GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Một số vấn đề về thất nghiệp
1.1. Khái niệm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người
trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền
lương thịnh hành”.
1.2. Phân loại
Phân loại theo lý do thất nghiệp :
• Thất nghiệp tự nguyện : Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người
lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh
con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời.
• Thất nghiệp không tự nguyện : Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao
động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn
hơn cầu về lao động…
• Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng
xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường
gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
1.3. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội
• Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
• Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.
• Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.
2. Bảo hiểm thất nghiệp
2.1. Khái niệm
BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất
nghiệp - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người
sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao
động trong thời gian bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong
thị trường lao động.
BHTN cũng là một loại thuế nhãn hiệu. Thuế nhãn hiệu là thuế có mục đích, mà được
xác định và thời điểm vận dụng loại thuế đó. Sử dụng các khoản thu từ thuế đó dù vào
2.3. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do
lỗi của cá nhân họ. Họ vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới
và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp không áp
dụng cho những người thất nghiệp vì tự ý bỏ việc hay những ngưòi vừa mới ra trường và
chưa tìm được công ăn vịêc làm,những người thuộc vào diện thất nghiệp tự nhiên
3. Hiệu quả và công bằng của BHTN
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 2
2
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
3.1. Hiệu quả Pareto
Theo Vilfredo Pareto, nhà kinh tế học người Ý, một sự phân bổ nguồn lực được gọi là
đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất
một người được lợi mà không phải làm thiệt hại đến bất kì ai. Nghĩa là, ngoài những
người nhận được trợ cấp từ BHTN sẽ được lợi, mà những người tham gia BHTN mà
không được nhận hoặc chưa được nhận những khoản trợ cấp này cũng không bị thiệt hại.
3.2. Tính công bằng
3.2.1. Tính công bằng ngang và công bằng dọc
Khái niệm công bằng xã hội không hoàn toàn không đồng nhất, nó được hiểu ở
nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu ở hai cách sau:
Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những người
có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu chí nào đó như: thu nhập, hoàn
cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…)
Thứ hai, khái niệm công bằng dọc là đối xử khác nhau với những người có khác
biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác
biệt sẵn có.
3.2.2. Phân phối lại thu nhập
Phân phối lại thu nhập là hình thức điều tiết thu nhập tài sản trong xã hội nhằm tạo
công bằng cho xã hội như lấy của người giàu chia cho người nghèo, trợ cấp…và bảo
hiểm thất nghiệp chính là một chính sách phân phối lại thu nhập của chính phủ.
thổ Việt nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.
1.3. Điều kiện hưởng BHTN
Được quy định tại điều 15 chương III, căn cứ theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội,
điều kiện được hưởng BHTN: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên
trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao
động; Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc hợp đồng làm việc; Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký
với cơ quan lao động
1.4. Mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 4
4
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền
công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm
hoặc chấm dứt hợp đồng lao động
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc
có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động :
- Đã đóng BHTN từ 12 tháng đến dưới 36 tháng hưởng 03 tháng
- Đã đóng BHTN từ 36 tháng đến dưới 72 tháng hưởng 06 tháng
- Đã đóng BHTN từ 72 tháng đến dưới 144 tháng hưởng 09 tháng
- Đã đóng BHTN từ 144 tháng trở lên hưởng 12 tháng
1.5. Tạm dừng hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Theo điều 22, chương III, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ
bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo hằng tháng với cơ quan lao
động về việc tìm kiếm việc làm hoặc đang bị tạm giam.
1.6. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; có việc làm; thực hiện
nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu; sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo
hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng; không thông báo về tình hình việc
thông báo trả lời gửi cho người lao động.
Bước 5 : Phòng Lao động Việc làm thuộc Sở Lao động TB-XH có trách nhiệm thẩm định
hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp do Trung tâm Giới thiệu Việc làm chuyển đến, trình
Giám đốc Sở ký trong vòng 03 ngày.
Bước 6 : Giám đốc Sở Lao động TB-XH xem xét và ký quyết định hưởng trợ cấp thất
nghiệp trong vòng 02 ngày. Sau đó chuyển quyết định cho Phòng Lao động Việc làm.
Phòng Lao động Việc làm trả lại cho Trung tâm Giới thiệu Việc làm toàn bộ hồ sơ và
quyết định đã được Giám đốc Sở ký. Trung tâm Giới thiệu Việc làm trao trả quyết định
cho người lao động và hướng dẫn người lao động đến cơ quan Bảo hiểm xã hội để được
hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định.
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 6
6
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
CHƯƠNG III : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG CỦA CHẾ ĐỘ BHTN Ở
VIỆT NAM
1. Đánh giá hiệu quả của BHTN
1.1. Những hiệu quả đạt được
Bảo hiểm thất nghiệp chính là một chương trình chi tiêu công của chính phủ bởi vì
chính phủ đã tài trợ từ ngân sách nhà nước bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng
BHTN của những người lao động tham gia BHTN vào quỹ BHTN. Chính vì vậy, khi xét
đến tình hiệu quả của BHTN chúng ta phải xét đến phạm vi tác động của chương trình
khả năng ảnh hưởng bao trùm và trải rộng đến các đối tượng, không những đối tượng
trực tiếp được hưởng lợi ích mà còn các đối tưởng mở rộng.
