CÔNG NGHỆ MẠNG VIỄN THÔNG - Đề Tài: "TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS" - Pdf 12

CÔNG NGHỆ MẠNG VIỄN THÔNG
Đề Tài:
TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN MẠCH NHÃN
ĐA GIAO THỨC MPLS
Giáo viên hướng dẫn: Ngô Hán Chiêu
Sinh viên thực hiện:
- Mai Đức An - 07520425
- Nguyễn Thành Trung - 08520435
- Trương Thị Thùy Duyên - 08520530
- Lê Kim Hùng – 08520548
MỤC LỤC
1. Lịch sử phát triển 05
2. Giới thiệu MPLS 06
2.1. Tổng quan 06
2.2. Các thuật ngữ 08
3. Các khái niệm cơ bản trong MPLS 09
3.1. Nhãn 09

3.2. Upstream và Downstream LSR 10
3.3. Gói tin được dán nhãn 11
3.4. Gán và phân phối nhãn 11
3.5. Thuộc tính liên kết nhãn 11
3.6. Giao thức phân phối nhãn 12
3.7. Phân phối nhãn theo yêu cầu và không theo yêu cầu 12
3.8. Chế độ lưu giữ nhãn 13
3.9. Chồng nhãn 14
3.10. Mục chuyển tiếp nhãn trạm kế NHLFE 15
3.11. Liên kết nhãn tới ILM 16
3.12. Liên kết FEC – NHLFE 16
3.13. Hoán đổi nhãn 16
3.14. Phạm vi và tính duy nhất của nhãn 17

khác như IBM, Toshiba…công bố các sản phẩm công nghệ chuyển mạch của họ dưới những tên
khác nhau nhưng đều cùng chung bản chất công nghệ chuyển mạch nhãn.
Thiết bị định tuyến chuyển mạch tế bào của Toshiba năm 1994 là tổng đài ATM đầu tiên
được điều khiển bằng giao thức IP thay cho báo hiệu ATM. Tổng đài của Ipsilon cũng là ma trận
chuyển mạch ATM được điều khiển bởi khối xử lý sử dụng công nghệ IP. Công nghệ chuyển
mạch thẻ của Cisco cũng tương tự nhưng có bổ sung thêm một vài kỹ thuật như lớp chuyển tiếp
tương đương FEC, giao thức phân phối nhãn. Đến năm 1998 nhóm nghiên cứu IETF đã tiến
hành các công việc để đưa ra tiêu chuẩn và khái niệm về chuyển mạch nhãn đa giao thức.
Sự ra đời của MPLS được dự báo là tất yếu khi nhu cầu và tốc độ phát triển rất nhanh của
mạng Internet đòi hỏi phải có một giao thức mới đảm bảo chất lượng dịch vụ theo yêu cầu. Có
rất nhiều công nghệ xây dựng trên mạng IP
• IP trên nền ATM (IPoA)
• IP trên nền SDH/SONET (IPOS)
• IP qua WDM
• IP qua cáp quang
Mỗi loại có những ưu và nhược điểm riêng. Trong đó công nghệ ATM được sử dụng rộng
rãi trong các mạng IP đường trục có tốc độ cao và đảm bảo được dịch vụ, điều khiển luồng và
một số đặc tính khác mà các mạng định tuyến truyền thống không có được, trong trường hợp đòi
hỏi thời gian thực cao thì IpoA là giải pháp tối ưu. MPLS được hình thành dựa trên kỹ thuật đó.
MPLS thực hiện một số chức năng sau
• Hỗ trợ các giải pháp mạng riêng ảo VPN
• Định tuyến hiện (điều khiển lưu lượng)
• Hỗ trợ cục bộ cho định tuyến IP trong các tổng đài chuyển mạch ATM
Khái niệm chuyển mạch nhãn xuất phát từ hai khái niệm: Tổng đài chuyển mạch và bộ
định tuyến.
Xét trên góc độ chuyển mạch, phương thức điều khiển luồng, tỉ lệ giá cả và chất lượng
tổng đài chuyển mạch sẽ tốt hơn bộ định tuyến. Song bộ định tuyến lại có khả năng định tuyến
mềm dẻo mà tổng đài chuyển mạch không có được. Do đó, chuyển mạch nhãn ra đời là sự kết
hợp và kế thừa các ưu điểm trên cũng như khắc phục những nhược điểm của cả tổng đài và bộ
định tuyến truyền thống.

