Lãi suất và vấn đề sử dụng các chính sách lãi suất trong việc điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam (2) - Pdf 23

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng lãi suất là một trong những biến số đợc theo dõi một
cách chặt chẽ nhất bởi nó có quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của từng ngời trong
xã hội. Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi tiêu hay tiết kiệm để đầu
t. Sự thay đổi của lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi quyết định của mỗi doanh nghiệp:
vay để mở rộng sản xuất, hoặc đầu t vào đâu có lợi nhất. Thông qua những quyết định
của cá nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hởng đến mức độ phát triển cũng nh cơ cấu của
nền kinh tế đất nớc.
Công cuộc đổi mới toàn diện ở nớc ta trong hơn mời năm qua đã tạo cho đất nớc bộ
mặt mới, sức sống mới. Những thành tựu đạt đợc trên các mặt đã đa nớc ta thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xã hội, nâng cao vị thế Việt Nam trên trờng quốc tế, từ đó tạo tiền
đề cho giai đoạn phát triển mới của đất nớc - giai đoạn phát triển không chỉ theo chiều
rộng mà còn hớng tới chiều sâu. Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, ý thức đợc lãi
suất là công cụ quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, Chính phủ, Ngân
hàng nhà nớc đã có những bớc cải cách quan trọng về lãi suất để tiến dần tới tự do hoá
hoàn toàn lãi suất ở nớc ta - đáp ứng đòi hỏi mang tính tất yếu của nền kinh tế thị trờng.
Lãi suất bớc đầu đã điều chỉnh theo yêu cầu của thị trờng, chế độ kiểm soát lãi suất cứng
nhắc dần đợc nới lỏng, ngày càng trở nên linh hoạt. Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng
và thực thi một chính sách lãi suất tiến tới tự do hoá trên cơ sở vừa đảm bảo đợc sự kiểm
soát của nhà nớc đối với thị trờng nhằm phù hợp với mục tiêu và diễn biến của các biến
kinh tế vĩ mô, với thực trạng thị trờng tài chính trong nớc đang là một bài toán khó đối
với các nhà hoạch định chính sách.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài: Lãi suất và vấn đề sử dụng
các chính sách lãi suất trong việc điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam. Đề án gồm ba ch-
ơng:
Chơng I: Lý thuyết chung về lãi suất.
Chơng II: Những chính sách lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chơng III: Giải pháp hoàn thiện chính sách lãi suất ở Việt Nam - Tự do
hoá lãi suất.
Thông qua việc sử dụng các kênh thông tin thứ cấp: sách, báo, tạp chí... vi phng
phỏp thng kờ, phõn tớch kinh t, tng hp, so sỏnh s liu. Bằng cách kt hp vic

tiền có thể nói là một bớc tiến lớn trong việc xác định các hình thức biểu hiện và những
nhân tố tác động tới lãi suất.
Tóm lại, lãi suất đợc hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng-giá cả
của quan hệ vay mợn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dới hình thức tiền tệ hoặc các
dạng thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, ngời đi vay sẽ phải trả cho ngời cho vay một
khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số
tiền vốn gọi là lãi suất (World Bank).
1.2. Các loại lãi suất cơ bản và phơng pháp đo lờng.
1.2.1. Lãi suất đơn.
Vay đơn là cung cấp cho ngời vay một khoản tiền vốn, vốn này phải đợc hoàn trả ng-
ời cho vay vào ngày mãn hạn cùng với một khoản tiền phụ đợc gọi là tiền lãi.
Đối với những khoản tín dụng đợc thực hiện dới hình thức vay đơn, lãi suất đợc gọi
là lãi suất đơn.
Phơng pháp tính lãi suất đơn:

Tiền lãi
Lãi suất đơn =
Tổng số vốn
Nh vậy ta thấy việc tính toán lãi suất đơn rất đơn giản và thông thờng đợc áp dụng
trong các món vay thơng mại có thời hạn ngắn hơn một năm hay là thời hạn cho vay
trùng khít với chu kỳ tính lãi.
1.2.2. Lãi suất tích họp.
Từ việc xem xét lãi suất đơn ta thấy nảy sinh vấn đề: nếu chúng ta tham gia vào một
quan hệ tín dụng dài hạn hơn, 2 hoặc nhiều năm, trong đó chu kỳ tính lãi lại thờng là
một năm hoặc thậm chí ít hơn, tức là chu kỳ tính lãi nhỏ hơn thời gian tín dụng mà lại áp
dụng cách tính toán trên đây thì, một là mặc nhiên đã có sự thừa nhận một mức lãi suất
giống nhau giữa các thời kỳ khác nhau, và hai là chúng ta đã không tính toán đầy đủ giá
trị của việc sử dụng số tiền vốn dĩ đã lớn hơn số tiền gốc ban đầu do khoản tiền lãi của
chu kỳ tính lãi hoặc năm trớc đó đem lại. Chính vì lẽ đó lãi suất tích họp đợc coi là công
bằng và chính xác hơn trong việc đo lờng lãi suất đối với các món vay dài hạn.

