Tiểu luận Lãi suất và vấn đề quản trị
rủi ro lãi suất
LỜI MỞ ĐẦU
Rủi ro là khái niệm gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, không thể
tách rời rủi ro ra khỏi hoạt động của ngân hàng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc mọi
nghiệp vụ của ngân hàng đều có khả năng xảy ra rủi ro. Quản trị rủi ro tốt sẽ giúp cho
ngân hàng hoạt động tốt hơn. Hiểu rõ điều đó, trong những năm gần đây, các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam đã bắt tay vào công việc thúc đẩy hoạt động quản trị rủi ro nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tiền tệ. Nền kinh tế Việt Nam đang phát
triển, nhiều biến động không lường trước, đặc biệt là biến động lãi suất. Biến động lãi
suất ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn vốn cũng như lợi nhuận của ngân hàng, do đó các
ngân hàng ở Việt Nam coi việc quản trị rủi ro lãi suất như một mục tiêu cần đạt được
trong tương lai gần. Đề tài “Lãi suất và vấn đề quản trị rủi ro lãi suất” nhóm nghiên
cứu nhằm mục đích đánh giá tình hình thực tế rủi ro lãi suất t ại một số Ngân hàng
thương mại (NHTM) hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp và công cụ để lượng hóa rủi ro lãi
suất, phương pháp nhằm phòng ngừa rủi ro lãi suất, với mục đích hỗ trợ ngân hàng quản
lý rủi ro lãi suất một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới. Rủi ro lãi suất trong ngân
hàng là một phạm trù rất lớn, đòi hỏi nghiên cứu chuyên sâu và công nghệ phù hợp,
đồng thời cần kiến thức rộng về công tác quản lý rủi ro nói chung trong lĩnh vực ngân
hàng.
1.1.3.
Các loại lãi suất tham chiếu ở Việt Nam 3
1.1.4.
Chính sách lãi suất 4
1.1.5.
Các nhân tố tác động đến lãi suất 4
1.1.6.
Vai trò quan trọng của lãi suất trong nền kinh tế thị trường 6
1.2.
Rủi ro lãi suất 7
1.2.1.
Khái niệm 7
1.2.2.
Tính chất của rủi ro lãi suất 7
1.2.3.
1.3.3.
Các kĩ thuật quản trị rủi ro lãi suất: 19
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI MỘT SỐ NHTM VIỆT
NAM 24
2.1.
Đánh giá chung: 24
2.1.1.
Biến động lãi suất giai đoạn 2007-2012: 24
2.1.2.
Quản lý rủi ro lãi suất của ngân hàng 25
2.2.
Cách thức phòng chống rủi ro lãi suất của một số Ngân hàng 26
2.2.1.
Lượng hóa rủi ro lãi suất 26
2.2.2.
biểu hiện bằng quan hệ giữa tỷ lệ lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một khoảng
thời gian nhất định, trong đó lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được từ
việc trả tiền cho việc sử dụng tiền vay của người đi vay.
1.1.2. Các loại lãi suất
Trên thị trường tồn tại rất nhiều loại lãi suất, tùy theo nguồn gốc và mục đích sử
dụng thì có những loại lãi suất khác nhau.
Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng:
+ Lãi suất huy động: là lãi suất phát sinh khi các ngân hàng thương mại thực hiện
các nghiệp vụ huy động vốn.
+ Lãi suất cho vay: là loại lãi suất phát sinh khi các ngân hàng thương mại thực
hiện các nghiệp vụ cho vay vốn.
Phân loại theo phương thức tính lãi:
+ Lãi suất cố định: là loại lãi suất được xác định bằng một tỷ lệ cố định trong suốt
thời gian hợp đồng
+ Lãi suất thả nổi: là loại lãi suất thay đổi theo lãi suất thị trường.
Phân loại theo nội dung kinh tế:
+ Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc cho
vay được thể hiện trên hợp đồng tín dụng (không tính đến biến động giá trị tiền tệ). Lãi
suất danh nghĩa còn được hiểu là lãi suất được công bố đối với một khoản vay (khoản
đầu tư).