Đầu tiên, xét đến các đối tượng được hưởng lợi ích trực tiếp từ chế độ BHTN đó là
những người lao động bị mất việc làm. Chương trình BHTN không những trợ cấp cho
NLĐ một khoản thu nhập để đáp ứng các khoản chi phí trang trải cho cuộc sống trong
khoảng thời gian tìm việc khác mà còn đào tạo nghề, hỗ trợ NLĐ tìm việc làm mới phù
hợp với tay nghề của mình.
Tiếp theo là những đối tượng được hưởng lợi ích gián tiếp từ chế độ BHTN. Đầu tiên
là phải kể đến những người thân trong gia đình NLĐ được hưởng chế độ BHTN. Lợi ích
56.676 người, Đồng Nai 25.403 người, Hà Nội 4.192 người, Phú Thọ 1.104 người. Số
người hưởng trợ cấp thất nghiệp: TP. Hồ Chí Minh 50.148, Bình Dương 31.140, Đồng
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 8
8
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
Nai 16.186, Hà Nội 3.910, Phú Thọ 821. Số tiền chi trợ cấp thất nghiệp: 210.974 triệu
đồng, Bình Dương 95.606 triệu đồng, Đồng Nai 54.524 triệu đồng, Hà Nội 17.768 triệu
đồng, Phú Thọ 2.463 triệu đồng. Số tiền chi học nghề: Hồ Chí Minh 65 triệu đồng, Bình
Dương 10 triệu, đồng Đồng Nai 1 triệu đồng, Hà Nội 57 triệu đồng. Theo báo cáo của các
địa phương về tình hình tiếp nhận và giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp trên toàn
quốc, đến hết tháng 2/2011 có tới 225.675 số người đăng ký, và 176.894 người đã có
quyết định được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Năm 2010, quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã
chi trả trên 550 tỷ đồng.
1.1.3. Tình hình giới thiệu việc làm cho người lao động hưởng BHTN
Tính đến ngày 1/3/2011, theo khảo sát chương trình phối hợp giữa Cục Việc làm (Bộ
LĐTBXH) và Ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam) khảo sát tình hình
thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã tiến hành khảo sát tại 5 tỉnh, thành
phố: Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Phú Thọ và Hà Nội,Số lượt người được tư
vấn, giới thiệu việc làm: TP. Hồ Chí Minh 11.733 người, Bình Dương 30.241 người,
Đồng Nai 11.217 người, Hà Nội 3.693 người, Phú Thọ 3.291 người.
1.1.4. Tình hình hỗ trợ đào tạo học nghề cho người lao động hưởng BHTN
Theo PGS-TS Dương Đức Lân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, năm 2010 cả
nước có 90 trường CĐ nghề, 270 trường trung cấp nghề và 750 trung tâm dạy nghề.
Trong đó, 50% số trường CĐ nghề, trung cấp nghề được kiểm định và công nhận các
điều kiện đảm bảo chất lượng.Trong khi đó, đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay rất
thiếu và yếu. Về cơ sở vật chất, còn khoảng 20% số phòng học và 30% số xưởng thực
hành là nhà cấp 4; về trang thiết bị thì chỉ có khoảng 25% số trường được trang bị thiết bị
mới ở mức độ công nghệ khá.
Qua những con số trên, ta thấy rằng NLĐ ngày càng hiểu rõ hơn về lợi ích
khi tham gia BHTN, và những lợi ích mà BHTN mang lại ngày càng thu hút được nhiều
1.2.2. Biến dạng lợi ích
Các chủ sử dụng lao động né tránh đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
So với BHXH, chủ sử dụng lao động phải đóng 16% thì nghĩa vụ đóng góp của
BHTN là không lớn, doanh nghiệp chỉ trích 1% quỹ tiền lương, tiền công/tháng. Song
với những đơn vị khó khăn, nợ đọng BHXH kéo dài, việc hàng tháng phải trích thêm 1
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 10
10
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
khoản chi phí nữa để đóng cho NLĐ là một vấn đề lớn. Ngoài ra, mặc dù đã được tuyên
truyền nhưng nhiều chủ sử dụng lao động vẫn chưa hiểu rõ quy định của pháp luật về
BHTN, có tâm lý ngại tiếp xúc với các thủ tục hành chính, vẫn còn tình trạng doanh
nghiệp nợ tiền đóng BHTN. Có đơn vị không đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho
một số người lao động với lý do đơn vị sử dụng lao động tự coi người lao động đó là
công chức hoặc đơn vị sự nghiệp không thực hiện chế độ Hợp đồng làm việc mà vẫn duy
trì hình thức quyết định tuyển dụng, tự coi số lao động được tuyển dụng đó là công chức
nên không đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Người lao động thiếu thông tin và thói quen chỉ lo mưu sinh trước mắt:
Lao động Việt nam phần lớn là lao động trình độ trung bình thấp ít có điều kiện được
tiếp cận với thông tin nên không biết sự xuất hiện của các chính sách của Chính phủ,
không biết những quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Hơn nữa, họ không được chủ sử dụng
tạo điều kiện để tiếp cận đầy đủ các chính sách về BHTN. Điều này càng tạo điều kiện
cho các chủ doanh nghiệp có những hành vi né tránh, không đảm bảo quyền lợi cho
người lao động.
