TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
Phần II
1945 - 1995 Th.S. LÊ MINH CHIẾN
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 2 -
MỤC LỤC
Chương I 5
A. LIÊN XÔ TỪ 1945-1975 5
I. CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ SAU CHIẾN TRANH (1945-
1949)
5
I. KHÁI QUÁT PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC SAU CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
17
1.Thời kì từ 1945 đến 1949 17
2. Thời kì từ 1949 đến 1954 17
3. Thời kì từ 1954 đến 1960 17
4. Thời kì từ 1960 đến 1975 18
5. Thời kỳ 1975 đến nay 18
II. CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á 19
1.Trung Quốc 19
2. Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc 23
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 3 -
3. Lãnh thổ Đài Loan 24
III. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 25
IV. CÁC NƯỚC CHÂU PHI (1945 – 1995) 29
1. Khái quát 29
2. Đặc điểm của Châu Phi : 30
V.CÁC NƯỚC MĨ LA TINH (1945- 1995) 34
1. Khái quát 34
2.Các giai đoạn phát triển: 35
Chương III 37
A. NƯỚC MIÕ 37
I. NƯỚC MIÕ TỪ 1945 ĐẾN 1973 37
II. NƯỚC MĨ TỪ 1973 ĐẾN 1995 42
B. NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN 1973 44
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ- CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI 44
II. SỰ CHIẾM ĐÓNG CỦA LỰC LƯNG ĐỒNG MINH VÀ NHỮNG
CẢI CÁCH DÂN CHỦ TỪ 1945 –1951
Phần Lan, Bungari, Hunggari và Rumani)
64
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 4 -
III. CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH 66
1. Chủ nghóa “ Tơruman” và âm mưu của Mó 66
2. “Chính sách ngăn chặn” và việc chia cắt nước Đức và Triều Tiên của
Mó.
67
3. Hệ thống xã hội chủ nghóa hình thành và sự thất bại của “chính sách
ngăn chặn” của Mó
68
IV. CUỘC CHẠY ĐUA VŨ TRANG XÔ - MỸÂ 68
V. HỌC THUYẾT NICHXƠN (1969 – 1975) 69
1. “Học thuyết Nichxơn” 69
2. Cuộc thương lượng giữa Liên Xô và Mó nhằm hạn chế vũ khí chiến
lược
69
VI. QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NỬA SAU NHỮNG NĂM 70 ĐẾN 1995 70
1. Những cuộc xung đột khu vực . 70
2. Quan hệ quốc tế ở khu vực Trung Đông 72
3. Quan hệ Xô- Mó . 77
4. Sự sụp đổ của “Trật tự hai cực Ianta” 79
5. Một trật tự thế giới mới đang hình thành 80
Chương V 82
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ 82
II. NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC KĨ
THUẬT
83
Vò trí quan trọng nhất trong sự phục hồi công nghiệp là điện khí hoá, nguồn
cung cấp năng lượng của các vùng công nghiệp. Các phương tiện lớn đã được huy
động vào việc phục hồi các nhà máy điện.
Mùa thu năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu sự
tiến bộ vượt bậc của khoa học quân sự Xô viết và phá vỡ thế độc quyền bom
nguyên tử của Mó.
Nhìn chung, công nghiệp Liên Xô đã phục hồi vào năm 1947, đạt mức trước
chiến tranh (1940). Tới cuối kế hoạch 5 năm lần thứ tư, sản lượng công nghiệp đã
tăng lên 73% ( kế hoạch dự kiến 48%),
Nông nghiệp: khác với những năm 20, trong những năm sau chiến tranh thế giới
thư hai, chính phủ Liên Xô (đứng đầu là Xtalin) đã tiến hành khôi phục kinh tế
không phải từ nông nghiệp mà là từ công nghiệp nặng. Nhà nước tăng các nghóa vụ
đối với nông dân.
Việc khôi phục và phát triển nông nghiệp được tiến hành nhưng không dựa trên
sự quan tâm lợi ích vật chất mà bằng các biện pháp hành chính. Năm 1947, chính
phủ đã ban hành các biện pháp thực hiện sự lao động bắt buộc trong các nông
trang (như những năm 30). Tất cả cư dân ở nông thôn, ai không làm việc trong cơ
quan nhà nước đều phải đi làm trong các nông trang. Ai không thực hiện luật lao
động sẽ bò tập trung cải tạo hoặc xử lí hành chính.
Trong những năm đó, Liên Xô đã thi hành đường lối tập trung hoá sản xuất
nông nghiệp, coi nó là đòn bẩy để phát triển nông nghiệp và củng cố nông trang.
Theo đó, số lượng các nông trang giảm xuống hơn hai lần. Quy mô các nông trang
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 6 -
tăng lên (từ 255.314 nông trang năm 50, xuống còn 125.294 – năm 1951, tới cuối
năm 1953 còn 93 nghìn).
Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là lạc hậu của nền sản xuất quốc dân. Nó không
đáp ứng được các đòi hỏi của đất nước về lương thực và nguyên liệu. Khoảng cách
giữa công nghiệp và nông nghiệp ngày một tăng.
- Các nông trang có quyền thay đổi điều lệ của mình để phù hợp với điều
kiện đòa phương.
Kế hoạch 7 năm phát triển kinh tế quốc dân (1959 –1965) trong nông nghiệp đã
thất bại hoàn toàn, thay cho tăng trưởng 70% theo kế hoạch, năng suất chỉ đạt có
15%.
- Công nghiệp: Liên Xô đã trở thành một quốc gia công nghiệp hùng mạnh.
Ngành sản xuất tư liệu sản xuất đã chiếm 3/4 tổng sản lượng công nghiệp – đặc
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 7 -
biệt là công nghiệp vật liệu xây dựng, chế tạo máy, luyện kim, hoá chất, dầu khí,
điện năng (tăng 4 –5 lần so với nửa đầu những năm 50).
Biểu tượng cho sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật ở Liên Xô là cuộc chinh
phục vũ trụ. Tháng 10/1957, Liên xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu
tiên. Tiếp đó là những tên lửa vũ trụ, đổ bộ xuống mặt trăng. Tháng 4/1961, con
người đã bước vào vũ trụ, người đầu tiên của trái đất, công dân Liên xô – Iuri
Gagarin. Sau đó là tên tuổi của G. Titốp, A. Nicôlep …
IV. CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI
Đại hội lần thứ XX và XXII Đảng Cộng sản Liên Xô là những sự kiện chính trò
trong nước quan trọng nhất thời kỳ này. Đại hội lần thứ XX của Đảng được tiến
hành vào tháng 2/1956. Đại hội đã tổng kết việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ
năm và thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ sáu, thực hiện nhiệm vụ đuổi kip và vượt
các nước TB phát triển trong thời hạn ngắn nhất. Trong phiên họp cuối cùng kết
thúc đại hội, Khơrútxốp đã đọc báo cáo (không nằm trong chương trình nghò sự) về
“tệ sùng bái cá nhân và hậu qủa của nó”. Báo cáo đã dẫn ra những sự kiện “đàn
áp, khủng bố” dưới thời Xtalin và mở đầu cho sự chia rẽ to lớn trong phong trào
Cộng sản quốc tế. Một số Đảng Cộng sản gọi đó là biểu hiện của “chủ nghóa xét
lại”.
Tháng 10/1961, tại Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, cương lónh mới đã
được thông qua. Xuất phát từ chỗ cho rằng Chủ nghóa XH ở Liên Xô đã thắng lợi
Tóm lại, trong hơn hai thập niên, kể từ năm 1950, mặc dù còn có những sai
lầm và thiếu sót, Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, trở thành cường
quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mó), chiếm khoảng 20% tổng
sản lượng công nghiệp thế giới.
Từ năm 1951 – 1975, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Xô viết hàng năm
bình quân đạt 9,6 %.
Trong lónh vực khoa học – kỹ thuật, Liên Xô cũng thu nhiều thành tích rực rỡ,
chiếm nhiều đỉnh cao của khoa học kó thuật thế giới ở các lónh vực vật lí, hoá học,
điện tử, điều khiển học … năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công
vệ tinh nhân tạo của trái đất; năm 1961 phóng con tàu vũ trụ “ phương đông” đưa
nhà du hành vũ trụ đầu tiên Gararin bay vòng quanh trái đất, mở đầu kỉ nguyên
chinh phục vụ trụ của loài người
Trong lónh vực xã hội, Liên Xô có những thay đổi, tiến bộ. Năm 1971, công
nhân chiếm hơn 55% số người lao động trong cả nước, cứ 1000 công nhân thì hơn
550 người có trình độ đại học và trung học. Hơn 1/2 số người ở nông thôn có trình
độ đại học và trung học. Liên Xô là nước đứng hàng đầu thế giới về trình độ học
vấn của nhân dân với gần 3/4 số dân có trình độ đại học và trung học, trên 30 triệu
người làm việc trí óc.
VI. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ VAI TRÒ QUỐC TẾ CỦA
LIÊN XÔ
Về đối ngoại, Đảng và nhà nước Xô viết đã thực hiện chính sách và phương
hướng cơ bản là: đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ
nghóa xã hội, duy trì hoà bình và an ninh, mở rộng việc hợp tác với các nước xã hội
chủ nghóa, phát triển quan hệ hữu nghò bình đẳng với các nước mới giải phóng,đoàn
kết quốc tế với các Đảng Cộng sản và các đảng dân chủ cách mạng với phong trào
công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc.