thông thường chỉ có thể dựa vào thông tin trong phần header của gói tin lớp mạng.
- Một gói tin khi đi vào mạng MPLS tại một router cụ thể có thể được dán nhãn khác khi
cũng gói tin đó, nhưng đến một router khác trong mạng. Do đó việc chuyển tiếp gói tin
trong mạng này phụ thuộc vào router đến (ingress router). Việc này không thể thực hiện
được với chuyển tiếp thường thấy vì phần nhận biết router đến của 1 gói tin thì không
được chuyển đi kèm với gói tin.
- Việc xem xét và ấn định FEC cho một gói tin có thể càng lúc càng phức tạp, mà không có
bất kì can hệ nào với các router chỉ đơn thuần chuyển tiếp các gói tin đã được dán nhãn.
- Đôi lúc một gói tin cần phải buộc theo một đường đi cố định được chỉ định lúc gói tin bắt
đầu đi vào mạng MPLS thay vì được chọn bởi các thuật toán định tuyến động thông
thường. Điều này có thể được thực hiện bằng các chính sách hoặc các kĩ thuật hỗ trợ
đường đi. Với chuyển tiếp thông thường, nó đòi hỏi gói tin phải mang theo mã hóa của
đường đi theo nó (source routing). Với MPLS, một nhãn có thể được sử dụng để đại diện
cho đường đi này, do đó source routing không cần phải gởi kèm theo với gói tin.
Một số router phân tích header gói tin không đơn thuần chỉ để lựa chọn next hop cho
gói tin, mà còn để quyết định quyền ưu tiên hay loại dịch vụ của gói tin. Từ đó có thể áp
dụng các ngưỡng loại bỏ gói tin hay lập lịch cho các gói tin khác nhau. MPLS cho phép
độ ưu tiên hoặc loại dịch vụ có thể được suy ra hoàn toàn hoặc một phần từ nhãn. Trong
trường hợp này, có thể nói rằng nhãn thể hiện sự kết hợp giữa FEC và độ ưu tiên hay loại
dịch vụ của gói tin.
MPLS viết tắt cho Multiprotocol Label Switching. Multiprotocol là vì kĩ thuật của nó
có thể được áp dụng cho bất kì giao thức lớp mạng nào. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ tập
trung nói đến giao thức IP.
Một router có hỗ trợ MPLS được gọi là một “Label Switching Router”, hay LSR.
2.2. Thuật ngữ
Các thuật ngữ được sử dụng trong MPLS
- DLCI: một dạng nhãn được sử dụng trong mạng Fram Relay
- Forwarding equivalence class: Lớp chuyển tiếp tương đương - một nhóm các
gói tin IP được chuyển tiếp theo cùng một hướng xử lý (ví dụ, cùng một
đường đi, với cùng một quy trình chuyển tiếp)