+ Lãi suất thực: là loại lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của tiền tệ, như
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 2
lạm phát. Lãi suất thực là lãi suất thực tế thu được từ khoản đầu tư hoặc lãi suất thực tế
phải trả cho khoản vay đó.
Quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực thường được biểu
hiện bằng công thức: (1+r)(1+i) = 1+R. Trong đó: r là lãi suất thực, i là tỷ lệ lạm phát, R
cho các Ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất
thường của các ngân hàng này. Quy định lãi suất tái chiết khấu là một trong những công
cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết lượng cung tiền.
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng: là lãi suất vay vốn giữa các Ngân hàng
thương mại trên thị trường liên ngân hàng.
1.1.3. Các loại lãi suất tham chiếu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các ngân hàng thường căn cứ trên các lãi suất tham chiếu như
LIBOR, SIBOR, EURIBOR hay VNIBOR cộng với mức lãi suất biến đối với các hoạt
động cho vay VND và ngoại tệ trong các hợp đồng tín dụng ngắn hạn, các hợp đồng kỳ
hạn, hoán đổi hay quyền chọn…
1.1.3.1. Lãi suất LIBOR
LIBOR là từ viết tắt của London Interbank Offered Rate, là loại lãi suất mà các
ngân hàng có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng Anh Quốc.
LIBOR được cố định hàng ngày bởi hiệp hội các ngân hàng Anh Quốc căn cứ trên mức
lãi suất trung bình đối với các khoản tín dụng với thời gian đáo hạn từ 1 ngày đến 1 năm
của hầu hết các thị trường liên ngân hàng trên thế giới. LIBOR được sử dụng như là một
loại lãi suất tham chiếu cho các khoản cho vay ngắn hạn. M ột số nước dùng LIBOR như
là một mức giá tham chiếu bao gồm Mỹ, Anh, Canada và Thụy Sỹ.
1.1.3.2. Lãi suất SIBOR.
SIBOR là từ viết tắt của từ Singapore Interbank Offered Rate, là lãi suất liên ngân
hàng Singapore. SIBOR là mức lãi suất mà các ngân hàng ở châu Á có thể vay mượn lẫn
nhau. Ở châu Á SIBOR được sử dụng phổ biến hơn LIBOR. SIBOR được thiết lập hàng
ngày bởi hiệp hội liên ngân hàng Singapore (ABS) và được sử dụng là mức lãi suất tham
chiếu cho các khoản vay ngắn hạn, các hợp đồng swap lãi suất tham gia vào nền kinh tế
châu Á.
1.1.3.3. Lãi suất EURIBOR.
EURIBOR là từ viết tắt của từ Euro Interbank Offered Rate, là lãi suất liên ngân
hàng Châu Âu. EURIBOR được công bố lần đầu tiên vào ngày 30/12/1998, chính thức
có hiệu lực vào ngày 04/01/1999, là ngày giới thiệu đồng tiền chung châu Âu.
1.1.5.1. Cung cầu v ốn trên thị trường
Lãi suất là giá của tín dụng, là khoản t iền mà người đi vay chịu bỏ ra để trả cho
người cho vay để sử dụng vốn. Do đó, cung cầu vốn trên thị trường là nhân tố quyết định
ảnh hưởng tới lãi suất. Khi cung vốn lớn hơn cầu vốn, người đi vay có t hể cân nhắc về
nguồn vay vốn, từ đó lựa chọn nguồn vốn có lãi suất thấp nhất để vay, lãi suất thị trường
sẽ giảm. Ngược lại, khi cầu vốn lớn hơn cung vốn, lãi suất thị trường sẽ t ăng.