Liên Xô cũng đi đầu trong việc ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội của nhân dân các dân tộc…
Như thế, sau chiến tranh thế giới thứ hai, đòa vò quốc tế của Liên Xô được đề
cao. Là nước xã hội chủ nghóa lớn nhất, hùng mạnh nhất, Liên Xô trở thành chỗ
Khơrútsốp về khả năng xây dựng chủ nghóa Cộng sản trong một nước riêng biệt.
Từ nửa sau những năm 70, những người có tư tưởng đối lập đã tập hợp vào một
phong trào chung gọi là “Aixiđen”. Nét đặc biệt của họ là chống Liên Xô, chống
Cộng. Phong trào có hai bộ phận: một bộ phận chỉ đấu tranh chống chế độ chính trò
và hệ tư tưởng cộng sản chủ nghóa; một bộ phận đấu tranh đòi giải tán Liên Xô.
Đời sống chính trò của đất nước Xô viết vào nửa đầu thập niên 80 luôn trong tình
trạng lên “cơn sốt” bởi thay đổi thường xuyên những người lãnh đạo cấp cao.
Tháng 1/1982, nhà tư tưởng chủ yếu của đất nước Xuxlốp qua đời, đến tháng 11
năm đó là Brêgiơnép. Tiếp theo là Anđrôpốp, sau đó là Chécnencô.
III. CÔNG CUỘC CẢI TỔ CỦA GOOCBACHỐP
Tháng 3/1985 M.Goobachốp lên nắm chức vụ Tổng bí thư đảng CS LX, từ đó đã
đưa ra nhiều chính sách, chiến lược phát triển kinh tế khác nhau:
- “Chiến lược tăng tốc” tháng 4/1985 và được cụ thể hoá tại đại hội lần thứ XVII
đảng cộng sản Liên Xô năm 1986 trong đó nêu rõ bốn yếu tố đòi hỏi phải thực hiện
tăng tốc: thứ nhất, những nghiệm vụ xã hội gay gắt chưa được giải quyết; thứ hai,
nguy cơ phá vỡ sự cân bằng chiến lược quân sự; thứ ba, bảo đảm sự độc lập hoàn
toàn cho nền kinh tế đất nước và cuối cùng là nhằm chấm dứt sự giảm sút tốc độ
phát triển, sự suy thoái của nền kinh tế trong tình trạng khủng hoảng, xây dựng một
nền kinh tế kiểu mẫu.
Biện pháp thực hiện bao gồm : Tăng cường công suất máy, thiết lập tính kỷ luật,
huy động vốn trong dân,tiết kiệm.
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 10 -
Kết quả của chiến lược này không thành công ,thậm chí còn gây ra những hậu
quả hết sức nghiêm trọng như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Trecnobyl.
- Thời kì cải tổ: năm 1987, Ban lãnh đạo đất nước quyết đònh thay chiến lược
tăng tốc bằng biện pháp cải tổ. Trong hai năm 1987 – 1988, cải tổ chủ yếu
hướng vào “cải cách kinh tế triệt để”, về sau bao gồm cả cải cách hệ thống
chính trò và đường lối “đổi mới” hệ tư tưởng.
chính trò, xã hội của đất nước Xô viết. Tổng sản phẩm quốc dân giảm 4 – 5%, năng
suất lao động giảm 2,5%, thâm hụt mậu dòch lên tới 5 tỉ đôla và nợ nước ngoài là
58 tỉ đôla.
Quá trình trì trệ khủng hoảng đã dẫn đến cuộc đảo chính ngày 19-8-1991.
Cuộc đảo chính nhanh chóng thất bại và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng:
Goocbachốp tuyên bố từ chức Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô và yêu cầu giải
tán uỷ ban trung ương đảng, Đảng cộng sản Liên Xô bò đình chỉ hoạt động. Chính
quyền Xô viết trong toàn liên bang bò giải thể; nhiều nước cộng hoà tuyên bố độc
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 11 -
lập, tách khỏi liên bang và một làn sóng chống Đảng Cộng sản, chống chủ nghóa xã
hội khắp cả nước.
Cuối cùng, ngày 8/12/1991 Liên bang Xô viết không còn tồn tại và các nước
quyết đònh thành lập một tổ chức liên minh mới gọi là cộng đồng các quốc gia độc
lập (SNG). Ngày 21/12/1991, tại thủ đô Anma Ata,11 nước cộng hoà kí kết hiệp
đònh về giải tán liên bang Xô viết và chính thức thành lập Cộng đồng các quốc gia
độc lập. Ngày 25/12/1991, sau lời từ chức Tổng thống Liên Xô của Goocbachôp, lá
cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Cremli đã hạ xuống, đánh dấu sự sụp đổ của chủ
nghóa xã hội và sự tan vỡ của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghóa Xô viết sau 74
năm tồn tại.
C. CỘNG HOÀ LIÊN BANG NGA.
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
Cộng hoà liên bang Nga có diện tích 17,1 triệu km
2
, lớn gấp 1,6 lần diện tích
toàn châu Âu, 1,8 lần lãnh thổ Mó và là quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.