trái phiếu coupon.
Phơng pháp tính:
- Trờng hợp thời hạn tín dụng là n năm ta có
PV
ì
(1+i)
n
=FV
n
hay PV=FV
n
/(1+i)
n
Trong đó - PV: giá trị hiện tại
- FV
n
: giá trị tơng lai sẽ đợc thanh toán của số tiền sau thời gian tín
dụng.
- Trờng hợp những khoản tín dụng trả từng phần cố định vào thời điểm cuối mỗi
năm trong suốt thời kỳ tín dụng thì ta có:
PV=FP/(1+i)
1
+FP/(1+i)
2
++FP/(1+i)
nTrong đó FP: khoản thanh toán hàng năm đã biết.
Để tính lãi suất hoàn vốn (i) ta phải giải các phơng trình trên.

- P
cb
là giá của trái phiếu coupon.
- C là tiền coupon hàng năm.
1.2.3.2. Lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính giảm.
3
Sử dụng cho các loại trái phiếu chiết khấu hay tính giảm, tức là để trả thu nhập cho
ngời mua ngời ta bán trái phiếu với giá thấp hơn mệnh giá của nó. Để đơn giản ngời ta
tính tỷ suất lợi nhuận của trái phiếu và coi tỷ suất đó nh là lãi suất hoàn vốn:
i
tg
= {(F - P
tg
)/F}(360/N)
Trong đó: - i
tg
là lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính giảm.
- F là mệnh giá của trái phiếu tính giảm.
- P
tg
là giá bán trái phiếu.
- N số ngày tới khi đến hạn thanh toán của trái phiếu.
1.3. Một số phân biệt về lãi suất.
1.3.1. Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa.
Tỷ lệ lạm phát hay tỷ lệ trợt giá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn
làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa. Vì vậy, lãi suất thực luôn nhỏ
hơn lãi suất danh nghĩa bởi tỷ lệ lạm phát nói trên.
- Trờng hợp tỷ lệ lạm phát (i
i
) không lớn hơn 10% thì lãi suất thực và lãi suất danh

Ta thấy tỷ lệ lạm phát càng cao, lãi suất thực càng thấp.
1.3.2. Lãi suất và tỷ suất lợi tức.
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn cho vay.
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm của số thu nhập của ngời có vốn trên tổng số vốn
anh ta đã đa vào sử dụng (đầu t hay cho vay).
- Ví dụ về lãi suất và tỷ suất lợi tức: Ông A mua một trái phiếu kho
bạc có thời hạn là 1 năm, mệnh giá là 1.000.000 VND với lãi suất cố định là 6% năm.
Nếu ông A giữ trái phiếu đó cho đến ngày đáo hạn và nhận khoản thu nhập bằng 6%
mệnh giá trái phiếu và đúng bằng lãi suất của trái phiếu. Nhng nếu lãi suất trên thị trờng
là 5%, ông A đem bán trái phiếu này và thu đợc 1.200.000 VND, thì lúc này khoản thu
nhập của ông A là 200.000 VND và tỷ suất lợi tức là 20%.
Nh vậy, lãi suất không nhất thiết phải bằng với tỷ suất lợi tức. Trong hoạt động cho
vay của các tổ chức tín dụng, ngoài một tỷ lệ lãi nhất định các tổ chức này còn đòi hỏi
ngời vay tiền phải trả thêm các khoản phí, và do đó, tổng thu nhập từ những khoản cho
vay không chỉ là phần tiền lãi có đợc do lãi suất cho vay mang lại mà còn cộng thêm các
khoản chi phí trên. Tỷ lệ % của tổng thu nhập (còn gọi là chi phí tài chính đối với ngời
đi vay) trên số vốn cho vay chính là tỷ suất lợi tức hay lãi suất hiệu quả của tổ chức tín
dụng.
1.3.3. Các lãi suất cơ bản của ngân hàng.
Ba loại lãi suất cơ bản của ngân hàng thờng đợc quan tâm hơn cả bao gồm lãi suất
tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng.
- Lãi suất tiền gửi thông thờng là lãi suất mà ngân hàng thơng mại (NHTM) trả cho
ngời gửi tiền trên số tiền ở tài khoản tiền tiết kiệm, lãi suất tiền gửi đợc xác định thông
qua công thức:
i
tg
= i
cb
+ i
i

