Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
LỜI CẢM ƠN
Có thể nói đây là một đề tài rất mới và cũng rất khó. Nhưng với sự nỗ lực
của bản thân và trên hết là sự chỉ bảo và tận tình hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn
Kim Giao em đã hoàn thành luận án này. Vì vậy lời đầu tiên em xin chân thành
cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ chỉ bảo và hướng dẫn của thầy.
Ngoài ra em cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Khoa Điện
Tử Viễn Thông - trường Đại học Công Nghệ - Đại học quốc gia Ha Nội đã giảng
dạy và tạo môi trường tôt cho em nghiên cứu và học tập.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học cùng khoá K49 những
người luôn sát cánh bên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian
làm khoá luận tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Đinh Mạnh Hải
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
1
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
TÓM TẮT NỘI DUNG
Vấn đề RWA hiện nay rất được quan tâm nghiên cứu với một số lượng công
trình đáng kể đã được công bố. Với cùng một cấu trúc vật lý, bằng các phương pháp
định tuyến và gán bước sóng hợp lý trong cấu trúc mạng quang cho ta truyền được
lưu lượng cao và mang lại hiệu quả sử dụng băng tần cũng như chất lượng dịch vụ
Luận văn trình bày tổng quan về chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS và
chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quátGMPLS.
Trên cơ sở một số giải pháp điển hình cho bài toán RWA, luận văn đã xây
dựng được mô hình mô phỏng các bài toán đã đề xuất bằng OMNET++ cho mạng
quang thông minh ION.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
2
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
3
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
D. Giao thức MPLS – BGP
30
1.5.Công nghệ GMPLS
30
1.5.1.Nhãn tổng quan của GMPLS
31
1.5.2.Bộ giao thức GMPLS
32
Chương 2: Giới thiệu bài toán định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang.
33
2.1. Giới thiệu
33
2.2.Các loại bài toán RWA
34
2.2.1. Thiết lập luồng quang tĩnh (SLE)
34
2.2.2. Thiếp lập luồng quang động (DLE)
34
2.3.Các phương pháp giải quyết bài toán
34
2.4.Cơ sở lý thuyết
35
2.4.1. Giới thiệu lý thuyết đồ thị
35
2.4.2. Giải thuật Dijkstra
35
2.5. Bài toán RWA trong thiết lập luồng quang tĩnh (SLE)
Chương 3:Phương pháp định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang dựa
trên kỹ thuật GMPLS
50
3.1 MPLS và mạng quang thông minh
50
3.1.1. Tầm bao quát rộng lớn của MPLs
50
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
5
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
3.1.2. Các giao thức định tuyến và phân phối nhãn trong nền MPLS
51
3.1.3. Hướng tới ngăn xếp giao thức đơn giản hơn: IP/MPLS qua DWDM
51
3.1.4. Tương quan giữa MPLS và mạng quang
51
3.1.5. Liên kết và quản lý ba mặt phẳng điều khiển
52
3.2 Bài toán định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang tổ chức trên kỹ thuật
GMPLS
53
3.2.1. Tổng quan về kỹ thuật GMPLS
53
3.2.2.Thiết lập và khôi phục luồng quang
54
3.3. Các điều kiện ràng buộc trong định tuyến quang
54
3.3.1. Điều kiện ràng buộc trong lớp vật lý
55
3.3.2. Các ràng buộc bước sóng
65
4.2.1. Các giả thuyết
65
A. Định nghĩa bài toán
65
B. Xem xét thời gian thiết lập yêu cầu
65
C. Yêu cầu đến
66
D. Xem xét kiến trúc của mạng quang thông minh ION
67
E. Các điều kiện ràng buộc vật lý
67
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
7
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
4.2.2. Xây dựng hàm mục tiêu
69
4.2.3. Mô tả bài toán RWA