Tiềm năng về đội ngũ các nhà khoa học -kó thuật, về tài nguyên thiên nhiên ở
nước Nga rất lớn. Tuy nhiên, gần đây (cả trong thời kì trong Liên bang Xô viết),
nền kinh tế nước Nga khủng hoảng nghiêm trọng.
Trong giai đoạn 1991-1992, nước Nga ra sức khai thác mọi khả năng để đẩy
nhanh cải cách thể chế kinh tế, chính trò theo hình mẫu Tây Âu, tăng cường mở
rộng quan hệ với các nước Tây Âu, Mó, trước hết là Cộng đồng châu Âu và các
nước G.7, hi vọng thông qua đó tìm kiếm sự trợ giúp của các nước này về tài chính,
kó thuật và công nghệ.
Tuy vậy, cải cách kinh tế được tiến hành một cách nóng vội, rập khuôn nước
ngoài một cách máy móc, nên kinh tế không được cải thiện mà còn tiếp tục lao sâu
vào khủng hoảng toàn diện.
Đến cuối năm 1992, trong chính sách đối ngoại của nước Nga đã có những điều
chỉnh rất cơ bản, với việc thừa nhận nét đặc trưng nổi bật của “bản sắc lưỡng thể”
Âu – Á của nước Nga. Tuy nhiên, cần thấy rằng sự thay đổi đònh hướng đối ngoại
của nước Nga không bao hàm trong đó sự phủ đònh hoặc coi nhẹ quan hệ của nước
Nga với các nước châu Âu và mối quan hệ với các nước phương Tây, mà nhằm
khắc phục việc tuyệt đối hoá cách nhìn nhận và mối quan hệ với các nước phương
Tây trong khi chưa chú trọng đúng mức đến các quan hệ với châu Á, phương Đông
nói chung và các nước SNG nói riêng. Sự thay đổi này có thể coi như bước điều
chỉnh mang tính chất chiến lược trong chính sách đối ngoại của Nga kể từ khi bước
lên vũ đài quốc tế trong tư cách một chủ thể độc lập.
D. CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN VÀ XÂY DỰNG
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ SAU CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NỬA ĐẦU NHỮNG NĂM 70.
I. SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
1.Những điều kiện lòch sử
Điều kiện khách quan : Đó là chiến thắng của quân đội đồng minh và vai
trò quyết đònh của Hồng quân Liên xô với chủ nghóa phát xít năm 1945.
Điều kiện chủ quan : Phong trào đấu tranh chống chủ nghóa phát xít của
nhân dân các nước Trung - Đông và Nam Âu. Những phong trào này được đặt dưới
sự lãnh đạo của những người yêu nước. Tại đây đã hình thành nhiều uỷ ban giải
phóng, mặt trận nhân, uỷ ban nhân nhân cách mạng….lãnh đạo quần chúng chống
phát xít.
này. Mặc dù đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hàn gắn những vết thương chiến
tranh, Liên Xô vẫn tích cực giúp đỡ các nước Đông Âu để giải quyết những vấn
đề cấp bách, tiếp tế lương thực, thực phẩm và các vật phẩm, các vật phẩm tiêu
dùng và các trang thiết bò máy móc.
- Hiệp ước hữu nghò, hợp tác và tương trợ Liên Xô – Ba Lan (21/2/1945).
- Hiệp ước hữu nghò, hợp tác và tương trợ Liên Xô – Mông Cổ (27/2/1946)
- Hiệp ước hữu nghò, hợp tác và tương trợ Liên Xô – Hunggari (18/2/1948) …
Nội dung các hiệp ước đó đã góp phần quan trọng trong việc khắc phục những
khó khăn sau chiến tranh, củng cố nền độc lập dân tộc, chống lại sự bao vây can
thiệp của các nước phương Tây. Nhờ sự giúp đỡ hào hiệp của Liên Xô về mọi mặt,
các nước dân chủ nhân dân Đông Âu có điều kiện thuận lợi đập tan những âm mưu
phản cách mạng của kẻ thù trong và ngoài nước, tiến hành những cải cách dân chủ,
chuẩn bò cơ sở cho sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội.
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 14 -
2. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
Ngày 8/1/1949, Hội đồng tương trợ kinh tế ( viết tắt SEV) được thành lập với sự
tham gia của các nước XHCN châu Âu là: Liên Xô, Anbani, Ba Lan, Bungari, Tiệp
Khắc, Hunggari. Sau này thành phần tham gia được mở rộng: Cộng hoà Dân chủ
Đức, Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ, Cu Ba, Việt Nam.