L3 và có khả năng chuyển tiếp gói tin dựa vào nhãn.
3. Các khái niệm cơ bản trong MPLS
3.1. Nhãn
Có độ dài ngắn, cố định, có giá trị cục bộ được sử dụng để nhận biết một FEC. Nhãn
được đặt vào một gói tin đại diện cho lớp chuyển tiếp tương đương Forwarding
Equivalence Class mà gói tin được ấn định.
Thông thường, một gói tin được ấn định vào một FEC dựa vào (hoàn toàn hoặc một
phần) địa chỉ mạng đích của nó. Tuy nhiên, nhãn không bao giờ là mã hóa của địa chỉ
này.
Nếu Ru và Rd là LSRs, giả sử Ru muốn chuyển gói tin đến cho Rd, Ru sẽ dán nhãn L
vào gói tin khi và chỉ khi gói tin là một thành viên của FEC F. Có nghĩa là, có một “kết
nối” giữa nhãn L và FEC F để chuyển gói tin từ Ru sang Rd. Như vậy, L trở thành “nhãn
ra” (outgoing label) của Ru, đại diện cho FEC F, và là “nhãn vào” (incoming label) của
Rd. L chỉ có giá trị cục bộ giữa Ru và Rd.
Khi nói gói tin được chuyển từ Ru sang Rd, ta ko hề ngụ ý rằng nguồn của gói tin là
Ru hay đích là Rd. Đúng hơn là, gói tin đi qua các LSRs.
Thỉnh thoảng sẽ khó hoặc thậm chí là không thể để Rd xác định với một gói tin đến
mang theo nhãn L, thì nhãn L đã được đặt vào trong gói tin bởi Ru hay là một LSR nào
khác. (trường hợp này thường là khi Ru và Rd không phải là các láng giềng trực tiếp –
direct neighbors). Khi đó, Rd phải chắc chắn rằng việc gắn kết nhãn – FEC là một-một.
Nghĩa là, Rd KHÔNG ĐƯỢC đồng ý với Ru1 liên kết L – FEC F1, trong khi cho phép
một LSR Ru2 nào đó gắn kết L với một FEC F2 khác,TRỪ PHI Rd có thể xác định, khi
nó nhận được một gói tin với nhãn vào là L, thì Ru1 hay Ru2 là router đặt nhãn L vào gói
tin.
Trong đó:
 Label: giá trị của nhãn
 EXP: dành cho thực nghiệm. Khi các gói tin xếp hàng có thể dùng các bít này
tương tự như các bit IP ưu tiên (IP Precedence), có thể dùng để phân loại dịch vụ (class of
service)
 S: là bít cuối chồng. Nhãn cuối chồng bit này được thiết lập lên 1,các nhãn khác

LSR, đồng thời phân phối một liên kết một nhãn với FEC F, thì dưới một số điều kiện
nhất định, nó có thể bị đòi hỏi phải đồng thời phân phối attribute tương ứng mà nó nhận
được từ Rd.
3.6. Label Distribution Protocols – giao thức phân phối nhãn
Một giao thức phân phối nhãn là một tập các thủ tục mà một LSR báo cho một LSR
khác về liên kết nhãn – FEC mà nó có. 2 LSRs sử dụng giao thức phân phối nhãn để trao
đổi các thông tin nhãn –FEC được gọi là “label distribution peers” (cặp phân phối nhãn
ngang hàng). Nếu 2 LSRs là cặp phân phối nhãn ngang hàng, ta nói rằng có một “label
distribution adjacency” (mối quan hệ phân phối nhãn liền kề) giữa chúng.
Chú ý, 2 LSRs có thể là cặp phân phối nhãn ngang hàng đối với một số tập các liên
kết, nhưng có thể là không với một số tập liên kết khác.
Giao thức phân phối nhãn cũng đảm nhiệm việc thương lượng về khả năng của MPLS
giữa 2 cặp phân phối nhãn ngang hàng.
Cấu trúc MPLS không nhất thiết rằng chỉ có duy nhất một giao thức phân phối nhãn.
Thực tế, có một số các giao thức phân phối nhãn khác nhau đang dần trở thành chuẩn.
Một số giao thức đã tồn tại được mở rộng thêm để có thể thực thi luôn việc phân phối
nhãn (ví dụ MPLS-BGP, MPLS-RSVP-TUNNELS….) Các giao thức mới cũng được
thiết lập cho mục đích này (ví dụ MPLS-LDP, MPLS-CR-LDP)
Trong tài liệu này, ta coi như LDP là giao thức phân phối được định nghĩa trong
MPLS-LDP.
3.7. Unsolicited Downstream và Downstream-on-Demand (downstream-ko-theo-yêu-
cầu và downstream-theo-yêu-cầu)
Cấu trúc MPLS cho phép một LSR đòi hỏi bắt buộc từ trạm kế của nó một FEC cụ
thể, một liên kết nhãn cho FEC đó. Việc này được coi là phân phối nhãn “downstream-
on-demand”.
Tuy nhiên, kiến trúc MPLS đồng thời cũng cho phép một LSR phân phối liên kết
nhãn tới một LSR là cái ko yêu cầu điều này. nó được gọi là phân phối nhãn ko theo yêu
cầu.
MPLS có thể cung cấp chỉ một cơ chế phân phối nhãn theo yêu cầu hoặc không theo
yêu cầu, hoặc cung cấp cả hai. Cái nào được cung cấp phụ thuộc vào thuộc tính của

