chuyên đề tốt nghiệp nâng cao khả năng thắng thầu của nhà thầu trong nước (doanh nghiệp nhà nước) trong đấu thầu xây lắp quốc tế - Pdf 13

Đề án môn học Kinh tế đầu t
Lời nói đầu
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và nhà nớc, những năm qua khối l-
ợng đầu t nói chung và đầu t nớc ngoài nói riêng đã tăng lên rõ rệt. Nhiều công
trình quy mô lớn có công nghệ, kỹ thuật mới mà các nhà thầu xây dựng và t vấn xây
dựng của Việt nam cha đảm đơng đợc, đòi hỏi phải đấu thầu quốc tế. Đến nay đã có
nhiều nhà thầu pháp nhân nớc ngoài vào thực hiện t vấn xây dựng xây lắp công
trình tại Việt nam. Việc quy định các nhà thầu phải liên doanh liên kết với nhà thầu
Việt nam hoặc phải thuê thầu phụ Việt nam đã thực hiện một phần việc bảo hộ thị
trờng xây dựng trong nớc, tạo điều kiện cho các nhà thầu Việt nam có điều kiện học
hỏi, nâng cao trình độ quản lý và tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến. Nhờ đó
một số nhà thầu đã vơn lên, tham dự và trúng thầu một số gói thầu lớn thuộc các dự
án (DA) có đấu thầu quốc tế.
Tuy nhiên đứng trớc thực trạng những công trình đợc xây dựng ngay trên đất
nớc mình mà tất cả mọi công việc vẫn lệ thuộc vào ngời nớc ngoài. Không phải chỉ
bị bóp nghẹt về khả năng tài chính mà còn làm giảm đi vị thế cũng nh khả năng
nắm bắt khoa học kỹ thuật. Nếu không nhanh chóng tự làm chủ DA thì không
những không đem lại công việc thực sự cho ngời lao động mà giá trị kinh tế thu đợc
cho đất nớc bị chia sẻ. Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài: Nâng cao khả năng
thắng thầu của nhà thầu trong nớc (Doanh nghiệp nhà nớc) trong đấu thầu
xây lắp quốc tế. Do bản thân còn thiếu kinh nghiệm trong thực tế cũng nh hạn chế
về mặt lý luận nên đề án không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong đợc sự góp ý
của các thầy cô giáo và các bạn để các bài viết sau đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn nhiệt tình của cô giáo, Thạc sĩ Trần
Thị Mai Hơng, giảng viên thuộc bộ môn Kinh tế Đầu t, ĐH KTQD HN, ngời đã góp
phần giúp cho đề án này đợc hoàn thiện hơn.1
Đề án môn học Kinh tế đầu t
Chơng I: các vấn đề Lý luận chung

dân nói chung.
2.1.Vai trò với chủ đầu t:
2
Đề án môn học Kinh tế đầu t
-Thực hiện có hiệu quả yêu cầu về chất lợng công trình, tiết kiệm đợc vốn đầu t
xây dựng cơ bản, bảo đảm tiến độ xây dựng công trình.
-Thông qua đấu thầu xây lắp, tăng cờng quản lý vốn đầu t, tránh thất thoát lãng
phí.
-Bảo đảm quyền chủ động, tránh tình trạng phụ thuộc vào một nhà xây dựng
trong xây dựng công trình.
-Tạo môi trờng cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các doanh nghiệp xây
dựng.
-Cho phép chủ đầu t nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ kinh tế kỹ thuật
của chính các chủ đầu t.
2.2.Vai trò đối với nhà thầu
-Tham dự đấu thầu và hớng tới mục tiêu thắng thầu, các nhà thầu phải tự hoàn
thiện mình trên tất cả phơng diện.
-Nhờ nguyên tắc công khai và bình đẳng trong đấu thầu: các nhà thầu cạnh tranh
bình đẳng trên thơng trờng, các nhà thầu phải phát huy tối đa tính chủ động trong
việc tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu thầu và kí kết hợp đồng (khi trúng thầu) tạo
công ăn việc làm cho ngời lao động, phát triển sản xuất.
-Nhờ đấu thầu, các nhà thầu phải đầu t có trọng điểm nhằm nâng cao năng lực
công nghệ và kỹ thuật của mình. Từ đó sẽ nâng cao năng lực của doanh nghiệp
trong tham gia đấu thầu.
-Để đạt mục tiêu thắng thầu, các công ty xây lắp phải tự hoàn thiện các mặt
quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong tham gia đấu thầu và
thực hiện công trình đã thắng thầu.
-Thông qua phơng thức đấu thầu, các công ty xây lắp sẽ tự nâng cao hiệu quả
công tác quản trị chi phí kinh doanh, quản lý tài chính, thúc đẩy nâng cao hiệu quả
kinh tế khi giá bỏ thầu thấp nhng vẫn thu đợc lợi nhuận.