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 5
1.1.5.2. Lạm phát
Lạm phát và lãi suất có quan hệ mật thiết với nhau, khi lạm phát tăng cao,
chính phủ và ngân hàng trung ương có xu hướng hạ nhiệt cho nền kinh tế bằng cách thực
thi các biện pháp, chính sách tiền tệ để làm giảm cung tiền để kiềm chế lạm phát. Đồng
thời, người sở hữu vốn cũng hạn chế cho vay vì lo ngại vốn bị mất giá, từ đó làm cho lãi
suất tăng lên. Như vậy, lạm phát tăng sẽ kéo theo lãi suất tăng
1.1.5.3. Các chính sách của nhà nước
Chính sách tài khóa: Chính sách tài khóa là chính sách thông qua chế độ thuế và
đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế, đây là chính sách có tác động trực tiếp đến
lãi suất trên thị trường. Cụ thể, khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng
(tăng chi tiêu đầu tư và giảm thuế) sẽ tác động đến thị trường hàng hóa và tiền tệ. Khi
chi tiêu chính phủ tăng và thuế giảm sẽ làm tăng tổng cầu hàng hóa, chính mức tăng cao
hơn của tổng sản phẩm kéo theo nhu cầu vốn trên thị trường tăng lên làm lãi suất tăng.
Chính sách tiền tệ: Căn cứ vào điều kiện hiện tại của nền kinh tế và các mục tiêu
của chính phủ mà NHNN sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, nghiệp vụ thị trường mở…nhằm gián tiếp tác động đến lãi suất trên thị trường để
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là các chính sách quan trọng để ổn định
nền kinh tế vĩ mô, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới lãi suất trên thị trường.
vốn vay ngân hàng. Hiệu quả cuối cùng sẽ tạo ra một nguồn vốn của cải cho xã hội, tổng
thu nhập quốc dân tăng lên rất nhiều.
1.1.6.2. Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương
mại:
Vì lãi suất là giá cả của vốn, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quá trình cạnh
tranh giữa các ngân hàng diễn ra một cách gay gắt. Các ngân hàng cạnh tranh bằng việc
cung cấp các dịch vụ tiện ích với chi phí thấp, bằng các phương thức khuyến mại hấp
dẫn, đặc biệt là cạnh tranh nhau bằng lãi suất như nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho
vay để thu hút khách hàng, chính sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng sẽ tạo ra
lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế.
1.1.6.3. Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế:
Khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư có vốn, muốn đầu tư vào lĩnh vực nào
cũng phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tế làm cơ sở và quyết định, ít nhất hiệu quả
đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh lời phải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng
lãi suất tín dụng. Đồng thời, lãi suất cao cũng khuyến khích dân cư giảm chi tiêu để tăng
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 7
tiết kiệm hoặc đầu tư sinh lợi.
1.1.6.4. Lãi suất là công cụ để kiềm chế lạm phát:
Thông qua chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, trong trường hợp nền
kinh tế có lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng
lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu
thông, cân đối với khối lượng hàng hóa.
1.2. Rủi ro lãi suất
1.2.1. Khái niệm
Lãi suất được hiểu như là giá cả của tín dụng, cái giá mà người cho vay đặt ra để
cho vay 1 năm là 1%.
Năm 2 ngân hàng nhận được khoản chênh lệch lãi suất của khoản cho vay 2 năm
là 2% nhưng chênh lệch lãi suất của khoản cho vay 1 năm tuỳ thuộc vào lãi suất mà ngân
hàng tái đầu tư. Nếu lãi suất cho vay tăng thì ngân hàng hưởng chênh lệch lãi suất tăng,
ngược lại chênh lệch lãi suất giảm thậm chí sẽ lỗ nếu lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất đi
vay trên thị trường liên ngân hàng.
1.2.3. Phân loại rủi ro lãi suất
Khi lãi suất thay đổi, các ngân hàng ít nhất phải đương đầu với hai loại rủi ro lãi
suất “rủi ro về giá” và “rủi ro tái đầu tư”.
Rủi ro về giá (Price risk):
Phát sinh khi lãi suất thị trường tăng, giá trị thị trường của các trái phiếu và các
khoản cho vay với lãi suất cố định ngân hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá. Bởi lãi suất
định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản cho vay đã được ấn định từ trước, lãi suất
thị trường t ăng làm cho lãi suất của các trái phiếu và các khoản cho vay mà ngân hàng
nắm giữ trước đó trở nên thấp hơn lãi suất thị trường hiện tại, khiến chúng bị giảm giá.