Nếu chồng nhãn có bậc là m, có nghĩa là nhãn dưới cùng trong chồng nhãn được coi
như nhãn tầng 1, nhãn tiếp theo trên nó là nhãn tầng 2, và nhãn trên cùng của chồng nhãn
là nhãn tầng m.
Lợi ích của chồng nhãn sẽ rõ ràng hơn trong phần giới thiệu về LSP Tunnel và MPLS
Hiarachy.
3.10. The Next Hop Label Forwarding Entry (NHLFE) – mục chuyển tiếp nhãn
trạm kế
NHLFE được sử dụng khi chuyển một gói tin đã được dán nhãn. Nó gồm các yếu tố
sau:
- Trạm tiếp của gói tin
- Các hoạt động có thể có đối với chồng nhãn :
a) Thay thế nhãn trên cùng của chồng nhãn với một nhãn mới
b) Pop the label stack – hủy chồng nhãn
c) Thay thế nhãn trên cùng của chồng nhãn bằng một nhãn mới, và sau đó
đặt một hoặc nhiều nhãn mới vào chồng nhãn.
Còn có thể kèm theo:
d) Đóng gói tầng data link khi vận chuyển gói tin
e) Cách mã hóa chồng nhãn khi vận chuyển gói tin
f) Các thông tin cần thiết khác
Chú ý rằng tại một LSR cho trước, trạm tiếp theo của một gói tin (next hop)
có thể là chính nó. Trong trường hợp này, LSR cần xóa nhãn trên cùng (pop
the top level label), và sau đó “chuyển” gói tin cho chính nó. Sau đó nó có thể
có quyết định việc chuyển tiếp tùy vào các thông tin còn lại sau. Đó có thể vẫn
là một gói tin được dán nhãn, hoặc là một gói tin IP thường.
3.11. Incoming Label Map (ILM)
ILM liên kết nhãn tới với tập các NHLFEs. Nó được sử dụng khi chuyển một gói tin
đã được dán nhãn.
Nếu ILM liên kết một nhãn tới một tập các NHLFEs chứa nhiều trạm kế, một trong
số trạm kế sẽ được chọn. một ILM liên kết một nhãn với một tập chứa nhiều hơn một
NHLFE có thể hữu dụng nếu nó có chức năng cân bằng tải qua nhiều đường có giá trị