-Phơng thức hai giai đoạn.
Loại hình đấu thầu
Đấu thầu có 4 loại hình, phụ thuộc vào đặc điểm của đối tợng mua bán để phân
chia:
- Đấu thầu tuyển chọn t vấn.
- Đấu thầu xây lắp.
- Đấu thầu mua sắm hàng hóa và các dịch vụ khác.
4
Đề án môn học Kinh tế đầu t
- Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án.
Trong phạm vi đề tà này, tôi chỉ xin đi sâu vào tìm hiểu loại hình đấu thầu xây
lắp và cụ thể là đấu thầu xây lắp Quốc tế.
II. Đấu thầu xây lắp ( Đấu thầu xây lắp quốc tế )
1.Khái niệm
Đấu thầu xây lắp là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng, lắp đặt
công trình và các hạng mục công trình nhằm lựa chọn ra nhà thầu xây lắp có thể
đáp ứng đợc yêu cầu kỹ thuật của công việc với mức chi phí hợp lý nhất. Nhà thầu
xây dựng có thể là nhà thầu trong nớc hoặc nhà thầu quốc tế. Đối với đấu thầu xây
lắp có sự tham gia của nhà thầu quốc tế thì đợc gọi là đấu thầu xây lắp quốc tế. Các
công việc xây lắp đợc chia thành các gói thầu tuỳ theo tính chất kỹ thuật hoặc trình
tự thực hiện DA có quy mô hợp lý và bảo đảm tính đồng bộ của DA. Gói thầu có
thể là toàn bộ DA hoặc một phần công việc của DA.
2.Vai trò của hoạt động xây lắp trong nền kinh tế và sự cần thiết phải có đấu
thầu xây lắp
Công cuộc đổi mới đã tạo nên những biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực xây dựng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc dân, vị trí của ngành xây
dựng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ngày càng quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trờng, xây dựng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn.
Thực tế cho thấy trong những năm qua, mỗi năm nhà nớc đã phải chi trên dới 150
nghìn tỷ đồng vốn đầu t cho xây dựng cơ bản, chiếm khoảng 30% GDP. Điều đó

thời gian.
Có thể nói, hoạt động xây lắp không chỉ tạo ra những sản phẩm có giá trị về mặt
kinh tế mà còn mang tính văn hoá. Sản phẩm xây lắp thờng có thời gian tồn tại lâu
dài, có những sản phẩm trờng tồn với thời gian. Các công trình kiến trúc nh: thánh
địa Mỹ Sơn, lăng tẩm của vua chúa ở cố đô Huế, thành nhà Hồ ở Thanh Hoá đều là
sản phẩm của hoạt động xây lắp. Đấy đều là những di tích có ý nghĩa về mặt lịch
sử, là những công trình mà ngời xa đã xây dựng nên. Các công trình đó đã đợc thiết
kế và xây dựng rất công phu. Nếu không thì chắc hẳn nó không tồn tại đến ngày
nay. Các sản phẩm xây lắp này gắn chặt với yếu tố văn hoá và nó trở thành vô giá.
Nh vậy hoạt động xây dựng và sản phẩm của nó giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế cũng nh trong đời sống con ngời. Ngời ta phải huy động rất nhiều nguồn lực
với khối lợng quy mô không phải là nhỏ để hoạt động xây dựng đó đợc diễn ra và
tạo ra những sản phẩm hoàn thiện nhất trong khả năng có thể. Nếu sản phẩm xây
lắp xảy ra những sự cố mà nguyên nhân lại chính do hoạt động xây lắp tạo ra thì
những nguồn lực đã đầu t sẽ trở nên lãng phí. Chính vì vậy các công việc của hoạt
động xây lắp nh thiết kế, thi công cần phải đợc thực hiện một cách chặt chẽ, đảm
bảo chất lợng với mức chi phí hợp lý nhất.
6
Đề án môn học Kinh tế đầu t
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, sản xuất kinh doanh xây dựng là một lĩnh
vực hoạt động mang nhiều yếu tố rủi ro do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan gây ra. Các DA đầu t xây dựng thờng có đặc tính là đợc lập ra trớc khi
thực hiện một vài năm thậm chí 5 đến 10 năm. Khó khăn và cũng là đặc trng của
DA là chịu tác động bởi tính bất định của những biến chuyển kinh tế, kỹ thuật, xã
hội. Đặc biệt là với các DA lớn và dài hạn, nhiều biến cố đột xuất xảy ra trong quá
trình thực hiện DA và do không có sự nhìn nhận trớc nên đã gây ra những tổn hại
nghiêm trọng. Có thể nói hoạt động xây lắp là hoạt động chứa nhiều yếu tố rủi ro.
Đối với các rủi ro, nếu không biết phòng tránh sẽ ảnh hởng rất lớn đến tiến độ xây
dựng, chất lợng công trình, hiệu quả vốn đầu t và gây ra những tổn thất không nhỏ
cho các doanh nghiệp xây dựng nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung. Rủi ro