Trái phiếu và các khoản cho vay có thời hạn đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn,
nếu ngân hàng muốn bán đi các tài sản này thì phải chấp nhận tổn thất vì giá trị của
chúng bị giảm đi so với trước.
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố
định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ tăng. Bởi lãi suất định kỳ của trái phiếu và các khoản
cho vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường giảm làm cho các trái phiếu cũ và
các khoản cho vay với mức lãi suất cao hơn trở nên hấp dẫn hơn. Trái phiếu và các khoản
cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng giá càng cao.
Rủi ro tái đầu tư (re-investment risk)
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 9
Rủi ro t ái đầu tư xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ, khiến ngân hàng phải chấp
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 10
nhanh và trở nên dốc hơn thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của N gân hàng đều giảm
xuống.
1.2.4.3. Rủi ro cơ sở
Rủi ro cơ sở là rủi ro do thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất thị trường
khác nhau. Rủi ro cơ bản thường xuất hiện khi sự biến động lãi suất giữa các loại tài sản
khác nhau là khác nhau.
Ví dụ trường hợp Ngân hàng cho vay một khách hàng dựa trên lãi suất tham
chiếu là lãi suất LIBOR (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định) và nguồn tài trợ là từ
tiền gửi với lãi suất tham chiếu là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước (cộng hoặc trừ
một mức lãi suất cố định). Khi lãi suất cơ bản của N gân hàng Nhà nước tăng nhanh hơn
lãi suất LIBOR thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của N gân hàng đều giảm xuống.
1.2.4.4. Tính tùy chọn (Rủi ro do các sản phẩm có quyền chọn)
Rủi ro này xuất hiện đối với các tài sản nợ, tài sản có gắn với quyền chọn. Các
quyền chọn thường gặp và rủi ro do nó gây ra bao gồm:
Quyền chọn của người phát hành:
+ Quyền mua lại (call provision): Người phát hành có quyền mua lại trái
phiếu trước kỳ đáo hạn với một mức giá nhất định. Quyền này thường được thực hiện khi
lãi suất giảm. Người nắm giữ trái phiếu sẽ gặp rủi ro tái đầu tư với một mức lãi suất thấp
hơn;
+ Quyền thanh toán trước hạn (Prepayment option): Thường áp dụng đối
với các trái phiếu thanh toán gốc làm nhiều kỳ do nó được chứng khoán hóa từ các khoản
vay thế chấp. Quyền này cho người phát hành quyền thanh toán trước hạn tương ứng với
các khoản vay thế chấp. Quyền này được thực hiện do nhiều nguyên nhân gắn với khoản
vay thế chấp. Lãi suất giảm là một nguyên nhân và người nắm giữ trái phiếu sẽ gặp rủi ro
tái đầu tư với một mức lãi suất thấp hơn;
+ Quy định trần lãi suất (Caps): Quy định mức lãi suất tối đa đối với các
hạn để cho vay, đầu tư dài hạn. Rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong những năm
tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi.
- Kỳ hạn của Tài sản nhỏ hơn kỳ hạn của Nợ: Ngân hàng huy động vốn có kỳ
hạn dài để cho vay, đầu tư với kỳ hạn ngắn. Rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong
những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống.
1.2.5.2. Các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy
động vốn và cho vay
Có 2 trường hợp:
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 12
- Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với lãi suất
biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi không đổi trong khi
thu nhập lãi giảm, dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm.
- Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư với lãi suất
cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị
trường, trong khi thu nhập lãi không đổi, dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm.
1.2.5.3. Tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế
Ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiểu trường
hợp ngân hàng không thể dự báo chính xác những thay đổi của lãi suất do tỷ lệ lạm phát
dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực t ế. Chính những thay đổi ngoài dự kiến đó
của lãi suất gây nên rủi ro lãi suất cho ngân hàng, vốn của ngân hàng không được bảo
toàn sau khi cho vay.
Lãi suất cho vay danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát dự kiến
Ví dụ: Khi dự kiến lãi suất cho vay 8% = 3% (lãi suất thực) + 5% (dự kiến tỷ lệ
lạm phát).
