đó tăng mạnh nhất thuộc về kỳ
hạn 12 tháng và 6 tháng, lần lượt tăng 2,97% và 2,03% so với kỳ trước.
20
Lãi suất bình quân qua đêm tuần này ở mức 13,98%/năm, tăng 1% so với
mức bình quân tuần trước. Lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại dao động từ
13,22% đến 16,47%; trong đó lãi suất bình quân cao nhất rơi vào các kỳ hạn 6
tháng, 12 tháng và trên 12 tháng (lần lượt ở mức 15,81%; 16,47% và 15,99%).
Kỳ này, các kỳ hạn đều rải rác xuất hiện các mức lãi suất cao như 15%,
16%. Đặc biệt, đối với kỳ hạn 6 tháng, các ngày từ 14/10 đến ngày 19/10 lãi
suất giao dịch bình quân đều ở mức từ 15,18% đến 17,06%. Kỳ hạn 12 tháng
xuất hiện lãi suất giao dịch bình quân cao ở các ngày 17 và 18/10, lên tới trên

này:
+ Lãi suất tăng do lạm phát tăng : khi CPI đến tháng 11/2010 đã tăng tới
9,6% so với cuối năm trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2009. Theo đó,
đầu tháng 11/2010, NHNN phải tăng lãi suất cơ bản từ 8% lên 9% sau khi đã cố
định nó suốt từ tháng 12/2009 với kỳ vọng thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm
soát lạm phát.
+ Mặt khác, tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ phát ra dường như chưa đủ
mạnh và rõ ràng, tín hiệu này lại phát ra đúng vào thời điểm cầu tín dụng tăng
mạnh theo tính “mùa vụ” của sản xuất kinh doanh. Nhu cầu vốn cho đầu tư, sản
xuất kinh doanh và tiêu dùng tiếp tục tăng cao trong bối cảnh phục hồi kinh tế ,
tăng tín dụng ngân hàng cả năm cơ bản đã hết.
21
+ Hơn nữa, tính thanh khoản của các NHTM nước ta không tương đồng,
thậm chí rất khác nhau nên các NHTM có thanh khoản không tốt (thường là
NHTM qui mô nhỏ và trung bình) buộc phải đẩy lãi suất huy động lên khi giảm
sự trông cậy vào thị trường liên ngân hàng, do đó, kéo theo các NHTM có thanh
khoản tốt hơn vào cuộc đua lãi suất.
+ Bên cạnh đó, biến động liên tục của thị trường nguyên nhiên vật liệu cơ
bản, của thị trường tài chính tiền tệ quốc tế càng làm cho việc kiểm soát lạm
phát nói chung và ổn định lãi suất nói riêng của hệ thống thêm khó khăn.
+ Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền chủ chốt trên thế giới như USD, EURO,
JPY, RMB, liên tục chao đảo dưới tác động của các yếu tố bất định như sự
phục hồi của kinh tế toàn cầu hay khả năng “khủng hoảng kép”, khủng hoảng
nợ công của khu vực EURO có thể giải quyết hay sẽ lan rộng từ Hy Lạp,
Ireland sang Bồ Đào Nha và cả Tây Ban Nha, là nguyên nhân gây tác động
mạnh mẽ đến sự tăng trưởng lãi suất.
+ Sự cạnh tranh thiếu lành mạnh của một vài các TCTD và tâm lý, kỳ vọng
của người dân.
2.2.2 Trong giai đoạn năm 2011.
Nguyên nhân làm cho tình hình lãi suất trong giai đoạn này giảm so với năm