Nếu tham gia dự thầu thì các nhà thầu sẽ có cơ hội nhận đợc L đồng lợi nhuận
với xác suất A%, đồng thời có thể mất B đồng chi phí với xác suất là (1-A)%. Ngợc
lại, không tham gia tranh thầu thì nhà thầu không đợc gì. Nh vậy, đấu thầu đã tạo ra
cơ hội có lợi nhuận, giải quyết việc làm cho các nhà thầu. Đồng thời nhà thầu cũng
đã tích lũy đợc nhiều kinh nghiệm trong cạnh tranh, tiếp thu đợc nhiều kiến thức
khoa học công nghệ tiến tiến trong việc xây dựng dự án lớn, có điều kiện để khẳng
định mình ở hiện tại và trong tơng lai, có cơ hội cạnh tranh với nhau trên thị trờng
trong nớc và quốc tế
Trong những năm qua, công tác đấu thầu đã trở nên phổ biến ở nớc ta. Các cơ
quan quản lý nhà nớc có đủ thông tin thực tế và cơ sở để đánh giá đúng năng lực
thực sự (tài chính, khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất) của các nhà thầu. Nhờ đấu thầu
đã nâng cao hiệu quả dự án, tiết kiệm cho nhà nớc hàng trăm tỷ đồng, trung bình từ
8-15% so với dự toán ban đầu.
Tóm lại, hoạt động xây dựng có vị trí hết sức quan trọng, thờng đợc đặt vào hàng
đầu trong chính sách về tài chính và xã hội của đất nớc. Chính vì vậy mà nó cần đợc
cạnh tranh một cách công khai thông qua đấu thầu. Đấu thầu xây lắp với 4 nguyên
tắc: hiệu quả - cạnh tranh - công bằng - minh bạch sẽ tiết kiệm đợc chi phí cho chủ
đầu t và mở ra nhiều cơ hội cho nhà thầu.
3. Điều kiện đấu thầu quốc tế
Theo điều 10, quy chế Đấu thầu (ban hành kèm theo NĐ 88/1999/NĐCP ngày
1/9/1999 của Chính phủ) quy định:
" Chỉ đợc tổ chức đấu thầu quốc tế trong các trờng hợp sau:
- Đối với gói thầu mà không có nhà thầu nào trong nớc có khả năng đáp ứng yêu
cầu của gói thầu.
8

Xác suất thắng
thầu A%
Quyết định
Không đ~ợc gì, mất gì

nên đến nay số lợng nhà thầu Việt nam (các nhà thầu là các doanh nghiệp nhà nớc)
trúng thầu là không lớn, nếu có chỉ là các gói thầu có giá trị không lớn.
Có thể nói, về phía DA có 2 điều kiện để tổ chức đấu thầu quốc tế, DA chỉ đợc tổ
chức khi một trong hai điều kiện đó xảy ra. Trong điều kiện thị trờng xây dựng Việt
nam hiện nay, nhà thầu trong nớc năng lực hạn chế, nguồn vốn sử dụng cho DA th-
ờng đợc tài trợ hoặc vay từ nớc ngoài do đó các DA xây dựng thờng tổ chức đấu
thầu quốc tế là một điều tất nhiên.
4. Nhà thầu xây lắp
Nhà thầu xây lắp là tổ chức kinh tế có đủ t cách pháp nhân tham gia đấu thầu.
Nhà thầu xây lắp trong nớc là nhà thầu có t cách pháp nhân Việt nam và hoạt động
hợp pháp tại Việt nam. Nhà thầu nớc ngoài là các công ty xây dựng nớc ngoài,
không phải là nhà thầu Việt nam. Do tầm quan trọng của hoạt động xây lắp nên để
tham gia dự thầu các DA xây lắp thì nhà thầu phải đảm bảo các điều kiện cơ bản
sau:
- Có đủ giấy đăng kí kinh doanh.
9
Đề án môn học Kinh tế đầu t
- Có đủ năng lực tài chính, kỹ thuật đáp ứng đợc yêu cầu của gói thầu.
Các nhà thầu phải xét về điều kiện pháp lý và khả năng của mình để tham gia dự
thầu. Năng lực tài chính và kỹ thuật là hai yếu tố rất quan trọng, cốt lõi của một nhà
thầu. Đó sẽ là một trong những tiêu chí để lựa chọn nhà thầu. Vì thế muốn tham dự
thầu thì phải có hai điều kiện cơ bản trên. Ngoài ra, khi dự thầu nhà thầu chỉ đợc
tham gia một đơn dự thầu trong một gói thầu, dù là đơn phơng hay là liên doanh dự
thầu. Trờng hợp tổng công ty đứng tên dự thầu thì các đơn vị trực thuộc không đợc
phép tham dự với t cách là một nhà thầu độc lập trong cùng một gói thầu. Các nhà
thầu tham gia đấu thầu ở Việt nam phải cam kết mua sắm và sử dụng các vật t thiết
bị phù hợp về chất lợng, giá cả đang sản xuất, gia công hoặc hiện có tại Việt nam.
Nhà thầu xây lắp tham dự thầu bằng cách gửi hồ sơ dự thầu cho bên mời thầu.
Bên mời thầu căn cứ trên hồ sơ dự thầu để xét thầu, đánh giá năng lực nhà thầu. Hồ
sơ dự thầu rất quan trọng với nhà thầu xây lắp. Nếu hồ sơ dự thầu đợc chuẩn bị chu

- Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ dự thầu.
- Giai đoạn nộp hồ sơ dự thầu.
- Giai đoạn thơng thảo để kí kết hợp đồng giao nhận thầu.
- Giai đoạn thực hiện hợp đồng.