Tuy nhiên, nếu sau khi cho vay tỷ lệ lạm phát thực tế là 8% thì lãi suất thực
Ngân hàng được hưởng sẽ là 0%.
n
i
AiAi
M
W
1
.
và ML =
n
j
LjLj
MW
1
.
Trong đó:
W
Ai
: tỷ trọng của TSC i trong tổng TSC (giá trị tính theo giá thị trường)
W
Lj
: tỷ trọng của TSN j trong tổng TSN (giá trị tính theo giá thị trường)
M
Ai
: kì hạn đến hạn của TSC i
M
- Phương pháp tốt nhất để phòng ngừa rủi ro lãi suất là cân xứng kỳ hạn giữa tài
sản và nợ.
b. Mô hình định giá lại
Mô hình định giá lại đo lường sự thay đổi giá trị của tài sản và nợ khi lãi suất biến
động dựa vào việc chia nhóm tài sản và nợ theo kỳ hạn định giá lại, từ đó đo lường sự
thay đổi của thu nhập ròng từ lãi suất của các nhóm với sự thay đổi lãi suất của thị
trường. Giá trị tài sản và nợ trong các nhóm dùng để tính chênh lệch là giá trị lịch sử, khe
hở nhạy cảm lãi suất được dùng để đo lường sự nhạy cảm lãi suất.
Khe hở nhạy cảm lãi suất = Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất – Tài sản Nợ
nhạy cảm với lãi suất
Trong đó: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất là tài sản có thể được định giá lại khi
lãi suất thay đổi bao gồm: các khoản cho vay có lãi suất biến đổi, các khoản cho vay
ngắn hạn với thời gian dưới n tháng, chứng khoán có thời hạn còn lại dưới n tháng (trái
phiếu chính phủ, công ty, xí nghiệp…), tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, tiền gửi
không kỳ hạn tại các ngân hàng khác (ngân hàng thương mại khác), các khoản đầu tư tài
chính có thời gian còn lại dưới n tháng.
Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất có thể được định giá lại bao gồm: tiền gửi có lãi
suất biến đổi, tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn thời hạn còn lại dưới n tháng, các
khoản vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ với thời hạn dưới n tháng (vay qua đêm, vay
tái chiết khấu thời hạn dưới n tháng).
Đặc điểm của Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất và Tài sản N ợ nhạy cảm với lãi
suất là thời gian đến hạn càng ngắn thì tính nhạy lãi càng cao. Trong mỗi giai đoạn kế
hoạch ngày, tuần, tháng, quý,…khe hở nhạy cảm với lãi suất có thể xảy ra các trường
hợp:
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 15
- Một là, khe hở nhạy cảm lãi suất bằng không: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 16
tháng hay quý, ngân hàng có thể tái đầu tư những khoản tiền thu được này trong năm với
lãi suất thị trường hiện hành. Cũng giống như huy động vốn, ngân hàng luôn huy động
vốn mới và thanh toán những khoản vốn đã huy động. Do đó, các khoản tiền đến hạn về
bản chất là không nhạy cảm với lãi suất, vì chúng đến hạn theo quy định trong hợp đồng
chứ không phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất. Tuy nhiên, khi lãi suất thị trường tăng thì
các luồng tiền đến hạn thường bị hoãn lại do những người vay tiền có xu hướng trì hoãn
việc trả nợ, khi lãi suất thị trường giảm thì tìm cách hoàn trả trước hạn.
Vì vậy, mô hình định giá lại chỉ phản ánh được một phần rủi ro lãi suất đối với
ngân hàng. Do đó, đòi hỏi phải có một phương pháp đo lường và kiểm soát rủi ro lãi suất
khác. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đó là phương pháp dựa vào mô hình thời
lượng để đánh giá và kiểm soát rủi ro lãi suất.
c. Mô hình thời lượng
Mô hình thời lượng là phương pháp đo lường sự nhạy cảm của giá (giá trị của
vốn) của khoản đầu tư có thu nhập cố định tới sự thay đổi của lãi suất thị trường.