theo tăng 13,92%, bình quân 2,78%/tháng, riêng tháng 9 lại tăng tới 4,5%. Làm
cho mức tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 19,5%.
+ Tốc độ tăng tín dụng tăng cao trong quí IV để đáp ứng yêu cầu tăng
trưởng kinh tế cũng như phù hợp với chủ trương giảm lãi suất tín dụng trong
quí IV. Bên cạnh đó NHNN Việt Nam tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 8%
như từ tháng 12/2009 đến tận tháng 10/2010 nhằm phát tín hiệu về ổn định
chính sách lãi suất trong khi thực thi chính sách tín dụng nới lỏng với mặt bằng
lãi suất cho vay bình quân đã giảm xuống còn 13,27%/năm từ cuối tháng
9/2010 (giảm 0,7% so với bình quân 8 tháng trước) nhưng vẫn cao hơn so với
năm 2006 (bình quân 12,92%/năm) và năm 2007 (13,02%/năm). Xu thế lãi suất
trên thị trường tiền tệ tín dụng vẫn không thể vận động theo yêu cầu của Chính
phủ là đưa lãi suất huy động xuống mức 10%/năm và lãi suất cho vay xuống
12%/năm nhất là khi lạm phát cả năm tiệm cận 10%/năm.
+ Lãi suất tín dụng ngân hàng trong giai đoạn này vẫn phải vận động dựa
trên các qui luật thị trường trong khi NHNN chưa có chính sách tiền tệ nào để
can thiệp mạnh vào thị trường. Từ đầu tháng 7, lãi suất huy động VND từ
khoảng 11,5% - 12%/năm đã giảm xuống còn 11,2%/năm, từ 15/10/2010, dự
kiến sẽ xuống 11%/năm và lãi suất cho vay từ 12,5% - 15%/năm tùy theo các
đối tượng doanh nghiệp và chính sách ưu đãi cụ thể.
- Trong giai đoạn 2011
+ Cùng mục tiêu kiểm soát lạm phát, mặt bằng lãi suất được giữ ổn định và
từng bước hạ trong năm 2011. Về ngắn hạn đây được xem là một giải pháp tối
ưu trong bối cảnh nền kinh tế thế giới còn nhiều rủi ro, tuy nhiên một vấn đề đặt
ra cùng với việc giảm lạm phát là suy giảm đầu tư kìm hãm tốc độ tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn. Cho nên giảm lãi suất sẽ là một vấn đề không phải trong
một sớm một chiều.
+ Tách bạch lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất làm cơ sở cho
việc giải quyết tranh chấp và chống cho vay nặng lãi. Đây được xem là cơ sở
pháp lý quan trọng để NHNN điều hành nền kinh tế và là hướng đi phù hợp với
định hướng kinh tế thị trường. Tuy nhiên lộ trình này cũng chưa thực sự đạt

lãi suất cao và rủi ro thấp, hơn là mua chứng khoán với lãi suất thấp nhưng rủi
ro cao.
Do xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực nên việc điều chỉnh lãi suất
phải căn cứ vào mức lãi suất trên thị trường quốc tế và khu vực.
Việc điều chỉnh lãi suất phải tuỳ thuộc vào tập quán và thói quen của người
dân cũng như các yếu tố tâm lý của dân chúng trong thời kỳ nhất định.
- Phải xây dựng một môi trường để lãi suất cơ bản phát huy tác dụng.
Trước hết, phải xây dựng hệ thống ngân hàng hoạt động năng động và chủ
động trong cạnh tranh. Trong môi trường cạnh tranh tốt, lãi suất của các TCTD
sẽ dao động gần sát với lãi suất chỉ đạo của NHNN. Hơn thế nữa, trong môi
trường cạnh tranh, hệ thống ngân hàng sẽ cung cấp cho nền kinh tế và dân cư
các sản phẩm và dịch vụ ngày càng tốt hơn. Do vậy, để nâng cao tính chủ động
trong cạnh tranh, các NHTM trong nước cần phải chủ động cải tiến chất lượng,
quy trình tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàngquốc tế, cải tiến chất lượng phục
vụ.
24
Đồng thời phải nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hoạt động ngân
hàng, cải tiến các vấn đề nhân sự, chi phí quản lý để giảm tối đa chi phí kinh
doanh.
Chú trọng công tác tiếp thị trong hoạt động ngân hàng, hiểu rõ nhu cầu của
khách hàng truyền thống, tổ chức tốt công tác tư vấn về dự án đầu tư, thanh
toán quốc tế cho khách hàng cũng như thường xuyên lắng nghe, tìm hiểu
những đề nghị, phản ánh của khách hàng.
Tạo lập mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp và ngân hàng trên cơ sở
hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau. Mở rộng tín dụng đến nhiều đối tượng khách hàng,
đến các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ở những
khu vực mà mức độ cạnh tranh còn thấp và đang cần vốn như khu vực sản xuất
nông nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặt khác, các NHTM cần nâng cao vai trò công tác cân đối tín dụng: Đa
dạng hoá các loại hình tín dụng như cho vay tiêu dùng cho cán bộ công nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status