- Ru1 và Ru2 là những cặp liên kết nhãn ngang hàng duy nhất với Rd.
- Ru1 và Ru2 là các kết nối trực tiếp tới Rd qua một giao tiếp điểm-điểm.
Khi các điều kiện này thỏa, một LSR có thể sử dụng nhãn theo không gian mỗi giao
tiếp một nhãn – per-interface label space. Khi không thỏa các điều kiện nãy, nhãn buộc
phải có giá trị duy nhất trên LSR ấn định nó, và ta nói rằng LSR sử dụng không gian các
giao tiếp chung nhãn “per-platform label space”.
Nếu liên kết giữa một LSR Ru và LSR Rd là điểm – điểm, thì Rd có thể phân phối tới
Ru một liên kết L – FEC F1, và L – FEC F2, F1 != F2, nếu và chỉ nếu mỗi liên kết chỉ tồn
tại đối với các gói tin Ru gởi cho Rd qua một giao tiếp cụ thể. Với các trường hợp khác,
Rd ko phân phối tới Ru các liên kết có cùng giá trị nhãn với 2 FEC khác nhau.
3.15. Label Switched Path (LSP), LSP Ingress, LSP Egress
Một LSP bậc m đối với một gói tin P là một cuỗi các router <R1, …, Rn> với các đặc
tính sau đây:
- R1, là LSP Ingress (LSP vào), là LSR đặt nhãn trên cùng của chồng nhãn bậc m.
- Với 1<i<n, P có một chồng nhãn bậc m khi được nhận bởi LSR Ri
- Với 1<i<n, Ri truyền P tới R(i+1) bằng MPLS, ví dụ, bằng cách sử dụng nhãn trên cùng
của chồng nhãn như một chỉ mục tới liên kết nhãn tới ILM;
- Với 1<i<n, nếu một hệ thống S nhận và chuyển P sau khi P được truyền bởi Ri nhưng
trước khi P được nhận bởi R(i+1) (ví dụ, Ri và R(i+1) có thể kết nối thông qua một thiết
bị chuyển mạch, và S có thể là 1 trong những switch tầng datalink), khi đó S thực hiện
chuyển P đi không dựa vào nhãn bậc m hay header của tầng network mà chỉ dựa vào các
nhãn được thêm vào (ví dụ, nhãn bậc m+k, với k>0)
- Nói cách khác, ta có thể phát biểu về LSP bậc m đối với gói tin P như một chuỗi các
router:
. Bắt đầu với một LSR đặt vào chồng nhãn nhãn bậc m (LSP vào)
. Tất cả các LSRs trung gian thực hiện quyết định chuyển tiếp dựa vào nhãn bậc m
. Kết thúc là LSP ra, khi việc chuyển tiếp được thực hiện bởi việc chuyển tiếp nhãn
trên nhãn bậc m-k, với k>0, hoặc khi một quyết định chuyển tiếp được thực hiện một
cách bình thường mà ko có sự can dự của MPLS.
Khi một LSR đặt nhãn vào gói tin đã được dán nhãn, nó phải đảm bảo nhãn mới đúng

Và trường hợp xóa nhãn ở trạm gần cuối:
3.17. Trạm LSP tiếp theo
Trạm LSP kế tiếp với một gói tin đã được dán nhãn tại một LSR cụ thể là LSR tiếp
theo được chọn bởi NHLFE.
Trạm LSP kế tiếp với một FEC cụ thể là trạm tiếp theo được chọn vởi NHLFE bởi 1
nhãn tương ứng với FEC đó.
Chú ý rằng trạm LSP tiếp theo có thể khác với trạm tiếp theo được chọn bởi các thuật
toán định tuyến. Ta sử dụng “trạm L3 tiếp theo” để nói tới trường hợp thứ 2.
3.18. Invalid Incoming Labels – nhãn tới không tồn tại
Một LSR sẽ làm gì khi nó nhận được một gói tin được dán nhãn tới nhưng nó lại
không hề có liên kết nào cho nhãn này? Có thể tạm nghĩ rằng nhãn sẽ được bỏ đi và gói
tin được chuyển đi như một gói IP chưa được dán nhãn. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, làm như vậy có thể gây ra một vòng lặp. nếu LSR upstream cho rằng nhãn này là
một đường đi đúng, và LSR downstream thì không biết nhãn này dẫn tới đâu, và nếu định
tuyền từng trạm với gói tin chưa được dán nhãn mang gói tin trở lại với LSR upstream,
tạo thành một vòng lặp.
Do đó, khi nhận được một gói tin được dán nhãn tới không tồn tại, buộc phải hủy gói
tin, trừ phi nó biết được rằng chuyển một gói tin chưa được dán nhãn thì không gây ra bất
cứ tổn hại nào.
3.19. LSP Control: Ordered verus Independent – điều kiển LSP: Theo thứ tự và
Độc lập
Một số FEC có dạng tiền tố của địa chỉ được phân phối qua một thuật toán định tuyến
động. việc thiết lập LSP cho các FEC này có thể được thực hiện theo 2 cách: Điều kiển
LSP độc lập và điều khiến LSP có trật tự.
Với Điều khiển LSP độc lập, mỗi LSR nhờ vào việc nhận diện FEC để thực hiện
việc ;iên kết một nhãn tới FEC đó và phan phối liên kết này tới cặp phân phối nhãn ngang
hàng với nó. Điều này tương ứng với cách định tuyến thường thấy của một gói tin IP; mỗi
nút thực hiện một quyết định độc lập với mỗi gói tin, và dựa hoàn toàn vào thuật toán
định tuyến để hội tụ nhanh nhằm đảm bảo gói tin được phân phối chính xác.
Đối với điều khiển LSP có trật tự, mỗi LSR chỉ liên kết nhãn – FEC nếu nó là LSR