Giai đoạn tìm kiếm thông tin:
Thông tin đợc đánh giá là rất quan trọng trong điều kiện hiện nay, có thông tin
và cập nhật thông tin là vấn đề sống còn của bất cứ một doanh ngiệp nào. Trong
công ty xây lắp và trong đấu thầu, thông tin đợc thể hiện ở tin tức về các công trình
xây lắp đợc đấu thầu, những tin tức về đối thủ cạnh tranh và những tin tức về giá cả,
tình hình biến động trên thị trờng về mọi mặt
Nguồn thông tin của các công ty xây lắp tham gia đấu thầu thờng bao gồm:
- Nguồn thông tin từ các phơng tiện thông tin đại chúng nh: đài, báo tạp chí,
thông tin trên mạng
- Nguồn thông tin từ mối quan hệ của công ty với bạn hàng với chủ đầu t.
- Nguồn thông tin từ nội bộ: Tổng công ty, các công ty trong tổng công ty,
cán bộ công nhân viên trong công ty.
Sau khi có thông tin từ các nguồn thông tin trên, thông tin đợc chuyển đến bộ
phận phân tích, xử lý thông tin của công ty. Bộ phận này phân tích, đánh giá và đa
ra những kết quả của thông tin, từ đó công ty đa ra những biện pháp cần thiết và
quyết định xem có tham dự thầu hay không.

Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ dự thầu:
Sau khi công ty quyết định tham dự thầu và có hồ sơ mời thầu của chủ đầu t,
công ty đi vào việc chuẩn bị hồ sơ dự thầu. Khoảng thời gian này đợc bắt đầu từ khi
nhận đợc hồ sơ mời thầu đến khi nộp hồ sơ dự thầu. Việc chuẩn bị hồ sơ dự thầu là
việc chuẩn bị các tài liệu yêu cầu của chủ đầu t về công ty và công trình tham gia
đấu thầu.
11
Đề án môn học Kinh tế đầu t

- Cải tiến phơng thức thanh toán và các điều kiện khác trong hoạt động nhận thầu
thi công xây lắp sau khi trúng thầu.
- Tăng cờng tìm kiếm thị trờng về các công trình sẽ đợc đầu t xây dựng nhất là tăng
cờng quan hệ vơí các chủ đầu t.
- Đẩy mạnh hoạt động quảng cáo, truyền thông và phân đoạn thị trờng
12
Đề án môn học Kinh tế đầu t
Với hình thức cạnh tranh này ta có thể mở rộng đợc thị trờng, thu hút thêm
khách hàng và nâng cao danh tiếng của doanh nghiệp. Nhng biện pháp này có hạn
chế là: khi công ty đa dạng hóa sản phẩm thì có nghĩa là dàn trải các nguồn lực và
nếu nh công trình không đảm bảo đúng nh cam kết của công ty thì lập tức mang lại
hiệu quả tiêu cực mà không thể cứu vãn nổi. Vì thế cạnh tranh theo chiều rộng là
cạnh tranh có giới hạn.
6.2. Cạnh tranh theo chiều sâu
Đây là hình thức cạnh tranh bằng hàm lợng chất xám có trong sản phẩm, bao
gồm:
- Đầu t đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ phục vụ công tác quản lý, khảo sát
thiết kế đến khi thi công công trình.
- Đào tạo bồi dỡng nâng cao trình độ của ngời lao động bao gồm cả cán bộ quản lý,
cán bộ kỹ thuật và công nhân sản xuất
- Tăng cờng hoạt động nghiên cứu nâng cao chất lợng công trình, đổi mới và hoàn
thiện các tiêu chuẩn về kỹ thuật để nâng cao tính an toàn và thẩm mỹ của công trình
- Hoàn thiện công tác lập tiến độ thi công, tổ chức thi công công trình và việc xây
dựng biện pháp kỹ thuật tối u đối với mỗi một công trình.
Đây là hình thức cạnh tranh không có điểm dừng mà các công ty cần phải quan
tâm và theo đuổi để đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao về chất lợng công trình của
chủ đầu t, nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của công ty.
6.3. Phơng thức cạnh tranh trong đấu thầu
Những chỉ tiêu chính mà chủ đầu t dùng để đánh giá và giao thầu cho một đơn vị
xây lắp là:

triển của công ty trong giai đoạn hiện nay.

