Đề tài : Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
0 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG FDI
TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Sinh viên thực hiện: Phan Thị Thúy
Lớp: A12
Khóa: K45
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Việt Hoa

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

i

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1. Tình hình cấp phép đầu tƣ 29
1.2. Quy mô dự án 32
1.3. Cơ cấu vốn FDI từ năm 1988 đến nay 33
1.4. Tình hình phát triển các KCN, KCX, KCNC, KKT 38
2. Tình hình thực hiện các dự án FDI 39
II. Thực trạng về thực hiện vai trò quản lý Nhà nƣớc đối với FDI tại Việt
Nam……………………………………………………………………………… 40
1. Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nƣớc đối với FDI 41
2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến FDI 46
2.1. Quá trình hình thành hệ thống văn bản pháp luật về FDI 46
2.2. Tình hình thực hiện 48
3. Xây dựng và quản lý thực hiện các cơ chế, chính sách đối với FDI 49
3.1. Chính sách về thuế và ƣu đãi tài chính 49
3.2. Chính sách về đất đai 51
3.3. Chính sách về lao động 52
3.4. Chính sách về công nghệ 55
3.5. Chính sách về xúc tiến đầu tƣ 57
3.6. Các chính sách ƣu đãi khác 58
4. Đánh giá về thực hiện vai trò QLNN đối với FDI 61
4.1. Thành tựu 61
4.2. Hạn chế 62
CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI TẠI VIỆT NAM 67

iii

I. Quan điểm và phƣơng hƣớng nâng cao năng lực quản lý Nhà nƣớc đối với
hoạt động FDI 67
1. Quan điểm 67

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
BTO
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành
BOT
Hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao
BT
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CN
Công nghiệp
CGCN
Chuyển giao công nghệ
DV
Dịch vụ
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
ĐTNN
Đầu tƣ nƣớc ngoài
KD
Kinh doanh
KHCN
Khoa học công nghệ
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
KCN, KCX, KCNC
Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
KTQT
Kinh tế quốc tế
NSNN
1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Cho đến nay, Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) đã đƣợc nhìn nhận nhƣ là một
trong những “trụ cột” tăng trƣởng của nền kinh tế Việt Nam. Nhờ có sự đóng góp
quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao trong
nhiều năm qua và đƣợc biết đến là quốc gia năng động, đổi mới, thu hút đƣợc sự
quan tâm của cộng động quốc tế. Trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam, FDI
vẫn đóng vai trò quan trọng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Tuy
nhiên, vai trò của FDI chỉ thực sự quan trọng nếu đƣợc sử dụng có hiệu quả cao và
tạo đƣợc sự phát triển bền vững. Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ đó, công tác quản lý
Nhà nƣớc đối với FDI cần đƣợc đƣa lên hàng đầu.
Trong thời gian qua, công tác quản lý Nhà nƣớc đối với FDI đã đạt đƣợc những
thành tựu đáng kể, cải thiện đƣợc môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh, môi trƣờng pháp lý
thuận lợi, tạo ra một sân chơi bình đẳng giúp thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, công tác quản lý này còn tồn
tại nhiều khó khăn, hạn chế và cần có những biện pháp để khắc phục, đặc biệt là
trong thời kỳ hội nhập sâu và rộng vào kinh tế thế giới của nƣớc ta.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt
động Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Quản lý
Nhà nƣớc đối với hoạt động FDI tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp ” làm
đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của công tác quản lý Nhà nƣớc đối
với hoạt động FDI tại Việt Nam, mục đích nghiên cứu của đề tài là đƣa ra các nhóm
giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động FDI, thông
qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút FDI cũng nhƣ hiệu quả hội nhập đầu tƣ
3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển mạnh
mẽ trên thế giới, hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN), đặc biệt là hoạt động FDI,
đã trở thành một tất yếu khách quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
(KTQT) của các quốc gia. Công tác quản lý Nhà nƣớc đối với nguồn vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài là một trong những công cụ quan trọng để tăng cƣờng khả năng thu hút
FDI, thúc đẩy tiến trình tham gia vào xu thế tự do hóa đầu tƣ đang diễn ra rộng
khắp trên thế giới. Trong chƣơng một, luận văn sẽ lần lƣợt làm rõ những vấn đề cơ
bản liên quan đến nguồn vốn FDI và khái niệm quản lý Nhà nƣớc đối với FDI.
I. Những khái niệm cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1. Khái niệm
Đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hình thành thông qua sự chênh lệch về năng suất cận
biên của vốn giữa các nƣớc, sự khác nhau về quyền sở hữu các yếu tố sản xuất, tài
nguyên thiên nhiên, vòng đời của sản phẩm, trình độ phát triển không đồng đều của
lực lƣợng sản xuất… Các yếu tố này đã thúc đẩy sự trao đổi và phân công lao động
quốc tế dựa trên lợi thế so sánh giữa các quốc gia, đồng thời sự khác nhau giữa nhu
cầu và khả năng tích lũy vốn ở các nƣớc đã làm tăng nhu cầu đầu tƣ ra nƣớc ngoài
để thâm nhập, mở rộng thị trƣờng, tăng lợi nhuận và đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế
nhất định.
Nhìn chung, ĐTNN là một quá trình có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang
quốc gia khác theo các cam kết đầu tƣ đƣợc thỏa thuận nhằm đƣa lại lợi ích cho các
bên tham gia. Về bản chất, ĐTNN là hình thức xuất khẩu tƣ bản, một hình thức cao
hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI ) là một bộ phận cấu

với hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Ở nƣớc ta, khái niệm về FDI không đƣợc quy định cụ thể mà thông qua khái
niệm về ĐTNN. Khái niệm về ĐTNN đƣợc quy định rõ tại khoản 12 điều 3 Luật

5

đầu tƣ 2005: “ĐTNN là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng
tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tƣ”.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI nhƣ sau: “
FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc
bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền
kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của
mình.” Tài sản đƣợc đề cập đến trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể
là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, quy trình công nghệ, bất động
sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí
tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý,…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu,
trái phiểu, giấy ghi nợ,…). Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế
có nhân tố nƣớc ngoài.
1.2. Đặc điểm
Từ khái niệm của FDI, có thế khái quát đƣợc một số đặc điểm cơ bản về FDI
nhƣ sau:
 Đây là hình thức đầu tƣ bằng vốn của tƣ nhân do các chủ đầu tƣ tự quyết
định đầu tƣ, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi.
Hình thức này mang tính khả thi và đem lại hiệu quả kinh tế cao, không có những
ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
 Mục đích của hoạt động FDI là tìm kiếm lợi nhuận. FDI là hoạt động đầu tƣ
tƣ nhân, do đó mục đích ƣu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp FDI là tìm kiếm lợi
nhuận. Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần phải lƣu ý đặc
điểm này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý
đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các

mới và mua lại và sáp nhập qua biên giới.
1

 Đầu tƣ mới (Greenfield investment) là hoạt động đầu tƣ trực tiếp vào các cơ
sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nƣớc ngoài. 1
Theo định nghĩa của UNCTAD 7

 Mua lại và sáp nhập qua biên giới ( M&A – merger and acquisition): là một
hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh
nghiệp nƣớc ngoài đang hoạt động.
Phần lớn các vụ M&A đƣợc thực hiện giữa các tập đoàn xuyên quốc gia, tập
trung vào các lĩnh vực công nghiệp ô tô, dƣợc phẩm, viễn thông và tài chính ở các
nƣớc phát triển. Hoạt động M&A đƣợc phân làm 3 loại
 M&A theo chiều ngang: xảy ra khi hai công ty hoạt động trong cùng một
lĩnh vực sản xuất kinh doanh muốn hình thành một công ty lớn hơn để tăng
khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trƣờng của cùng một loại mặt hàng mà
trƣớc đó hai công ty cùng sản xuất.
 M&A theo chiều dọc: diễn ra giữa các công ty tham gia vào các giai đoạn
khách nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trƣờng, nhằm giảm chi phí
giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc tế hóa các giai đoạn khác
nhau của quá trình sản xuất và phân phối.
 M&A theo hƣớng đa dạng hóa hay kết hợp: là sự sáp nhập giữa các công ty
trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có liên quan, nhằm giảm
cơ bản rủi ro và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh

thẩm quyền của các bên tham gia, quy định rõ việc thực hiện phân chia kết quả kinh
doanh cho mỗi bên.Trong quá trình kinh doanh, các bên đều có thể thành lập ban
điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Các
bên khi tham gia hình thức này không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân
chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận khác giữa
các bên. Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nƣớc sở tại một
cách riêng rẽ.
 Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
BOT (xây dựng – vận hành – chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số mô
hình hay cấu trúc sử dụng đầu tƣ tƣ nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn

9

đƣợc dành riêng cho khu vực Nhà nƣớc. Trong một dự án xây dựng BOT, một
doanh nhân tƣ nhân đƣợc đặc quyền xây dựng và vận hàng một công trình mà
thƣờng do chính phủ thực hiện. Vào cuối giai đoạn vận hành, doanh nghiệp tƣ nhân
sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ. Ngoài hợp đồng BOT còn có hợp
đồng BTO và BT.
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài với cơ quan
có thẩm quyền của nƣớc chủ nhà để đầu tƣ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (
hoặc mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa công trình) và kinh doanh trong một thời gian
nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao không bồi hoàn
toàn bộ công trình cho nƣớc chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựng
chuyển giao BT, đƣợc hình thành tƣơng tự nhƣ hợp đồng BOT. Tuy nhiên hợp đồng
BTO sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chuyển giao lại cho
nƣớc chủ nhà và đƣợc chính phủ nƣớc chủ nhà dành cho quyền kinh doanh công
trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tƣ
và có lợi nhuận thỏa đáng về công trình đã xây dựng và chuyển giao.
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tƣ nƣớc

Nguồn lợi mà FDI mang lại cho nƣớc nhận đầu tƣ rất lớn. Cụ thể nhƣ sau:
 Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho thị trƣờng tài chính
Trong các lý luận về tăng trƣởng kinh tế, nhân tố vốn luôn đƣợc đề cập. Khi
một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu
nguồn vốn trong nƣớc không đủ, nền kinh tế này sẽ huy động nguồn vốn từ bên
ngoài, trong đó có vốn FDI.
Các nƣớc đang phát triển trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế luôn phải đối
mặt với vấn đề thiếu vốn đầu tƣ do không có tích lũy nội bộ hoặc tích lũy nội bộ
hạn chế. Bên cạnh đó, ở nhiều nƣớc, tâm lý chung của ngƣời dân là chƣa yên tâm
bỏ vốn đầu tƣ để sản xuất kinh doanh nếu chƣa có cơ chế huy động vốn thích hợp,
rõ ràng. Do đó rất cần có nguồn vốn bên ngoài để bổ sung cho đầu tƣ phát triển. Với
nhiều ƣu thế hơn so với những dòng vốn ĐTNN khác, loại hình FDI cho phép các
nƣớc sở tại khai thác đƣợc một cách tối ƣu nhất nguồn vốn bên ngoài, có thêm
nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Nguồn vốn FDI đƣợc đánh giá là rất
quan trọng đối với các nƣớc đang phát triển, chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng

11

vốn đầu tƣ toàn xã hội của các nƣớc đang và kém phát triển. Trong giai đoạn 1998 –
2003, FDI thƣờng xuyên chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tƣ cho tài sản cố định
của các nƣớc đang và kém phát triển. Nguồn vốn FDI không chỉ góp phần tạo điều
kiện cho nguồn vốn Nhà nƣớc tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ƣu tiên (nhƣ
đầu tƣ cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội,…) mà còn góp phần nâng cao
chất lƣợng, hiệu quả nguồn vốn trong nƣớc. Vốn dƣ thừa trong dân đƣợc kích thích
đƣa vào sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp Nhà nƣớc phải tăng cƣờng đầu tƣ
và chú ý tới hiệu quả đầu tƣ trong bối cảnh phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có
vốn FDI. Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra liên kết với các công ty trong nƣớc
nhận đầu tƣ thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công.
Qua đó, FDI thúc đẩy đầu tƣ trong nƣớc phát triển, gắn kết các công ty trong nƣớc
với thị trƣờng thế giới. Các tiềm năng, thế mạnh trong nƣớc nhờ đó mà đƣợc khai