Như vậy chúng ta có thể nói "độ chi tiết" của tập hợp, với (a) là "độ chi tiết tệ nhất",
và (c) là "độ chi tiết tốt nhất".
Khi điều khiển có trình tự được sử dụng, mỗi LSR cần được áp dụng một tập hợp các
FEC, độ chi tiết được sẽ sử dụng cho hop kế tiếp cho các FEC đó.
Khi điều khiển độc lập được sử dụng, có thể có hai LSR liền kề, Ru và Rd, tổng hợp
một số tập hợp của các FEC khác nhau.
Không phải là vấn đề nếu Ru có độ chi tiết tốt hơn Rd,. Ru phân phối nhãn cho tập
các FEC nhiều hơn Rd. Có nghĩa rằng khi Ru có nhu cầu chuyển tiếp các gói được dán
nhãn trong những FEC đến Rd, nó có thể cần ánh xạ n nhãn vào m nhãn, trong đó
n> m.có thể Ru thu hồi n nhãn mà nó đã phân phối, và sau đó phân phối một tập hợp m
nhãn, tương đương với mức độ độ chi tiết của Rd. Việc này sẽ dẫn đến làm giảm số lượng
của các nhãn được phân phối bởi Ru, Ru phân phối một số lượng lớn các nhãn nó cũng
sẽ không nhận được bất kỳ lợi ích nào.
Nếu Ru có độ chi tiếp thấp hơn so với Rd ( Rd đã phân phối n nhãn cho một tập các
FEC, trong khi Ru chỉ phân phối m, và n > m ), có hai trường hợp :
- Nó thông qua độ chi tiết của Rd. Điều này sẽ yêu cầu thu hồi m nhãn đã cấp phát và
cấp phát lại n nhãn. Đây là phương án thường được sử dụng.
- Đơn giản hơn là ánh xạ m nhãn vào một tập con của n nhãn của Rd. Nếu có thể
cùng định tuyến. Ví dụ, giả sử Ru áp dụng một nhãn đơn cho tất cả các lưu thông truy
cập sẽ cần phải đi qua một LSR lối ra nhất định, khi Rd liên kết với một số nhãn khác
nhau để lưu thông, tùy thuộc vào từng điểm đích của gói tin. Nếu Ru biết địa chỉ của
router lối ra, và nếu Rd bị ràng buộc một nhãn đến FEC bằng cách xác định theo địa chỉ
của nó, thì Ru có thể sử dụng được nhãn đó.
Trong mọi trường hợp, mỗi LSR cần biết (cấu hình) độ chi tiết để sử dụng cho các
nhãn mà nó gán. Trong trường hợp điều khiển có trình tự được sử dụng, yêu cầu mỗi nút
phải biết thông tin chi tiết các FEC rời khỏi mạng MPLS tại nút đó. Điều khiển độc lập:
kết quả tốt nhất là đảm bảo rằng tất cả các LSR luôn được cấu hình để biết độ chi tiết của
mỗi FEC.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể được thực hiện bằng cách sử
dụng một cấp độ đơn giản của độ chi tiết áp dụng cho tất cả các FEC (như "một nhãn cho
mỗi tiền tiền IP trong bảng định tuyến " hoặc "một nhãn cho mỗi nút lối ra").