Cạnh tranh bằng giá dự thầu:
Khác với các sản phẩm, giá sản phẩm xây dựng đợc xác định trớc khi sản xuất
và đa vào tiêu dùng, thông thờng nó đợc xác định thông qua đấu thầu (bên mời thầu
xác định mức giá hợp lý từ các giá bỏ thầu trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu, là
giá có lợi nhất cho chủ đầu t.
Cạnh tranh bằng giá là cuộc cạnh tranh quyết liệt trong cơ chế thị trờng. Các
công ty tham gia đấu thầu đều muốn đa ra một mức giá hấp dẫn với bên mời thầu để
có thể thắng thầu. Một số chính sách giá thờng đợc áp dụng trong việc xác định giá
tranh thầu:
- Chính sách giá cao: áp dụng khi công ty có công nghệ vợt trội so với các đối
thủ cạnh tranh hoặc thi công trong điêù kiện đặc biệt hoặc nhà thầu xây dựng đang
có quá nhiều việc để làm; nhng mức giá không đợc cao hơn mức giá Nhà nớc qui
định.
14
Đề án môn học Kinh tế đầu t
- Chính sách giá trung bình: khi các đối thủ tham dự thầu có u thế gần nh nhau.
- Chính sách giá thấp: áp dụng trong điều kiện ngăn chặn đối thủ cạnh tranh
tham gia vào thị trờng, muốn gây thiện cảm ban đầu để làm ăn lâu dàI và trong tr-
ờng hợp công ty thừa năng lực sản xuất, công nhân không có việc làm nhằm thắng
thầu để bù đắp một phần chi phí cố định. (Giá bỏ thầu phải lớn hơn chi phí biến
đổi).
- Chính sách giá linh hoạt theo giá thị trờng: đa ra giá hợp lý đảm bảo phù hợp với
tình hình thị trờng, phù hợp với mục tiêu của công ty và phù hợp với mục tiêu của
bên mời thầu.
Tuỳ từng công trình, tuỳ từng giai đoạn và từng địa điểm xây dựng mà công ty
nên lựa chọn mức giá phù hợp, đảm bảo khả năng cạnh tranh của công ty khi tham
gia dự thầu.


đẳng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nớc của các DA đầu t XDCB cũng nh các
DA khác, Chính phủ đã ban hành quy chế đấu thầu thống nhất trong cả nớc. Kể từ
khi Quy chế đấu thầu đợc ban hành, hoạt động đấu thầu đã đi vào khuôn khổ,
không tự phát nh trớc đây.
Những năm trớc đây, các công trình đầu t xây dựng cơ bản có giá quyết toán
công trình thờng vợt quá tổng dự toán và tổng mức đầu t đợc duyệt. Đây là một thực
trạng gây thất thoát nguồn lực trong nớc đồng thời phát sinh nhiều tiêu cực trong
công tác quản lý và thực hiện DA. Đấu thầu ra đời đã giúp cho khối lợng công việc,
giá thành đợc tính toán chính xác, tiến độ thi công đợc lên kế hoạch cụ thể nên đã
tiết kiệm đợc rất nhiều chi phí, tránh thất thoát nguồn lực cho các chủ đầu t. Nhà
thầu muốn trúng thầu phải tận dụng những u thế của mình để hạ giá thành của
công trình nhng vẫn đảm bảo chất lợng công trình. Thông thờng giá trúng thầu th-
ờng thấp hơn giá dự toán. Đối với gói thầu xây lắp, mức tiết kiệm vốn bình quân đạt
tỷ lệ là 14%, cao hơn so với các gói thầu mua sắm hàng hoá. Nguyên nhân do các
yếu tố đầu vào của sản phẩm xây dựng có thể biến động trong quá trình thi công
nh: lơng công nhân, giá nguyên vật liệu, biện pháp tổ chức thi công. Đây là những
nhân tố mà nhà thầu có thể phát huy tính u thế của mình so với nhà thầu khác nhằm
hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh. Bên mời thầu thờng tính giá của công
trình dựa trên những tiêu chuẩn trung bình mà không thể xem xét hết khả năng của
các nhà thầu, do đó mà giá trúng thầu bao giờ cũng thấp hơn giá dự toán. Một số tr-
ờng hợp, giá trúng thầu có thể thấp hơn giá giá dự toán rất nhiều, gần nh không
mang lại lợi nhuận cho các nhà thầu. Đây có thể coi là một chiến lợc của các nhà
thầu nhằm tạo thị trờng, gây uy tín trên thị trờng xây dựng. Tuy nhiên, hiện tợng
này chỉ xảy ra với những nhà thầu mới tham gia thị trờng xây dựng đó và nhà thầu
này phải có tiêm lực rất mạnh.
Công tác đấu thầu những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, mang lại
hiệu quả cao, môi trờng cạnh tranh lành mạnh. Năm 2001, tổng số mua sắm trong
16
Đề án môn học Kinh tế đầu t
đầu t (giá trúng thầu) là trên 68387 tỷ đồng, tơng đơng 4.56 tỷ USD, tiết kiệm