70
A. Giải thuật định tuyến
70
B. Mô tả bài toán định tuyến
72
4.3. Xây dựng mô hình
76
4.3.1 Đường lối thực thi
76
A. Mô hình mạng
76
Distribution protocol định tuyến dựa trên ràng buộc
CSR Cell Switching Router Bộ định tuyến chuyển mạch tế bào
DLCI Data Link Connection Identifier Nhận dạng kết nối lớp lien kết dữ
liệu
DLE Dynamic Lightpath Establishment Thiết lập luồng quang động
DWDM Dense Wavelength Division Ghép kênh phân chia theo bước
Muntiplexing sóngmật độ cao (40 hoặc 80 kênh
quang trên mộ sợi)
FEC Forwarding Equivalence Class Lớp chuyển tiếp tương đương
FIB Forwarding Information Base Cơ sở dữ liệu chuyển tiếp trong
bộ định tuyến
GMPLS Generalized Multi Protocol Label Chuyển mạch nhãn đa giao thức
Switching tổng quát
IETF International Engineering Task Tổ chức tiêu chuẩn kỹ thuật Quốc
Force tế cho Internet
IGP Interior Gateway Protocol Giao thức định tuyến trong miền
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
9
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
ILP Integer Linear Program Quy hoạch tuyến tính nguyên
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ISCD Interface Switching Capability Bộ mô tả khả năng chuyển mạch
Descriptor giao diện
IS-IS Intermediate System to Giao thức định tuyến IS-IS
Intermediate System
IS-IS-TE Intermediate System to Giao thức định tuyến IS-IS có kỹ
Intermediate System – Traffic thuật lưu lượng
Engineering
LDP Label Distribution Protocol Giao thức phân bổ nhãn
LMP Link Management Protocol Giao thức quản lý kênh
TWA Total Wavelength and Available Tổng số bước sóng và bước sóng
Có thể sử dụng
UDP User Data Protocol Giao thức dữ liệu người sử dụng
UNI User Network Interface Giao diện mạng- người sử dụng
VCI Virtual Circuit Identifier Trường nhận dạng kênh ảo
VPI Virtual Path Identifier Trường nhận dạng đường ảo
WCC Wavelegth Continuity Ràng buộc bước sóng liên tục
Constraint
WRN Wavelength Routed Network Mạng đinh tuyến bước sóng
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
11
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây,cùng với việc bùng nổ Internet trên toàn cầu kéo theo
đó là các dịch vụ mới như truyền hình số đa phương tiện, video, xử lý ảnh đòi hỏi
băng thông ngày càng cao lên tới cỡ gigabyte với khoảng cách xa, mật độ cao độ rủi
ro thấp. Nhưng các giao thức hiện nay không thể đáp ứng được nhu cầu đó. Do đó
xu thế tất yếu là cần phải có một giao thức mới ra đời nhằm thoả mãn các yêu cầu
trên.Theo nghiên cứu thì các sợi quang với thuận lợi về băng thông (tần số sóng
mang cỡ 200 THz), trong lượng và kích thước nhỏ; hoàn toàn cách biệt về điện,
không có giao thoa cũng như suy hào về đường truyền thấp. Và những ưu điểm đó
đã được phát triển cho các ứng dụng rộng rãi trong mạng truyền dẫn hiện nay. Để
tận dụng được những ưu điểm trên thì việc phân luồng và gán bước sóng phù hợp
cho tín hiệu đến và đi cho các tuyến trên sợi quang là công việc rất có ý nghĩa nhằm
phát huy năng lực tiềm tàng của sợi trong việc tăng dung lượng đường truyền
Trên thế giới mạng ghép kênh theo bước sóng WDM (Wavelength Division
Multiplexing) đã được thương mại hoá từ năm 1996. Xu thế phát triển mạng hiện
nay ở Việt Nam là mục tiêu xây dựng mạng truyền tải toàn quang cho mạng thế hệ
sau NGN (Next Generation Network) dựa trên công nghệ WDM. Những lỗ lực phi
thường về công nghệ truyền dẫn quang trong đó tập trung vào nghiên cứu vấn đề
muốn được tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này nhằm tham gia và trao đổi một vấn đề
học thuật trong một lĩnh vực mạng thông tin quang còn rất rộng lớn và hấp dẫn.