- Header của gói không có đủ thông tiên cần thiết để LSR có thể chuyển nó đi một
cách chính xác
Xử lý an toàn nhất là sẽ loại bỏ gói tin.
3.23. Time-to-Live (TTL)
Trong định tuyến IP, mỗi gói tin mang một giá trị Time To Live (TTL) trong header
của nó. Khi một gói tin đi qua một router, TTL của nó bị giảm đi 1, nếu TTL = 0 trước
khi gói tin đến đích, gói tin đó sẽ bị loại bỏ.
TTL tạo ra khả năng chống lặp trong mạng do cấu hình sai, hay do thuật toán định
tuyến thực hiện thất bại hay chậm hội tụ. TTL cũng hỗ trợ tốt cho các chức năng khác
như vùng multicast và lệnh "traceroute". Trong MPLS ta cần chú ý : (i) TTL là một
cách để ngăn chặn lặp, (ii) TTL để thực hiện các chức năng khác, ví dụ như giới
hạn phạm vi của một gói tin.
Khi một gói tin đi dọc theo một LSP, Nó sẽ xuất hiện với cùng một giá tri TTL như
khi đã đi qua một chuỗi các router không chuyển nhãn. Nếu các gói lưu thông theo một
hệ thống phân cấp của các LSP, tổng số các LSR-hop đi qua sẽ được thể hiện trong giá
trị TTL của nó khi nó xuất hiện từ hệ thống phân cấp của các LSP.
TTL sẽ được xử lý khác nhau tùy thuộc vào các giá trị nhãn MPLS đặc thù, Header
"shim" [MPLS-shim], hoặc nếu nhãn MPLS được gắn trong một header Lớp 2, ví dụ
header ATM [MPLS-ATM] hoặc một header frame relay [MPLS-FRMRLY].
Nếu các giá trị nhãn được mã hóa trong một "shim" nằm ở header giữa lớp data
link và lớp network, thì shim này nên được khởi tạo từ TTL của hearder lớp network. và
sẽ được giảm xuống tại mỗi LSR-Hop, và copy lại vào TTL header của lớp network khi
gói tin xuất hiện từ các LSP của nó.
Nếu các giá trị nhãn được mã hóa trong header lớp data link (ví dụ, trường VPI /VCI
trong header AAL5 ATM), và các gói có nhãn được chuyển tiếp bởi một L2 switch (ví
dụ như, chuyển mạch ATM), và lớp data link ( ATM) thì bản thân nó không có TTL,
nó sẽ không thể giảm TTL của gói tại mỗi hop-LSR. Một phân khúc LSP trong đó bao
gồm một chuỗi các LSR không thể giảm TTL của gói sẽ được gọi là một " non-
TTL LSP segment ".
Khi một gói tin xuất hiện từ non-TTL LSP segment, nó nên được gán một TTL thể

3.25.1. MPLS trên phần cứng và/ hoặc phần mềm
Nếu sử dụng MPLS-specific hardware and/or software để chuyện gói được
gắn nhãn , cách mã hóa chồng nhãn là định nghĩa một giao thức mới sử dụng như một
"shim" giữa header lớp hai và lớp ba. Shim sẽ được đóng gói trong gói tin ở lớp

Trích đoạn Sáp nhập nhãn MPLS và định tuyến rõ ràng LSP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status