Hiện tơng bỏ thầu giá thấp, mang tính phá giá đang trở nên phổ biến, gây khó khăn
cho quản lý nhà nớc và các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Trong 5 năm từ 1995 đến 2000, tổng số vốn đầu t xây dựng cơ bản đạt khoảng
gần 400 nghìn tỷ đồng, gấp 1.7 lần so với năm trớc. Nếu trung bình mỗi năm, nhà
nớc chi trên dới 150 nghìn tỷ đồng vốn đầu t cho xây dựng thì chỉ cần tiết kiệm đợc
1% thông qua đấu thầu chúng ta đã có thêm hàng tỷ đồng. Nhng có phải vì tiết
17
Đề án môn học Kinh tế đầu t
kiệm cho nhà nớc mà thực tế hiện nay đang có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa
các nhà thầu xây dựng? Thực tế cho thấy, các nhà thầu thi nhau giảm giá, thậm chí
có nhà thầu bỏ giá thấp hơn giá trị thực tế của công trình, miễn sao dành đợc phần
thắng. Theo qui định, giá đánh giá thấp nhất và giá đề nghị trúng thầu không đợc v-
ợt quá giá gói thầu đợc duyệt sẽ đợc xem xét trúng thầu (điều 31, khoản 1 và điều
42, khoản 1- NĐ88/NĐ-CP). Vì thế, thực tế đã có nhiều DA có mức giá quá thấp so
với gói thầu đợc duyệt trong kế hoạch đấu thầu. Hầm đờng bộ đèo Hải Vân, theo
giá gói thầu 1A, giá gói thầu là 72.5 triệu USD, giá trúng thầu là 46.1 triệu USD
(bằng 63.5%) hoặc gói thầu 2A, giá gói thầu là 42.1 triệu USD, giá trúng thầu là
28.1 triệu USD (bằng 66.7%). Gói thầu 9 cầu đờng sắt, giá gói thầu là 2.4 tỷ Yên
nhng giá trúng thầu chỉ có 1.15 tỷ Yên (bằng 48%). Gần đây nhất là giá gói thầu đê
chắn sang nhà máy lọc dầu Dung Quất, giá gói thầu xây lắp là 52 triệu USD, giá
trúng thầu là 43 triệu USD (bằng 82.5%), DA cải tạo nhà máy ximăng Bỉm Sơn, giá
gói thầu xây lắp là 55 tỷ đồng, giá trúng thầu là 36 tỷ đồng (bằng 65%).
Mục tiêu của DA thông thờng: chất lợng, thời gian, chi phí; chủ thể xây dựng là
nhà đầu t, nhà thầu, nhà t vấn. Có những DA mục tiêu là chất lợng, giá thành, thời
gian, an toàn; chủ thể xây dựng là chủ đầu t, nhà thầu, t vấn, nhà nớc. Ngoài ra còn
có ngũ giác mục tiêu, ngoài 4 mục tiêu của tứ giác mục tiêu còn có thêm vệ sinh
môi trờng. Để đạt đợc tất cả mục tiêu là rất khó. Về phía chủ đầu t, muốn đạt đợc
mục tiêu chất lợng và chi phí: chất lợng phải tơng đối và giá thành phải thấp. Nhà
thầu muốn thắng thầu phải đảm bảo đợc mục tiêu đó của chủ đầu t. Nh vậy các nhà
thầu thi nhau giảm giá, làm sao để có công trình thực hiện, có cái để làm. Chất l-

số, những cái giá quá khác thờng đó lẽ ra không thể qua mắt đợc những chuyên gia
có đủ trình độ trong công tác xét thầu, nhất là với những DA có giá trị lớn. Nh vậy,
bên cạnh nạn bỏ thầu giá thấp còn tồn tại một vấn đề ảnh hởng đến chất lợng công
trình cũng nh hoạt động, cần đợc quan tâm. Đó là công tác kiểm định.
Những năm qua, ngành xây dựng đã có nhiều cố gắng để từng bớc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý chất lợng. Tuy nhiên hệ thống tiêu chuẩn xây
dựng hiện hành đang tồn tại một số vấn đề bất cập. Khoảng 45% số lợng tiêu chuẩn
hiện hành là những tiêu chuẩn ban hành những năm 70-80 cũ và không phù hợp,
cần sớm đợc rà soát, xem xét bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng tiêu chuẩn mới để
thay thế. Nhiều lĩnh vực thi công xây lắp và sản xuất vật liệu xây dựng đang cần có
loại văn bản hớng dẫn này. Các tiêu chuẩn về phơng pháp thử các qui trình kiểm
định chất lợng công trình xây dựng và sản phẩm vật liệu xây dựng tuy đã có nhng
còn thiếu và cha đồng bộ. Việc xây dựng đồng bộ hóa hệ thống tiêu chuẩn đang là
một yêu cầu cấp bách. Chúng ta cần phảI có một qui trình kiểm tra, nghiệm thu rất
nghiêm ngặt những hạng mục công trình, nhất là với những hạng mục công trình tr-
ớc khi nó bị làm khuất nh: móng, đờng ống.