3. Tổ chức hiệp ước Vacxava
Kề từ năm 1949, tình hình thế giới ngày càng trở nên căng thẳng với việc Mó
và các nước đồng minh của Mó đẩy mạnh chính sách “chiến tranh lạnh”, chạy đua
vũ trang và thành lập các liên minh quân sự nhằm chống Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghóa. Tháng 4/1949, tổ chức hiệp ước Bắc đại tây dương (NATO) Sau đó
liên tiếp ra đời các liên minh quân sự khác: ANZUS (1951), khối quân sự Đông
nam á SEATO (1954), khối quân sự trung tâm CENTO (1959).
Trước tình hình đó, các nước Anbani, Ba Lan, Buggari, Cộng hoà dân chủ Đức,
Hunggari, Liên Xô, Rumani và Tiệp Khắc họp tại Vacxava ngày 14/5/1955 đã thoả
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 15 -
Sản xuất công nghiệp suy giảm, đặc biệt trong các ngành sản xuất điện, luyện
kim, chế tạo cơ khí. Sản xuất nông nghiệp cũng phát tiển chậm, một phần do thời
tiết không thuận lợi. Trong 3 năm 1986 – 1989, khối lượng nông phẩm của khối
SEV chỉ tăng có 1,6%, riêng năm 1989 là 1%,nợ phương tây tăng lên. Đời sống
nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Nhân dân các nước giảm sút lòng tin, nỗi bất bình tăng với sự sa sút về mọi mặt
trong cuộc sống. Từ cuối những năm 70, ở nhiều nước đã xảy ra các cuộc đình công
bãi công của công nhân.
Do những sai lầm cộng với những khó khăn bế tắc của công cuộc cải tổ Liên Xô
và hoạt động phá hoại của các thế lực phản động, cuộc khủng hoảng trong các
nước XHCN Đông Âu tiếp tục gay gắt. Trước tình hình đó, ban lãnh đạo của Đảng
và nhà nước Đông Âu đều lần lượt từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng
2. Nguyên nhân sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghóa ở Liên Xô và các nước
Đông Âu.
Nguyên nhân sâu xa là trong mô hình chủ nghóa xã hội đã xây dựng có nhiều
khuyết tật và thiếu sót, mô hình ấy tuy đã có những phù hợp nhất đònh nhưng ngày
càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật phát triển khách quan về kinh tế – xã
hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơ
chế thò trường làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động và mềm dẻo trong
phát triển. Từ đó ,dẫn tới tình trạng thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm nghiêm
trọng pháp chế xã hội chủ nghóa. Những khuyết tật, thiếu sót được duy trì qúa lâu
đưa tới tình trạng từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề kinh tế – xã hội.
Sau này, khi tiến hành cải tổ – cải cách nhằm khắc phục những khuyết tật sai
lầm, những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ
nghóa khác lại phạm sai lầm nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghóa
Những hoạt động chống phá của các thế lực chống chủ nghóa xã hội trong và
ngoài nước thông qua “diễn biến hoà bình “cũng là tác động không nhỏ làm cho
tình hình càng thêm khủng hoảng và rối loạn, đưa tới sự tan rã của hệ thống xã hội
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 17 -
CHƯƠNG II
CÁC NƯỚC Á- PHI - MỸ LA TINH
( từ 1945 đến 1995)
I. KHÁI QUÁT PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
1. Thời kì từ 1945 đến 1949
Thời kì phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và lan rộng ở Đông
Nam Á, Nam Á, Đông Bắc Á, bước đầu làm sụp đổ chủ nghóa thực dân cũ.
Ở Inđônêxia, ngày 17/8/1945 nhân dân đã nổi dậy làm cuộc cách mạng tháng
tám và nước Cộng hoà Inđônêxia tuyên bố thành lập.
Tháng 8/1945 Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam
tổng khởi nghóa, đánh đổ đế quốc, phong kiến thành lập nhà nước công nông đầu
tiên ở Đông Nam Á.
Phối hợp với cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, nhân dân Lào đã nổi dậy
giành chính quyền và ngày 12/10/1945, nước Lào tuyên bố độc lập.
Phong trào giải phóng dân tộc cũng lên cao mạnh mẽ ở Miến Điện, Mã Lai,
Philippin, Ấn Độ, Trung Quốc …
Trước sự nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân các nước thuộc đòa và nửa thuộc đòa,
các nước đế quốc cấu kết với nhau tìm cách đối phó. Được sự giúp đỡ của Mó, thực
dân Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt phát động các cuộc chiến tranh xâm lược trở lại
thuộc đòa trứơc đây: Inđônêxia (11/1945), Mã Lai (12/1945), Ba nước Đông Dương
(12/1946) …
Trong tình hình đó, ngày 1/10/1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc
thắng lợi, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Với diện tích
bằng 1/4 châu Á, và chiếm gần 1/4 dân số toàn thế giới, thắng lợi của cách mạng
Trung Quốc năm 1949 đã phá vỡ một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc đòa của
chủ nghóa đế quốc, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và
làm cho hệ thống xã hội chủ nghóa nối liền từ châu Âu sang châu Á.