Mục đích của đề tài luận văn là nghiên cứu các kỹ thuật định tuyến và gán
bước sóng trong mạng quang dựa trên GMPLS. Với mục tiêu đó nội dung của luận
văn bao gồm các vấn đề sau:
Chưong 1: Giới thiệu tổng quan về công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao
thức (MPLS) và chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát (GMPLS)
Chương 2: Giới thiệu về vấn đề định tuyến và gán bước sóng trong mạng
quang (RWA) và cách thức chung để giải quyết bài toán này
Chương 3: Tập trung trình bày về phương pháp định tuyến và gán bước sóng
trong mạng quang dựa trên kỹ thuật chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát
GMPLS
Chương 4: Tập trung vào việc xây dựng mô hình bài toán định tuyến và gán
bước sóng trong mạng quang dựa trên kỹ thuật chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng
quát GMPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
13
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH
NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS VÀ GMPLS
1.1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổ của Internet trên toàn cầu thì
các dịch vụ thoại và đa phương tiện cũng ngày càng phát triển với tốc độ chóng
mặt. Kéo theo đó là vấn đề về tốc độ và dải thông của các dịch vụ này đã vượt quá
tài nguyên hạ tầng của Internet hiện nay.
Như chúng ta đã biết giao thức định tuyến TCP/IP có ưu điểm là khả năng
định tuyến và truyền gói tin một cách hết sức mềm dẻo và linh hoạt. Tuy nhiên
nhược điểm của nó là không đảm bảo được chất lượng dịch vụ, tốc độ truyền tin
theo yêu cầu. Trong khi đó công nghệ ATM có thế mạnh ưu việt về tốc độ truyền
tác nghiên cứu.
IP là giao thức liên mạng phi kết nối. Việc chuyển gói tin thực hiện theo cơ
chế phi kết nối. IP định nghĩa cơ cấu đánh số, cơ cấu chuyển tin, cơ cấu định tuyến
và các chức năng điều khiển ở mức thấp (ICMP). Gói tin IP gồm địa chỉ của bên
nhận địa chỉ là số duy nhất trong toàn mạng và mang đầy đủ thông tin cần cho việc
chuyển gói tới đích. Từ khi giao thức này ra đời, nó nhanh chóng trở thành giao
thức liên mạng thông dụng nhất. Ngày nay gần như các liên mạng công cộng sử
dụng giao thức IP. Mạng IP có mặt ở khắp mọi nơi, mạng Internet toàn cầu chúng ta
hiện nay cũng đang sử dụng giao thức IP.
Bên cạnh những ưu điểm tuyệt vời của giao thức IP (như khả năng định
tuyến), nó cũng có không ít những nhược điểm (như khả năng quản lý chất lượng
dịch vụ), các nhà cung cấp mạng trong quá trình phát triển đã liên tục bổ sung các
giao thức, thuật toán mới (chẳng hạn các giao thức QoS như: RSVP, IntServ,
DiffServ; giao thức IPSec, RTP/RTCP hay các thuật toán tăng tốc độ tìm kiếm địa
chỉ trong bảng định tuyến) để có thể khắc phục các nhược điểm của mạng IP. Nhưng
cái gì cũng có giới hạn của nó, khi nhu cầu sử dụng dịch vụ của người sử dụng tăng
lên cả về loại hình lẫn chất lượng dịch vụ thì mọi sự bổ sung là không đủ và cần có
những công nghệ mạng mới có bản chất khác (không là giải pháp phi kết nối) đáp
ứng yêu cầu QoS tốt hơn. Và thế là nhiều công nghệ mạng đã ra đời, điển hình là FR
và ATM.
Tóm lại, IP là một giao thức chuyển mạch gói có độ tin cậy và khả năng mở
rộng cao. Tuy nhiên, việc điều khiển lưu lượng rất khó thực hiện do phương thức
định tuyến theo từng chặng. Mặt khác, IP cũng không hỗ trợ chất lượng dịch vụ.