Phương pháp này chủ y ếu dựa vào chênh lệch thời lượng giữa tài sản với nợ để
đánh giá và kiểm soát rủi ro lãi suất: Một tài sản tài chính luôn có một dòng ngân lưu
trong suốt thời gian tồn tại của nó. Nếu dòng ngân lưu này được chiếut khấu về giá trị
hiện tại ta sẽ xác định được thời gian tồn tại của nó- đó chính là thời lượng của tài sản tài
chính ấy.
Thời kỳ hoàn vốn của tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khỏan vốn
dã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền ngân hàng dự tính sẽ nhận
được trong tương lai.
Thời kỳ hoàn trả của nguồn vốn là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khỏan
vốn đã huy động và đi vay, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính sẽ ra khỏi ngân
hàng .
Công thức tính:
dY
dP
= - P
y
D
1
= - PD*
Trong đó:
dY
dP
: Sự thay đổi giá trị tài sản do ảnh hưởng của sự thay đổi trong lãi suất
P: Giá của tài sản
Y: Lãi suất đến hạn
D*: Thời lượng được điều chỉnh
Theo công thức này, khi lãi suất thay đổi, giá trị của tài sản biến động ngược
chiều. Nói cách khác, với một sự t hay đổi lãi suất nhất định, t ài sản có thời lượng càng
dài thì sự thay đổi giá trị càng lớn.
Về ý nghĩa kinh tế, thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản
đối với lãi suất hay nói cách khác, nếu D* của tài sản là X, khi lãi suất tăng 1% thì giá trị
hiện tại của tài sản giảm đi X%.
1.3. Quản trị rủi ro lãi suất
1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro:
Quản trị rủi ro lãi suất là việc ngân hàng tổ chức một bộ phận nhằm nhận biết,
định lượng những tổn thất đang và s ẽ gây ra từ rủi ro lãi suất để từ đó có thể giám sát và
kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc lập nên những chính sách, chiến lược sử dụng các
công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục.
1.3.2. Mục tiêu của quản lý rủi ro lãi suất
2. Những thay đổi trong mức chênh lệch giữa lãi suất thu từ tài sản và chi phí trả
lãi cho nguồn vốn.
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 19
3. Những thay đổi về giá trị tài sản (sinh lời) nhạy cảm lãi suất mà ngân hàng
nắm giữ khi mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động của mình.
4. Những thay đổi về giá trị nguồn vốn phải trả lãi mà ngân hàng sử dụng để tài
trợ cho danh mục tài sản sinh lời khi mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động.
5. Những thay đổi về cấu trúc của tài sản và nợ mà ngân hàng thực hiện để t iến
hành chuyển đổi tài sản, nợ giữa lãi suất cố định là lãi suất thả nổi, giữa kỳ hạn ngắn và
kỳ hạn dài, giữa tài sản mang lại mức thu nhập thấp và tài sản mang lại mức thu nhập
cao.
1.3.3. Các kĩ thuật quản trị rủi ro lãi suất:
1.3.3.1. Quản trị khe hở lãi suất:
Các nhà quản trị đã sử dụng khe hở lãi suất như là một chỉ tiêu đo khả năng thu
nhập giảm khi lãi suất thay đổi ngoài dự kiến. Khe hở lãi suất càng lớn thì khi lãi suất
thay đổi ngoài dự kiến, tổn thất của ngân hàng càng lớn.
Khe hở lãi suất = giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất – giá trị nợ nhạy cảm với lãi
suất
Quy trình quản lý khe hở kỳ hạn gồm 4 bước:
- Lựa chọn thời kỳ nhằm quản trị (có thể là 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm…)
- Lựa chọn giá trị tỷ lệ thu nhập lãi cận biên mục tiêu
- Dự báo lãi suất tăng hay giảm
- Xác định giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất và giá trị nguồn vốn nhạy cảm với
lãi suất mà ngân hàng sẽ nắm giữ.
Yêu cầu với những nhà quản trị: Khi sử dụng kĩ thuật này yêu cầu nhà quản trị
phải tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá lại những cơ hội gắn với những tài sản sinh lời
àn tr
ả TB theo
giá trị nguồn vốn
Trong đó:
Kỳ hạn hoàn vốn: là giá trị kỳ hạn TB xác định trên cơ sở thời gian xuất hiện các
dòng tiền vào được t ạo ra từ tài sản.