định của thị trờng vốn phải đợc đảm bảo vững chắc.
2.2. Lạm phát dự tính.
Khi mức lạm phát đợc dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có
xu hớng tăng lên (hiệu ứng Fisher).
Nguyên nhân:
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho thấy để
duy trì lãi suất thc không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng
lên tơng ứng.
- Công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc
dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác nh vàng, ngoại tệ
mạnh chính điều này sẽ làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của
các ngân hàng cũng nh trên thị trờng.
2.3. Hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nớc.
Ngân sách Nhà nớc vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu tiền vay đối với
ngân hàng. Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách Nhà nớc là một trong những nhân
tố ảnh hởng đến lãi suất. Ngân sách bội chi hay thu không kịp tiến độ sẽ dẫn đến lãi suất
tăng. Để bù đắp, chính phủ sẽ vay dân bằng cách phát hành trái phiếu. Nh vậy lợng tiền
trong dân chúng sẽ bị thu hẹp làm tăng lãi suất.
Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho vay trong các định
chế tài chính tăng lên, trong khi cung lại giảm và nâng cao lãi suất hoặc ngời dân dự
đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nớc tăng khối lợng cung ứng tiền tệ, dẫn tới việc găm
tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một cách tơng ứng và lãi suất
tăng lên.
2.4. Thay đổi của thuế.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty khi tăng lên có nghĩa là điều tiết đi
một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những
ngời tham gia kinh doanh chứng khoán. Mọi ngời đều quan tâm tới lợi nhuận sau thuế
hay thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa do đó để đảm bảo mức lợi nhuận thực
tế họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của thuế.
Vấn đề xác lập và điều chỉnh thuế cho phù hợp nhằm hạn chế những tác động ngoài

kinh t ton cu t u nm 2001 n nay, ngân hàng nhà nớc (NHNN) ó ct gim lói
sut c bn i vi ng Vit Nam (VND) ti 4 ln, t mc 0,75%/thỏng, xung cũn
0,725%, 0,65% v 0,60%/thỏng (t 1-11-2001) ; ng thi, 2 ln ct gim lói sut tỏi cp
vn, t mc 0,50% xung 0,45%/thỏng ri 0,40%, 2 ln ct gim lói sut tỏi chit khu t
0,45%/thỏng xung 0,40% ri 0,35%.
3. ảnh hởng của lãi suất trong nền kinh tế.
3.1. Lãi suất với quá trình huy động vốn.
Đối với Việt Nam trên con đờng phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn
có tầm quan trọng đặc biệt cả về phơng pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy
chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hớng vốn trong nớc là quyết định,
vốn ngoài nớc là quan trọng trong chiến lợc CNH-HĐH nớc ta hiện nay.
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải bảo
tồn đợc giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả ngời cho vay và ngời đi vay. Cụ thể:
+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân.
+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
Lãi suất có khả năng điều tiết một cách tự nhiên lợng vốn lu thông từ nơi thừa đến
nơi thiếu, từ ngời có vốn sang ngời cần vốn để đa vốn vào sử dụng trong các dự án đầu t
sản xuất kinh doanh có lợi cho nền kinh tế và xã hội. Mức lãi suất nhỏ hơn mức hợp lí
sẽ khiến ngời vay đánh giá thấp giá trị sử dụng của đồng vốn dẫn đến đầu t không hiệu
quả, lãng phí nguồn vốn, gây thiệt hại cho bản thân ngời đi vay lẫn ngời cho vay và hơn
nữa, ảnh hởng đến sự tăng trởng kinh tế. Ngợc lại, mức lãi suất cao hơn mức hợp lí tức là
đánh giá quá cao giá trị sử dụng của đồng vốn thì chỉ có tác dụng khuyến khích ngời cho
vay, làm cho vốn trở nên d thừa, ứ đọng, không đợc đầu t vào sản xuất kinh doanh,
không sinh lãi, lúc đó đồng vốn trở thành vốn chết không còn tác dụng gì nữa.
3.2. Lãi suất với quá trình đầu t.
Quá trình đầu t của doanh nghiệp vào tài sản cố định đợc thực hiện khi mà họ dự
tính lợi nhuận thu đợc từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho các khoản đi
vay để đầu t. Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành
mở rộng đầu t và ngợc lại. Trong môi trờng tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status