1.3. CÔNG NGHỆ ATM
Cùng với sự phát triển của Internet và tăng tốc độ xử lý của bộ định tuyến là
sự phát triển mạnh trong lĩnh vực chuyển mạch. Mạng số dịch vụ tích hợp băng
rộng (B-ISDN) là một kỹ thuật cho phép truyền thông thời gian thực giữa các thiết
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
15
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
chuyên dụng. Do vậy, thông lượng của tổng đài ATM thường lớn hơn thông lượng
của IP router truyền thống.
Do có khả năng hỗ trợ truyền dữ liệu, thoại, và video với chất lượng cao trên
một số các công nghệ băng tần cao khác nhau, ATM từng được xem như là công
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
16
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
nghệ chuyển mạch hứa hẹn và thu hút nhiều sự quan tâm. Tuy nhiên, hiện nay cũng
như trong tương lai hệ thống toàn ATM sẽ không phải là sự lựa chọn phù hợp nhất.
Đối với các ứng dụng có thời gian kết nối ngắn, thì môi trường hướng kết nối
dường như lại không thích hợp do thời gian để thiết lập kết nối cũng như tỷ lệ phần
thông tin mào đầu lại quá lớn. Với các loại lưu lượng như vậy thì môi truờng phi kết
nối với phương thức định tuyến đơn giản, tránh phải sử dụng các giao thức báo hiệu
phức tạp sẽ phù hợp hơn.
1.4. CÔNG NGHỆ MPLS
Chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS) là kết quả của quá trình phát triển
nhiều giải pháp chuyển mạch IP, được chuẩn hoá bởi IETF. Tên gọi của nó bắt
nguồn từ thực tế đó là hoán đổi nhãn được sử dụng như là kỹ thuật chuyển tiếp nằm
ở bên dưới. Sử dụng từ “đa giao thức” trong tên của nó có nghĩa là nó có thể hỗ trợ
nhiều giao thức lớp mạng, không chỉ riêng IP. Ngoài ra các nhà cung cấp mạng có
thể cấu hình và chạy MPLS trên các công nghệ lớp 2 khác nhau như Fram Relay …
không chỉ riêng ATM. Về mặt kiến trúc điều này là đúng, nhưng trong thực tế
MPLS thường tập trung vào việc vận chuyển các dịch vụ IP trên nền ATM.
MPLS là giải pháp nhằm liên kết định tuyến lớp mạng và cơ chế hoán đổi
nhãn thành một giải pháp đơn nhất để đạt được các mục tiêu sau:
Cải thiện hiệu năng định tuyến
Cải thiện tính mềm dẻo của định tuyến trên các mô hình xếp chồng truyền
thống.
Tăng tính mềm dẻo trong quá trình đưa và phát triển các loại hình dịch vụ
mới.
lưu lượng tại các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LSR, nghẽn lưu lượng nhanh
chóng được phát hiện và vị trí xảy ra nghẽn lưu lượng có thể xác định. Tuy nhiên,
giám sát lưu lượng theo phương thức này không đưa ra được toàn bộ thông tin về
chất lượng dịch vụ (ví dụ như trễ xuyên xuốt của miền MPLS). Việc đo trễ có thể
được thực hiện bởi giao thức lớp hai. Để giám sát tốc độ của mỗi luồng và đảm bảo
các luồng lưu lượng tuân thủ tính chất lưu lượng đã được định trước, hệ thống giám
sát có thể dùng một thiết bị định dạng lưu lượng. Thiết bị này sẽ cho phép giám sát
và đảm bảo tuân thủ đặc tính lưu lượng mà không cần thay đổi các giao thức hiện
có.