Mặt khác, một bộ phận người lao động có tâm lý không thích tham gia BHTN, bởi
theo họ trong điều kiện giá cả ngày càng tăng, thu nhập không tăng, nên không muốn
đồng lương của mình bị hao hụt, hoặc có nơi lao động tham gia đủ 12 tháng bảo hiểm
thất nghiệp đã xin nghỉ việc để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau khi lấy được tiền đã
xin trở lại làm việc.
Gian lận, tình trạng thất nghiệp “ ảo ”
Thị trường lao động phía Nam phát triển mạnh, luôn biến động, số lượng lao động
quỹ BHTN là nhỏ hơn Q do nguyên tắc bảo hiểm là lấy đông bù ít.
Giả sử xã hội có Q người tham gia BHTN, là những người lao động bị thất nghiệp
và có thể được hưởng chế độ trợ cấp của BHTN. Với lượng này thì tổng số phí BHTN
họ đóng trong quá trình lao động là hình chữ nhật OC và tổng phúc lợi họ nhận được là
phần diện tích nằm dưới đường cầu D và trên đường cung S. Tuy nhiên, do xã hội có
nhiều lao động không thể lường trước được hết những rủi ro có thể xảy ra nên chỉ có một
lượng người ít hơn Q tham gia bảo hiểm và chỉ có số lượng người Q
2
(Q
2
< Q
1
) được chi
trả bảo hiểm. Phí đóng bảo hiểm của những người lao động nhận trợ cấp này là hình chữ
nhật P1AO và phúc lợi xã hội nhận được là phần giới hạn bởi D’ và S.
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 12
12
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
Đường cầu D dịch chuyển xuống D’ dẫn tới tổn thất phúc lợi xã hội là tam giác ABC.
Như vậy, do rủi ro đạo đức và chênh lệch thông tin từ phía người lao động dẫn tới tổn
thất xã hội.
2. Đánh giá công bằng của BHTN
Việc chi trả BHTN nói riêng và BH nói chung đều dựa trên nguyên tắc lấy đông bù
ít, chia sẻ rủi ro giữa các đối tượng trong xã hội, BHTN chia sẻ rủi ro giữa người có việc
làm với người bị mất việc làm. Chính vì vây, công bằng của BHTN là sự phân phối lại,
phân phối giữa người có thu nhập và người không có thu nhập tạo nên công bằng xã hội,
giúp những người bị mất việc có một khoản thu nhập để bù đắp các khoản chi tiêu cho
cuộc sống trong khoảng thời gian tìm việc mới, đồng thời hỗ trợ NLĐ tìm được công việc
mới phù hợp với bản thân. Đây chính là một trong những chính sách nhằm hướng tới
mục tiêu an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong thời gian tạm thời
• Ngược lại, nếu tìm việc làm rất nhạy bén với bảo hiểm thất nghiệp thì sẽ có
sự đánh đổi đáng kể giữa hiệu quả và công bằng.
Đây chỉ là phân tích mang tính định tính, để có thể nhận định sự đánh đổi giữa
hiệu quả và công bằng ở Việt Nam như thế nào, thì chúng ta nên xây dựng mô hình, khảo
sát những người lao động được hưởng BHTN, để đánh giá mối liên hệ giữa quá trình tìm
việc làm và BHTN như thế nào.
CHƯƠNG IV : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA BHTN
1. Đối với nhà nước và các cơ quan ban ngành
SVTH : Hoàng Thị Dung Page 14
14
GVHD: TSKH . Phạm Đức Chính
Một là, tăng cường tuyên truyền chính sách về BHTN đến tận chủ sử dụng lao động
và người lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hội thảo, tọa đàm, phổ
biến chính sách ở các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các khu công nghiệp
nhằm nâng cao nhận thức của chủ sử dụng lao động cũng như bản thân người lao động về
chính sách BHTN, quy trình thủ tục tham gia, các chế độ thụ hưởng BHTN như hỗ trợ
học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, bảo hiểm y tế…
Hai là, đẩy mạnh sự phối hợp giữa ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và
ngành Bảo hiểm xã hội nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện như
ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, xác định đối tượng
đóng BHTN, xác định rõ những người có việc làm thôi hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng
thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của ngành và liên ngành, kiên quyết xử lý
những doanh nghiệp cố tình trốn đóng BHTN hoặc những trường hợp doanh nghiệp,
người lao động có hiện tượng gian lận trong thụ hưởng chế độ BHTN.
Ba là, cần phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho
người lao động cùng với sự phối hợp của các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền
chính sách về BHTN cũng như giám sát việc thực hiện BHTN.
Bốn là, Tăng cường công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt cán bộ mới nhận công tác phải
có cán bộ hướng dẫn khi thực hiện công việc và có đánh giá cụ thể. Nâng cao năng lực
của các cơ sở đào tạo nghề và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo đặc biệt quan tâm đối