Năm 1960 đã đi vào lòch sử với tên gọi “Năm châu Phi”, với việc 17 nước châu
Phi tuyên bố độc lập, biến châu Phi thành “lục đòa trỗi dậy” trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc, thực dân.
4. Thời kì từ 1960 đến 1975
Từ năm 1945 đến 1965 đã có khoảng 40 nước ở Á, Phi, Mỹ latinh giành được
độc lập. Nếu như năm 1939, hệ thống thuộc đòa của chủ nghóa đế quốc rộng tới
91.900.000 Km
2
với số dân trên 1,5 tỷ người, thì tới năm 1967 chỉ còn 5,2 triệu Km
2
đất đai và 35 triệu người.
Trước ý chí độc lập của các dân tộc, đại hội đồng Liên hợp quốc khoá XV
(1960) đã thông qua văn kiện “tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toà chủnghóa thực dân,
trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc đòa”. Tại khoá họp XVIII của đại
hội đồng Liên hợp quốc (1963) thông qua tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn các hình
thức của chế độ phân biệt chủng tộc.
Năm 1975 lòch sử, thắng lợi vó đại của nhân dân ba nứớc Đông Dương đã đánh
dấu mốc: nhân dân ba nước hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, bước vào
thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước. Riêng Campuchia còn phải trải qua thời kỳ
chiến tranh chống bọn diệt chủng Pônpốt – Iêng Xari
5. Thời kỳ 1975 đến nay
Thời kỳ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tập trung ở Nam Phi nhằm xoá bỏ
chế độ chế độ phân biệt chủng tộc – ách thông trò cuối cùng của chủ nghóa thực dân
cũ. Ở Trung Đông, cuộc đấu tranh của phong trào kháng chiến Palextin đã được
những thắng lợi to lớn và mở ra con đường hoà bình cho việc giải quyết các vấn đề
ở Trung Đông.
Sau nhiều thập đấu tranh bền bỉ, tới đầu 1980 nhân dân Nam Rôđêdia đã giành
được thắng lợi. Bằng thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 2 –1980, Chính quyền của
người da đen được thành lập. Ngày 18 – 4 – 1980, nam Rôđêdia tuyên bố trở thành
nước Cộng hoà Dimbabuê.
đối ngoại không liên kết, không tham gia vào bất cứ khối, nhóm quân sự – chính trò
nào. Phong trào không liên kết chủ trương chống chủ nghóa thực dân cũ và mới,
chống chủ nghóa phân biệt chủng tộc, đấu tranh giành độc lập về chính trò, kinh tế,
văn hoá, hợp tác quốc tế trên cơ sở công bằng và cùng có lợi, thiết lập một trật tự
kinh tế quốc tế mới công bằng, hợp lí, bảo vệ hoà bình an ninh của các dân tộc.
II. CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á
1. Trung Quốc
a. Cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc thắng lợi. Nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa thành lập
Cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc kéo dài nhiều năm đã
kết thúc thắng lợi. Sau chiến tranh chống Nhật, cục diện cách mạng do Đảng Cộng
sản Trung Quốc lãnh đạo đã có nhiều biến đổi quan trọng khác trước: lực lượng
quân đội chủ lực phát triển lên tới 120 vạn người, dân quân 200 vạn người,. Vùng
giải phóng bao gồm 19 khu căn cứ, trong đó có những thành phố, thò trấn quan
trọng. Sau kháng chiến chống Nhật, Liên Xô đã chuyển giao vùng Đông Bắc Trung
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 20 -
Quốc, một vùng công nghiệp có vò trí chiến lược rất quan trọng, cho Đảng Cộng sản
Trung Quốc và chính quyền cách mạng quản lí. Đồng thời Liên Xô còn chuyển
giao toàn bộ vũ khí giải giáp đội quân Quan Đông của Nhật và một phần vũ khí
của các phương diện quân Xô viết trước khi các đạo quân này rút về nước cho quân
giải phónh nhân dân Trung Quốc.
Đi đôi với sự lũng đoạn về kinh tế, tài chính và sự chuyên chế độc tài về chính
trò, tập đoàn Tưởng Giới Thạch âm mưu phát động nội chiến nhằm tiêu diệt Đảng
Cộng sản và phong trào cách mạng Trung Quốc. Tưởng còn thực hiện chính sách
bắt lính, vơ vét lương thực để chuẩn bò nội chiến.
Ngày 26/8/1945 tại Trùng Khánh Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc dân
đảng đã diện ra cuộc đàm phán để thực hiện hoà bình dân chủ. Do áp lực đấu tranh
của nhân dân Trung Quốc và sự nỗ lực của Đảng Cộng sản, ngày 10/10/1945 hai
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 21 -
b. Những thành tựu trong 10 năm đầu xây dựng chế độ mới 1949 – 1959
Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Trung Quốc bước vào thời kì
cách mạng xã hội chủ nghóa, thực hiện nhiệm vụ đưa Trung Quốc từ một nước nông
nghiệp nghèo nàn, lạc hậu tiến lên xã hội chủ nghóa không qua giai đoạn phát triển
TBCN.