Nhà thầu chọn cái chết từ từ
Nhiều doanh nghiệp đầu t mua sắm thiết bị quá lớn, máy móc thì vẫn phải khấu
hao nhng không có dự án để thực hiện, công nhân thì phải nằm chờ việc. Trong
khi đó các khoản vay ngân hàng sắp đến kì đáo hạn, nếu không trả thì không đợc
vay tiếp, không đợc bảo đảm tiền vay khi có DA mới. Những lý do trên gây áp lực
cho nhà thầu khiến nhà thầu phải bằng mọi cách phải thắng thầu, vẫn biết lỗ nhng
vẫn bỏ giá thấp, thà chết từ từ còn hơn chết hẳn, các nhà chuyên môn gọi là hiện
tợng uống thuốc độc để giải khát và chết từ từ. Muốn trở thành nhà thầu phụ, giải
pháp phổ biến là các nhà thầu phụ Việt nam tranh nhau hạ giá thành. Kết quả là nhà
19
Đề án môn học Kinh tế đầu t
thầu chính nớc ngoài chỉ mất khoảng 50% chi phí đã dự toán cho phần công việc
mà nhà thầu phụ Việt nam đã đảm nhận và họ thu về những khoản siêu lợi nhuận từ

có mức giá cao hơn và chất lợng cũng thấp hơn. Thực ra có sự nội ứng từ bên mời
thầu, vì bên mời thầu là ngời trực tiếp chấm điểm các hồ sơ dự thầu, họ sẽ phát hiện
ra ngay những bộ hồ sơ giống nhau. Tuy nhiên thì bên mời thầu đã cho nhà thầu
quân đỏ biết trớc giá của gói thầu và một số tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá gói
thầu. Các nhà thầu quân xanh lúc này là quân xanh nhng lúc khác họ lại là quân đỏ,
và nhà thầu quân đỏ sẽ phải trảbằng cách trở thành quân xanh cho những nhà
thầu kia. Hành vi này làm mất hết ý nghĩa cạnh tranh, minh bạch của đấu thầu.
20
Đề án môn học Kinh tế đầu t
Thông thờng những DA sử dụng nguồn vốn Nhà nớc thì hay xảy ra tình trạng này.
Tiền không thuộc cụ thể về một ai nên chủ đầu t, nhà thầu thông đồng nhau để rút
tiền từ túi Nhà nớc mà không hề có một sự đắn đo nào là điều dễ hiểu.
Một hiện tợng khác cũng tơng tự, bên mời thầu đa ra những tiêu chuẩn xét thầu
lồng những ý đồ chủ quan hớng tới một nhà thầu nào mà chủ đầu t đã có ý định lựa
chọn. Những nhà thầu khác cầm chắc thất bại trong một cuộc chơi không công bằng
mà sự không công bằng này bên ngoài khó nhận ra.
Sự móc ngoặc với bên mời thầu còn có thể là: chiến thuật đa ra giá thầu thấp để
nắm chắc khả năng thắng thầu, sau đó khi thực hiện hợp đồng chủ đầu t và nhà thầu
cùng thống nhất bổ sung khối lợng phát sinh hoặc thay đổi một phần thiết kế. Có
những gói thầu giá trị phát sinh lên đến hàng chục tỷ đồng.
Những việc thông đồng, móc ngoặc nêu trên đang làm cho đấu thầu trở thành ph-
ơng tiện giảng hoà việc giao thầu giữa chủ đầu t và bên mời thầu. Bây giờ ngời ta
không còn sự hồi hộp và niềm vui của ngời thắng thầu. Muốn thắng thầu, các nhà
thầu phải đi đêm, lách luật. Các nhà quản lý vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm.
Nạn nhân của cơ chế quản lý vốn hành chính, thiếu tính chuyên nghiệp và là thủ
phạm gây ra những tiêu cực trong bộ máy này.
II. Hoạt động của nhà thầu nớc ngoài tại Việt nam trong những
năm gần đây
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, những năm qua khối lợng
đầu t nói chung và đầu t nớc ngoài nói riêng, đặc biệt là các DA đợc đầu t bằng

1. Những khó khăn tồn tại của nhà thầu trong nớc

Yếu tố khách quan:
Mặc dù nớc ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trờng đợc
15 năm song ngành xây dựng luôn đi sau các ngành khác. Hình thức đấu thầu dù
sao vẫn còn tơng đối mới trong thị trờng xây dựng Việt nam. Các công ty xây lắp
Việt nam đang trong quá trình vừa thực hiện vừa học hỏi. Vì vậy việc cạnh tranh
trong những công trình lớn với nhà thầu và chủ đầu t nớc ngoài là rất khó khăn. Thị
trờng xây dựng đang là thị trờng phát triển với tốc độ cao, vốn đầu t vào xây dựng
ngày càng nhiều và đây là một thị trờng tiềm năng nên các công ty cạnh tranh nhau
rất quyết liệt. Các nhà thầu trong nớc đa số mới hoạt động nên cha có kinh nghiệm
trớc những nhà thầu đã lão luyện của phía nớc ngoài. Mặt khác văn bản pháp quy
về đầu t xây dựng cơ bản cha đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, qui định cha chi tiết, đặc
biệt là trong qui chế đấu thầu việc qui định chế độ u đãi đối với nhà thầu trong nớc
tham gia đấu thầu quốc tế còn mang tính chung chung, cha cụ thể nên trên thực tế
nhà thầu Việt nam cha đợc hởng những u đãi này.
Nhìn chung thì các DA có vốn đầu t nớc ngoàI thì các nhà thầu Việt nam hầu
nh ít có cơ hội làm tổng thầu, tỷ lệ thầu chính thấp, đa số làm thầu phụ. Những gói
thầu chính trúng thầu phần lớn là những gói thầu san nền, làm móng hoặc xây dựng
phần thô. Những gói thầu làm tổng thầu có thiết kế, công nghệ cao nhà thầu Việt
nam cha đủ khả năng dự thầu. Hình thức thầu phụ cũng rất đa dạng, có công trình
thầu phụ dới dạng hợp tác với nhà thầu chính nớc ngoài, có công trình thông qua
bản ghi nhớ, cung cấp giá cho nhà thầu nớc ngoài đứng ra đấu thầu, cũng có công
trình nhận thầu phần nhân công. Nhng giá cả làm thầu phụ thờng bị các nhà thầu
22
Đề án môn học Kinh tế đầu t
chính nớc ngoài bắt chẹt, dới các hình thức gọi phiếu chào giá từng công việc tới
nhà thầu Việt nam, rồi sau đó chọn giá thấp nhất để hợp đồng giao việc. Có nhà
thầu Việt Nam tham gia đấu thầu bằng bản ghi nhớ, nhng khi thắng thầu chỉ đợc
làm một phần còn lại nhà thầu nớc ngoài giao cho nhà thầu phụ Việt nam khác có