Khi một gói tin vào mạng MPLS, các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn
không thực hiện chuyển tiếp theo từng gói mà thực hiện phân loại gói tin vào trong
các lớp tương đương chuyển tiếp FEC, sau đó các nhãn được ánh xạ vào trong các
FEC. Một giao thức phân bổ nhãn LDP được xác định và chức năng của nó là để ấn
định và phân bổ các ràng buộc FEC/nhãn cho các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn
LSR. Khi LDP hoàn thành nhiệm vụ của nó, một đường dẫn chuyển mạch nhãn
LSP được xây dựng từ lối vào tới lối ra. Khi các gói vào mạng, LSR lối vào kiểm
tra nhiều trường trong tiêu đề gói để xác định xem gói thuộc về FEC nào. Nếu đã có
một ràng buộc nhãn/FEC thì LSR lối vào gắn nhãn cho gói và định hướng nó tới
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
18
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
giao diện đầu ra tương ứng. Sau đó gói được hoán đổi nhãn qua mạng cho đến khi
nó đến LSR lối ra, lúc đó nhãn bị loại bỏ và gói được xử lý tại lớp 3. Hiệu năng đạt
được ở đây là nhờ việc đưa quá trình xử lý lớp 3 tới biên của mạng và chỉ thực hiện
một lần tại đó thay cho việc xử lý tại từng node trung gian như của IP. Tại các node
trung gian việc xử lý chỉ là tìm sự phù hợp giữa nhãn trong gói và thực thể tương
ứng trong bảng kết nối LSR và sau đó hoán đổi nhãn- quá trình này thực hiện bằng
phần cứng.
Mặc dù hiệu năng và hiệu quả là 2 kết quả quan trọng, song chúng không
phải là các lợi ích duy nhất mà MPLS cung cấp. Trong mắt của những nhà cung cấp
Nhãn xác định đường mà gói sẽ đi qua. Nhãn không trực tiếp mã hoá thông tin của
mào đầu lớp mạng, như địa chỉ lớp mạng. Nhãn được gắn vào một gói tin cụ thể sẽ
đại diện cho một FEC mà gói tin đó được ấn định.
Thường thì một gói được ấn định cho một FEC (hoàn toàn hoặc một phần)
dựa địa chỉ đích lớp mạng của nó. Tuy nhiên nhãn không bao giờ là mã hoá của địa
chỉ đó. Dạng của nhãn phụ thuộc vào phương tiện truyền mà gói tin được đóng gói.
Ví dụ các gói ATM (tế bào) sử dụng giá trị VPI/ VCI như nhãn, Frame Relay sử
dụng DLCI như nhãn, một đoạn đệm được chèn thêm sử dụng cho nhãn. Khuôn
dạng đoạn đệm gồm 4 byte có cấu trúc như hình sau.
Hình 1.1: Dạng nhãn MPLS chung
Đối với các khung PPP hay Ethernet giá trị nhận dạng giao thưc P-ID (hoặc
Ethertype) được chèn thêm vào mào đầu khung tương ứng để thông báo khung là
MPLS unicast hay multicast
Ngăn xếp nhãn (Label stack)
Đó là một tập hợp có thứ tự các nhãn gắn theo gói để truyền tải thông tin về
nhiều FEC mà gói nằm trong và về các LSP tương ứng mà gói đi qua. Ngăn xếp
nhãn cho phép MPLS hỗ trợ định tuyến phân cấp (một nhãn cho EGP và một nhãn
cho IGP) và tổ chức đa LSP trong một trung kế LSP. Mỗi mức trong ngăn xếp nhãn
gắn liền với mức phân cấp nào đó. Điều này tạo thuận lợi cho chế độ hoạt động
đường hầm trong MPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
20
1 bit
Link Layer
Header
MPLS Shim Network Layer
Header
Other Layers Headers
and data
Label Exp.bi
biệt được cung cấp bằng việc sử dụng các luồng dựa trên các chính sách hoặc
phương thức quản lý mạng.
Cơ sở dữ liệu nhãn.
Là bảng kết nối trong LSR. Có chứa giá trị nhãn FEC được gắn vào cổng ra
cũng như thông tin về đóng gói phương tiện truyền.
Gói tin dán nhãn
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
21
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Gói tin dán nhãn là gói tin mà nhãn được mã hoá trong đó. Trong một vài
trường hợp, nhãn nằm trong mào đầu của gói tin dành riêng cho mục đích dán nhãn.
Trong các trường hợp khác, nhãn có thể được đặt chung vào trong mào đầu lớp
mạng và lớp liên kết dữ liệu miễn là ở đây có trường có thể dùng cho mục đích dán
nhãn. Công nghệ mã hoá được sử dụng phải phù hợp với cả thực thể mã hoá và thực
thể giải mã.