Ngày 30/6/1950, “luật cải cách ruộng đất” của nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa được chính thức ban hành.
Trung Quốc đã tiến hành tòch thu những tài sản của bọn tư sản mại bản như nhà
máy, hầm mỏ, ngân hàng, bưu điện … tất cả những tài sản này đã được quốc hữu
hoá và chuyển thành thành phần kinh tế quốc doanh.
Năm 1952, công cuộc khôi phục kinh tế đã hoàn thành. Sản lượng công nghiệp
tăng gấp 2 lần năm 1949 và đã vượt mức trước chiến tranh.
Năm 1957, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 – 1957) hoàn thành thắng lợi.
Sản lượng công nông nghiệp so với năm 1949 tăng 4,8 lần, riêng công nghiệp tăng
10,7 lần, trong đó sản xuất tư liệu sản xuất tăng hơn 6 lần. So với năm 1952 sản
lượng công nghiệp tăng 140%, sản lượng nông nghiệp và nghề phụ tăng 25%.
Cùng với những tiến bộ lớn về kinh tế, nền văn hoá giáo dục Trung Quốc cũng
có những bước tiến vượt bậc. Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học bắt đầu
thực hiện những cải cách quan trọng để đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng
lớn của nước Trung Hoa mới.
Về chính sách đối ngoại, trong những năm 1949 – 1959 Trung Quốc thực hiện
đường lối đối ngoại góp phần củng cố hoà bình và thúc đẩy sự phát triển của cách
mạng thế giới. Nhờ vậy, đòa vò của Trung Quốc được nâng lên cao trên trường quốc
tế.
Đối với phong trào giải phóng dân tộc, Trung Quốc đã tích cực ủng hộ và giúp
đỡ về tinh thần và vật chất. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm 1950 –
1953, Trung Quốc đã phái quân tình nguyện sang giúp đỡ nhân dân Triều Tiên
Suốt từ năm 1966 đến 1976, nghóa là từ sau Đại hội IX đến lúc Mao Trạch
Đông qua đời và “bè lũ bốn tên” (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng
Văn, Diêu Văn Nguyên) bò lật đổ, đường lối “ba ngọn cờ hồng” được tiếp tục thực
hiện. Kết quả là tình hình kinh tế, xã hội của Trung Quốc ngày càng đen tối, hỗn
loạn.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời (9 – 9 – 1976), Hoa Quốc Phong – Diệp Kiếm
Anh – Đặng Tiểu Bình đã lật đổ “bè lũ bốn bên” (ngày 6 – 10 – 1976). Tháng 8 –
1977, Đại hội XI Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác đònh quyền lực của Hoa Quốc
Phong – Đặng Tiểu Bình – Diệp Kiếm Anh. Sau đó, Đặng Tiểu Bình lên nắm
cương vò lãnh đạo.
d. Trung Quốc từ năm 1979 đến nay.
Tháng 12 – 1978, Hội nghò Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc họp, vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế – xã hội ở
Trung Quốc. Qua Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII (9 – 1982) và đặc
biệt là Đại hội lần thứ XIII (10 – 1987), đường lối này được nâng lên thành đường
lối chung của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, kiên trì “bốn nguyên tắc cơ bản”
(con đường xã hội chủ nghóa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh dạo của
Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ nghóa Mác – Lênin – tư tưởng Mao Trạch Đông);
thực hiện cải cách và mở cửa, phấn đấu xây dựng Trung Quốc thành một nước xã
hội chủ nghóa hiện đại hoá, giàu mạnh, dân chủ, văn minh.
Sau mười năm cải cách, từ 1979 đến 1988, mức tăng bình quân hàng năm của
tổng sản phẩm quốc dân là 9,6%, vượt mức của thời kì 1953 – 1978 là 6,1%. Trong
thời gian 10 năm, xuất khẩu tăng gấp 4 lần. Thu nhập bình quân hang năm của
nông dân tăng 11,8%, của dân thành phố tăng 6,5%. thu nhập so với năm 1949,
tăng 20 lần, đứng vào hàng thứ 8 trên thế giới.
Ngày 16-10-1964, Trung Quốc đã thành công trong cuộc thử nghiệm vụ nổ bom
nguyên tử đầu tiên, tiếp đó ngày 17-6-1965 lại thành công trong việc nghiên cứu
bom khinh khí, mở đường cho Trung Quốc trở thành một cường quốc hạt nhân.
Bước vào thập niên 90, Trung Quốc tiếp tục những hoạt động cải cách “mở
cửa” sôi động và đạt tốc độ phát triển kinh tế vào loại cao nhất thế giới.