nƣớc đang phát triển có xu hƣớng tăng lên. Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào tạo
việc làm, nâng cao trình độ cho ngƣời lao động. Năng suất lao động trong các doanh
nghiệp FDI thƣờng cao hơn trong các doanh nghiệp trong nƣớc. Ngoài ra, tạo việc
làm không chỉ tăng thu nhập cho ngƣời lao động mà còn góp phần tích cực giải
quyết các vấn đề xã hội. Đây là các yếu tố có ảnh hƣởng lớn tới tăng trƣởng. Các
doanh nghiệp này thƣờng xây dựng cho mình một đội ngũ công nhân, nhân viên
lành nghề, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật cao. Đội ngũ cán bộ của nƣớc nhận
đầu tƣ tham gia quản lý hoặc phụ trách kỹ thuật trong các dự án FDI trƣởng thành
về nhiều mặt, đƣợc tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong và ngoài nƣớc, đƣợc tiếp
thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của nƣớc ngoài. Đặc biệt đối với hình
thức doanh nghiệp liên doanh, chủ đầu tƣ của nƣớc chủ nhà cùng tham gia quản lý
với các nhà đầu tƣ ngoài nƣớc nên có thêm điều kiện tiếp cận và học tập kinh
nghiệm quản lý tiên tiến của nƣớc ngoài trong sản xuất kinh doanh. FDI còn góp
phần quan trọng đối với sự phát triển giáo dục của nƣớc nhà thông qua các khoản
trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo, dạy nghề, đƣa lao động đi đào tạo tại
nƣớc ngoài. Các dự án FDI có yêu cầu cao về chất lƣợng nguồn lao động, do đó sự
phát triển của FDI ở các nƣớc chủ nhà đặt ra một yêu cầu khách quan là phải nâng
cao chất lƣợng về trình độ chuyên môn cũng nhƣ ngoại ngữ của ngƣời lao động.
Bản thân ngƣời lao động nếu muốn có cơ hội làm trong những doanh nghiệp FDI
cũng phải học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.

13

Tóm lại, FDI đem lại lợi ích tạo công ăn việc làm. Đây là một tác động kép:
tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho ngƣời lao động, từ đó
tạo điều kiện tăng tích lũy trong nƣớc. Tuy nhiên, sự đóng góp này còn phụ thuộc
rất nhiều vào chính sách và khả năng kĩ thuật của nƣớc nhận đầu tƣ.
 Hoạt động FDI góp phần thúc đẩy xuất khẩu ở các nƣớc chủ nhà, giúp cân
bằng cán cân thanh toán
Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trƣởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu,

 FDI đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc
Cùng với sự phát triển, khu vực có vốn FDI đóng góp ngày càng tăng vào
ngân sách Nhà nƣớc. Điều này đƣợc thể hiện thông qua sự đóng góp vào thuế và
các khoản lệ phí nhƣ tiền thuê đất, phí cho các loại hình dịch vụ khác….
Tóm lại, FDI giữ một vai trò to lớn và khá toàn diện đối với sự phát triển KT –
XH của các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Với những ƣu điểm nổi bật đó, việc thu hút ngày
càng nhiều FDI đã, đang và sẽ trở thành một trong những chiến lƣợc phát triển kinh
tế quan trọng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, thu hút tới mức nào còn tùy thuộc vào
điều kiện, nhu cầu tạo vốn để phát triển kinh tế mỗi nƣớc và một số yếu tố khác.
3.2. Tác động tiêu cực
Mặc dù những lợi ích nêu trên không phải là nhỏ nhƣng việc thu hút và sử
dụng vốn FDI cũng mang lại một số tác động tiêu cực.
 Chất lƣợng thu hút FDI còn thấp, thiếu tính bền vững là một thực tế khó bác
bỏ. Biểu hiện rõ nhất của hạn chế này là phần giá trị gia tăng còn thấp. Phần lớn các
doanh nghiệp FDI tập trung khai thác lợi thế lao động rẻ, nguồn tài nguyên sẵn có,
thì trƣờng tiêu thụ “dễ tính” để lắp ráp, gia công sản phẩm tiêu thụ nội địa và xuất
khẩu. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa khu vực FDI với các doanh nghiệp nội địa còn
ít, chƣa hình thành đƣợc các ngành công nghiệp phụ trợ, liên kết sản xuất theo
chuỗi cung ứng hàng hóa nên giá trị gia tăng tạo ra không cao. Hơn nữa, do chủ đầu
tƣ trực tiếp sở hữu và quản lý vốn vì các mục tiêu của mình nên họ thƣờng xuyên
đầu tƣ vào các ngành, các lĩnh vực nhiều khi không trùng khớp với mong muốn của
nƣớc sở tại. Nếu không có những quy hoạch và cơ chế quản lý FDI hữu hiệu, sẽ dễ
dẫn tới tình trạng đầu tƣ tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác

15

quá mức, tăng ô nhiễm môi trƣờng, cơ cấu kinh tế méo mó hoặc chậm đƣợc cải
thiện và tích tụ những nguy cơ mất ổn định chung của đời sống KT – XH quốc gia.
 Nƣớc sở tại phải đƣơng đầu với các chủ đầu tƣ quốc tế giàu kinh nghiệm,
sành sỏi trong kinh doanh, nên trong nhiều trƣờng hợp dễ bị thua thiệt hoặc chịu sức

cho quốc kể dân sinh thì cần phải có sự điều hòa theo một định hƣớng chung, có
hiệu quả cao nhất. Nếu trong một nền kinh tế thị trƣờng thuần túy, cơ chế đó là giá
cả. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế hỗn hợp thì vai trò của Nhà nƣớc là đặc biệt
quan trọng. Vai trò đó đƣợc nâng lên trong điều kiện chúng ta phải tập trung mọi
sức lực để tăng trƣởng và phát triển nhanh, đảm bảo các mục tiêu công bằng xã hội.
QLNN trong nền kinh tế thị trƣờng không những giúp đảm bảo mục đích phát triển
kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng mà còn phát huy đƣợc các mặt tích cực của nền
kinh tế, hạn chế các nhƣợc điểm của nền kinh tế thị trƣờng, tạo môi trƣờng bình
đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Nhà nƣớc cũng giải quyết tốt các
quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế trong nƣớc.
Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý vừa với tƣ cách là cơ quan quyền lực
đại diện cho nhân dân, vừa với chức năng là ngƣời chủ tài sản thuộc sở hữu toàn
dân. Có nhiều quan điểm xung quanh vai trò và chức năng của Nhà nƣớc trong nền
kinh tế thị trƣờng, nhƣng trong giai đoạn hiện nay, có thể nói, Nhà nƣớc tập trung
chủ yếu vào các chức năng sau:
Một là, thể chế hóa một cách đồng bộ, nhất quán các chính sách kinh tế và cơ
chế kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh
lành mạnh, chống độc quyền.
Hai là, cải cách bộ máy Nhà nƣớc sao cho bộ máy này có đủ khả năng và tƣ
cách là một ngƣời trọng tài nghiêm minh, giải quyết và điều hòa các mối quan hệ
lợi ích trong nền kinh tế thị trƣờng.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tƣ có trọng điểm khu vực kinh tế quốc
doanh, xây dựng một số ngành mũi nhọn, cung cấp các dịch vụ công cộng cho toàn
xã hội.
Với các chức năng nhƣ vậy, phƣơng thức quản lý của Nhà nƣớc cũng là quản
lý gián tiếp thông qua công cụ Luật pháp, kế hoạch và các chính sách kinh tế vĩ mô
quan trọng. Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nƣớc sử dụng
các công cụ quản lý của mình với tƣ cách là môi trƣờng, là vật truyền dẫn và khách
thể quản lý tới các đối tƣợng quản lý. Môi trƣờng tốt bao gồm không chỉ môi trƣờng



18

Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực tƣ nhân nƣớc ngoài có quyền sở hữu và
quyền quản lý. Động cơ của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khác với mục tiêu của nƣớc chủ
nhà. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài quan tâm đến những vấn đề thiết thực nhƣ thuế các
loại, chi phí sản xuất và cuối cùng là lợi nhuận thực tế. Trong khi đó nƣớc chủ nhà
lại quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy,
QLNN đối với FDI phải tạo điều kiện cho cả hai lợi ích này dung hòa đƣợc với
nhau, bằng các chính sách hƣớng dẫn cụ thể và hấp dẫn, đồng thời không áp đặt, ép
buộc một cách chủ quan duy ý chí.
Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành. Lý thuyết và
kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trƣờng
nhƣng có xu hƣớng “bảo hộ” mạnh. Vì vậy, việc thu hút các công ty này là một việc
làm tốt, cần thiết. Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ nhƣ công
nghệ, bí quyết quản lý kinh doanh.
Thứ tƣ, FDI đƣợc thực hiện thông qua các dự án đầu tƣ. Quy trình hoạt động
dự án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình các loại dự án khác. Quy trình này
bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết, xin
giấy phép cho việc triển khai và đƣa dự án vào hoạt động. Sự phức tạp này đòi hỏi
cần có một cơ quan QLNN đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án hoạt động thành
công.
Mục tiêu của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu chung của
Nhà nƣớc trong quan hệ hợp tác với nƣớc ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực có thể có
của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trƣờng và sự phân công lao
động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên của đất nƣớc
để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích lũy, cải thiện đời sống nhân
dân, từng bƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu tƣ thực hiện một
cách tốt nhất, hiệu quả nhất các quy định về đầu tƣ tại Việt nam, tạo môi trƣờng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status