Ấn định và phân phối nhãn.
Trong mạng MPLS, quyết định để kết hợp nhãn L cụ thể với một FEC M cụ
thể là do LSR phía trước thực hiện. LSR phía trước sau khi kết hợp sẽ thông báo với
LSR phía sau về kết hợp đó. Do vậy, các nhãn được LSR phía trước ấn định và các
kết hợp nhãn được phân phối theo hướng từ LSR phía trước tới LSR phía sau.
1.4.2. THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MPLS
LSR: Là thành phần quan trọng cơ bản của mạng MPLS. LSR là thiết bị định
tuyến chuyển mạch nhãn (Label Switching Router). Thiết bị này thực hiện chức
năng chuyển tiếp gói thông tin trong phạm vi mạng MPLS bằng thủ tục phân phối
nhãn.
LSR biên: Là thiết bị nằm ở biên của mạng MPLS. LSRs biên gửi hay nhận
các gói thông tin từ hay đến mạng khác nhau (Frame – Relay,ATM….) và chuyển
tiếp lưu lượng của các mạng này lên mạng MPLS sau khi thiết lập LSPs bằng việc
sử dụng giao thức báo hiệu nhãn ở lối vào và phân bổ lưu lượng trở lại mạng truy
nhập ở lối ra. LSR biên gán hay loại bỏ nhãn cho các gói thông tin đến hoặc đi ra
phát hiện của luồng số liệu đặc biệt, bản tin lập dự trữ RSVP hay cập nhập thông tin
định tuyến. Khi một cặp LSR đã trao đổi bản tin LDP cho một FEC nhất định thì
một đường chuyển mạch LSP từ đầu vào đến đầu ra được thiết lập sau khi mỗi LSR
ghép nhãn đầu vào với nhãn đầu ra tương ứng trong LIB của nó. LDP có thể hoạt
động giữa các LSR kết nối trực tiếp hay không trực tiếp.
Hình 1.2. Vị trí giao thức LDP trong bộ giao thức MPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
23
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Các loại bản tin LDP
LDP định nghĩa 4 loại bản tin: Bản tin thăm dò, Bản tin phiên, Bản tin phát
hành, Bản tin thông báo. Bốn loại bản tin này cũng nói lên chức năng mà nó thực
hiện.
Bản tin thăm dò (Discovery): Dùng để thông báo và duy trì sự có mặt
của 1 LSR trong mạng. Theo định kỳ, LSR gửi bản tin Hello qua cổng
UDP với địa chỉ multicast của tất cả các router trên mạng con.
Bản tin phiên (Session): Để thiết lập, duy trì, và xoá các phiên giữa các
LSR. Hoạt động này yêu cầu gửi các bản tin Initialization trên TCP. Sau
khi hoạt động này hoàn thành các LSR trở thành các đối tượng ngang cấp
LDP
Bản tin phát hành (Advertisement): Dùng để tạo, thay đổi và xoá các
ràng buộc nhãn với các FEC. Những bản tin này cũng mang trên TCP.
Một LSR có thể yêu cầu 1 ánh xạ nhãn từ LSR lân cận bất kỳ khi nào nó
cần. Nó cũng phát hành các ánh xạ nhãn bất cứ khi nào nó muốn một đối
tượng ngang cấp LDP nào đó sử dụng ràng buộc nhãn.
Bản tin thông báo (Notification): Dùng để cung cấp các thông báo lỗi,
thông tin chẩn đoán, và thông tin trạng thái. Những bản tin này cũng mang
trên TCP.
Đa số các bản tin LDP chạy trên giao thức TCP để đảm bảo độ tin cậy của
các bản tin (ngoại trừ bản tin thăm dò).
đầu bằng tiêu đề bản tin và sau đó là các bản tin LDP như đã được trình bày ở trên.
Hình 2.8 chỉ ra các trường chức năng của tiêu đề LDP và các trường này thực hiện
các chức năng sau:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB
25