Kỳ hạn hoàn trả: là thước đo thời gian TB của dòng tiền dự tính đi ra khỏi ngân
hàng.
Để phòng ngừa rủi ro lãi suất phải đảm bảo:
Kỳ hạn hoàn vốn TB
theo giá trị tài sản
=
Kỳ hạn hoàn trả TB theo
giá trị của nguồn vốn
x
Tổng giá trị nguồn vốn
Tổng giá trị tài sản
Quy trình quản trị khe hở kỳ hạn gồm 3 bước:
- Tính kỳ hạn hoàn vốn của từng khoản lục trong danh mục
- Nhân giá trị kỳ hạn hoàn vốn vừa tính với tỷ trọng của giá trị thị trường từng
khoản mục trong danh mục
- Cộng kết quả ở bước 2 để xác định kỳ hạn hoàn vốn của toàn danh mục.
Chúng ta có thể sử dụng mô hình t hời lượng để tính toán được kỳ hạn hoàn vốn
của từng khoản mục trong danh mục và lượng hóa được mức độ tổn thất khi xảy ra rủi ro
lãi suất. Đây được xem là mô hình hoàn hảo nhất trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài
sản có và t ài sản nợ đối với lãi suất do nó đề cập đến tất cả các yếu tố thời lượng của tất
cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản có.
Tuy nhiên việc áp dụng mô hinh thời lượng vào hoạt động của ngân hàng gặp rất
nhiều hạn chế.
Ví dụ: Nếu dự báo lãi suất thị trường sẽ t ăng, các nhà quản trị ngân hàng sẽ bán
trái phiếu hiện có bằng hợp đồng kỳ hạn. Khi đến hạn, nếu lãi suất tăng lên đúng như dự
báo, do trái phiếu đã được mua với giá cố định đã thỏa thuận trong hợp đồng nên ngân
hàng sẽ tránh được sự thiệt hại do trái phiếu giảm. Ngược lại, nếu ngân hàng dự báo lãi
suất thị trường sẽ giảm, nhà quản trị ngân hàng có thể kí hợp đồng mua kỳ hạn các trái
phiếu dể thu được lợi nhuận cao hơn do không phải trả thêm phần tăng của trái phiếu.
- Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi: Huy động tiền gửi cho vay là đặc trưng của ngân
hàng. Do không phù hợp về kỳ hạn mà các ngân hàng phải thường xuyên sử dụng một
GVHD: PGS .TS Hoàng Đức
NH01-Nhóm 10 Trang 22
phần các nguồn ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài hơn. Trong điều kiện lĩa suất thị
trường biến động không ngừng như hiện nay thì điều này càng làm cho các ngân hàng
gặp phải rủi ro lãi suất.
Ví dụ: Tại thời điểm to ngân hàng kí một hợp đồng tín dụng với khách hàng có
mức lãi suất cố định thời hạn từ to đến t2. Hiện tại, ngân hàng chỉ huy động được vốn có
thời hạn từ to đến t1 (to < t1 < t2). Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, ngay ngày hôm nay
ngân hàng có thể kí một hợp đồng kỳ hạn tiền gửi nội dung: tại thời điểm t1 ngân hàng
cam kết sẽ nhận và phía đối tác sẽ gửi một lượng tiền nhất định, với lãi suất từ thời hạn t1
đến t2. Từ đó thu nhập của ngân hàng từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy
động là một số biết trước và chắc chắn, nghĩa là không phụ thuộc vào sự biến động của
lãi suất thị trường trong suốt khoảng thời gian từ t1 đến t2.
- Hợp đồng lãi suất kỳ hạn: Thay vì ký hợp đồng kỳ hạn tiền gửi như trên ngân
hàng có thể sử dụng một hợp đồng khác chỉ liên quan đến trao đổi phần chênh lệch lãi
suấtmà không có giao nhận khoản tiền gốc. Đó là hợp đồng lãi suất kỳ hạn.
b. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai:
Hợp đồng tương lai là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm
ban đầu (t=0) rằng việc thanh toán và giao nhận hàng hóa được tiến hành tại một thời