Tại hội nghò bộ trưởng 5 cường quốc Liên Xô, Mó, Anh, Pháp, Trung Quốc họp
ở Matxcova (12/1945), qui đònh:
- Xây dựng một quốc gia độc lập;
- Thành lập 1 chính phủ dân chủ để đảm bảo việc phát triển công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải và văn hoá chung cho cả nước;
- Uỷ ban hỗn hợp gồm của hai bộ tư lệnh quân đội Liên Xô và Mó đóng ở bán
đảo sẽ giúp vào việc thành lập một chính phủ lâm thời.
Theo thỏa thuận chung, thay mặt Đồng minh, quân đội Liên Xô sẽ đóng ở bắc
vó tuyến 38
0
, còn phía nam là quân đội Mó.
Tuy nhiên, do sự bất đồng quan điểm Xô – Mó đã dẫn đến sự bế tắc trong việc
thành lập một chính phủ lâm thời ở Triều Tiên.
Ngày 10 – 5 – 1948, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tiến hành ở miền
Nam, tổ chức “Hội quốc gia nhằm thực hiện nhanh chóng nền độc lập Triều Tiên
“giành được đa số phiếu và lãnh tụ của Hội là Lý Thừa Vãn đứng ra lập chính phủ
mới, thành lập nhà nước lấy tên là Đại Hàn dân quốc (Hàn Quốc).
Đồng thời, ở Bắc Triêu Tiên, “Hội đồng nhân dân Bắc Triều Tiên” được triệu
tập và lập ra Ủy ban chấp hành do tướng Kim Nhật Thành làm Chủ tòch. Tháng 8 –
1948, Hội nghò nhân dân toàn Triều Tiên được bầu, hội nghò gồm 300 đại biểu Nam
Triều Tiên và 212 đại biểu Bắc Triều Tiên. Ngày 9 – 9 1948, Hội nghò tuyên bố
thành lập Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
Ngày 25/6/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ trên toàn tuyến ranh giới. Sau
3 tháng chiến tranh, quân đội Bắc Triều Tiên đã vượt qua vó tuyến 38
0
, chiếm 95%
đất đai và 97% số dân ở miền Nam.
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 24 -
phát triển. Chính phủ thực hiện nhiều chính sách “mở cửa” cho các công ty nước
ngoài vào đầu tư, mở cửa các khu chế xuất lớn. Đồng thời Chính phủ cải tổ bộ máy
Nhà nước, thành lập Hội đồng có thẩm quyền để giải quyết các thủ tục nhanh
chóng và dễ dàng, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, chính
phủ tiến hành xây dựng kiến trúc hạ tầng thuận lợi cho việc đi lại, giao thông liên
lạc và sinh hoạt.
Sau 4 thập niên xây dựng và phát triển, Đài Loan nổi lên như một hiện tượng lạ,
thu hút sự quan tâm của thế giới bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế nhảy vọt. Trong suốt
40 năm (1950 – 1990), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Đài Loan tăng gấp
29,75 lần, bình quân mỗi năm tăng 8,9%. Tính bình quân cứ sau 8 năm, nền kinh tế
Đài Loan lại tăng gấp đôi và đáng chú ý là sự tăng trưởng này diễn ra liên tục 40
năm qua. Do vậy, người ta gọi nền kinh tế Đài Loan là “nền kinh tế được tăng theo
cấp số nhân”.
Kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao nên mặc dù dân dố tăng nhanh, từ 8 triệu
năm 1952 tăng lên 16 triệu năm 1975 và 20 triệu năm 1990, nhưng thu nhập bình
___________________________________________________________
Th.S. Lê Minh Chiến Khoa Lòch sử
Lòch sử thế giới hiện đại – Phần 2 - 25 -
quân đầu người tăng từ 148 USD năm 1952 và 250 USD năm 1959, đã liên tục tăng
đạt con số 7347 USD năm 1989 và 7.762 USD năm 1990.
Thành tựu kinh tế mà Đài Loan đạt được không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả
của sự lựa chọn chiến lược khôn khéo với các bước đi phù hợp, các chính sách kinh
tế mền dẻo cho từng thời kỳ phát triển. Đồng thời, trong thời kỳ đầu, Đài Loan
nhận được viện trợ khá lớn của Mỹ, trong đó có một phần rất quan trọng được sử
dụng vào mục đích đầu tư phát triển nông – công nghiệp, tuy nhiên, viện trợ Mỹ chỉ
đến 1965, sau đó ngừng hẳn, do vậy, Đài Loan phải dựa vào nguồn vốn chủ yếu
trong nước.
Những năm gần đây, do gặp nhiều khó khăn trong chiến lược phát triển kinh tế,
tình trạng thiếu năng lượng, vấn đề bảo hộ mậu dòch, vấn đề bảo vệ môi trường…
nên kinh tế Đài Loan đã có xu hướng phát triển chậm dần. Từ tốc độ tăng trưởng