lao động đảm bảo đúng tiến độ và đúng chất lợng trong tài liệu giải trình các biện
pháp thực hiện. Thực tế cho thấy các nhà thầu Việt nam còn thua kém các nhà thầu
nớc ngoài rất nhiều ở điểm này. Trình độ quản lý của đội ngũ quản lý ở các doanh
nghiệp xây lắp là cha cao, cơ cấu không linh hoạt nên không ứng phó kịp thời với
23
Đề án môn học Kinh tế đầu t
những thay đổi của môi trờng, xử lý các sự cố còn chậm, cha chính xác.Các phòng
ban chức năng của các doanh nghiệp xây lắp cũng cha hợp lý. Đội ngũ cán bộ quản
lý, trình độ năng lực, kinh nghiệm còn yếu kém, trách nhiệm cá nhân với công việc
còn cha cao.
Vì đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp: tính ổn định không
cao, thay đổi theo công trình vì vậy sự linh hoạt của cơ cấu tổ chức có vai trò quan
trọng tuy nhiên với các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thì lại không có sự đoàn kết
gắn bó giữa cán bộ quản lývà ngời lao động, sự phối hợp giữa các bộ phận trong lập
hồ sơ dự thầu và thực hiện hợp đồng không ăn ý. Bầu không khí làm việc trong các
công ty xây lắp cha tích cực hăng say và có nền nếp.
Đội ngũ công nhân viên trong các công ty xây lắp thờng trẻ, do đó còn hạn chế
về mặt kinh nghiệm. Lao động của các doanh nghiệp thờng là hợp đồng trung và dài
hạn tuy nhiên số lao động thuê ngoài và làm hợp đồng ngắn hạn cũng chiếm một
khối lợng đáng kể, gây khó khăn tới chất lợng công trình cũng nh tiến độ thi công
vì số lao động này không ổn định, mất thời gian tìm kiếm và đào tạo. Số liệu thực tế
của một doanh nghiệp xây lắp sau đây là một minh chứng:
Bảng2 : Thống kê lao động chính thức thuộc biên chế
Công ty Xây lắp và phát triển nhà số 1
Đơn vị: ngời
STT Các chỉ tiêu 1998 1999 2000
1 Tổng số CBCNV 25 34 51
2 Trình độ đại học 18 21 33
3 Tuổi bình quân 34.5 31.25 28.01
4 Lao động thuê ngoài 177 213 286

cũng là do thiếu vốn đầu t.
Với những máy móc thiết bị nh vậy thì các doanh nghiệp xây lắp trong nớc khó
có khả năng thắng thầu các công trình xây dựng phải tổ chức đấu thầu quốc tế. Chỉ
tiêu kỹ thuật và chất lợng công trình là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nhà
thầu. Vì vậy nhà thầu trong nớc muốn nâng cao khả năng thắng thầu phải mạnh dạn
đầu t cho máy móc thiết bị.
- Năng lực tài chính :
Khả năng tài chính của các doanh nghiệp xây lắp trong nớc còn quá hạn chế so
với các doanh nghiệp nớc ngoài, trừ một số công ty, Tổng công ty thuộc bộ chủ
quản là có khả năng tài chính ổn định. Nhìn chung thì tỉ lệ nợ thờng cao, vốn chủ sở
hữu thấp, khả năng thanh toán thấp. Các doanh nghiệp xây lắp trong nớc có khả
năng thu hồi vốn thấp, cơ cấu vốn cha hợp lý, vốn cố định khá lớn tuy nhiên chủ
yếu là nhà xởng, máy móc thiết bị còn thiếu. Vốn của doanh nghiệp chủ yếu là vồn
vay ngắn hạn. Trong quá trình dự thầu thì việc tính giá gói thầu cũng cha chính xác.
Điều này cho thấy tiềm lực tài chính của các doanh ngiệp xây lắp trong nớc còn
yếu, hoạt động sản xuất kinh doanh cha hiệu quả. Với tiềm lực tài chính nh vậy thì
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status