Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 1
Tiểu luận CHO VAY DOANH NGHIỆP
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 2
Chương I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ
CHO VAY DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM CHO VAY DOANH NGHIỆP :
Cho vay doanh nghiệp là một hình thức mà tổ chức tín dụng cấp tín dụng
cho doanh nghiệp để thực hiện sản xuất kinh doanh trong một thời hạn nhất
định theo như thỏa thuận trong hợp đồng, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Thời hạn cho vay tính từ lúc doanh nghiệp nhận được số tiền vay cho đến
thời điểm doanh nghiệp trả hết cả nợ gốc lẫn lãi.
Điều 8 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN nêu rõ : Cho vay doanh nghiệp
hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng
Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15%
vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ
các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp
nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có cuả tổ chức tín dụng
hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín
dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá
mức giới hạn cho vay quy định tại Khoản 1 điều này khi được Thủ tướng Chính
phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể
Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các
trường hợp sau đây :
+ Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc(Giám đốc), Phó
Tổng giám đốc) (phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
+ Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay;
+ Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)
Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với
những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đôi tượng sau
đây:
+ Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín
dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng
cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;
+ Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;
+ Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điểu 77
của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó
máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng
thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài
khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán
Ngoài ra, tùy theo điều kiện riêng của mình mà các tổ chức tín dụng, các
ngân hàng có thể thực hiên thêm những hình thức cho vay đa dạng khác
Chương 2 :
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 5
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH
CHO VAY KÍCH CẦU
DOANH NGHIỆP NĂM 2008
1. GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CHO VAY :
1.1 Khó khăn chung của nền kinh tế :
Những tháng đầu năm 2008, thế giới phải đương đầu với nguy cơ khủng
hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực. Giá cả hầu hết các mặt hàng tăng
cao, đặc biệt là lương thực và dầu mỏ, gây ra lạm phát chi phí đẩy trên phạm vi
toàn thế giới
tháng Bảy còn 1,13%. Ở chu kỳ tăng giá này, tại nhiều thời điểm, lương thực là
nguyên nhân duy nhất tác động đến chỉ số giá. Tính đến tháng 6/2008, giá
lương thực đã tăng 57,22% so với tháng 12/2007. Với những lực đẩy mạnh mẽ
như trên, CPI tháng 6/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng 19,01%.
Tháng 7/2007, quá trình “hãm phanh” giá xăng trong nước đã quá dài và
đến lúc không thể kiềm chế thêm nữa. Tiếp theo diễn biến giá dầu thế giới đạt
mốc kỷ lục mọi thời đại ở 147 USD vào ngày 11/7, 10 ngày sau đó, giá xăng
A92 đã nhảy vọt với bước tăng 30%, lên mức 19.000 đồng/lít vào ngày 21/7.
Mức tăng gây “sốc” của nhiên liệu quan trọng này đã kéo theo hàng loạt sản
phẩm, dịch vụ tăng giá theo, trong đó phải kể đến những đợt tăng giá cước vận
tải không “hẹn” ngày giảm, hay kể cả những mặt hàng không liên quan nhiều
như rau xanh, thực phẩm chưa chế biến Nhìn lại giai đoạn này, những vòng tác
động gián tiếp và tâm lý đã đẩy nhiều loại hàng hóa tăng giá bất hợp lý như :
sắt, thép, xi măng, lương thực, nhu yếu phẩm …
1.2 Tình trạng hạn chế cho vay doanh nghiệp :
Khó khăn chung của nền kinh tế đã tác động khiến các ngân hàng gặp
phải nhiều khó khăn
CPI tăng cao đã đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng
thương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời điểm vượt trên 18-
19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho vay.
Đầu năm 2008, trước khi có gói giải pháp 8 điểm của Chính phủ nhằm
đối phó với lạm phát, các ngân hàng đã nhanh chóng đưa ra những giải pháp rút
bớt tiền trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất (lãi suất tái chiết khấu, huy
động, tiền vay, lãi suất cơ bản) sát với giá thị trường. Cùng với đó, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quyết định nâng dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 7
thương mại và qui định các ngân hàng mua trái phiếu ngân hàng Nhà nước.
Kèm với đó là hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng bằng việc khống chế ở mức
30%.
không. Nhiều lý do giải thích cho chuyện này, lớn nhất phải kể đến các ngân
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 8
hàng thận trọng hơn khi nhìn vào bối cảnh kinh tế chung, về phía khách hàng
thì lãi suất 21%/năm là rào cản quá lớn với bài toán vay - trả …
Tình hình này rõ ràng là ảnh hưởng hết sức đáng lo ngại đến tăng trưởng
kinh tế. Bởi vì nhiều dự án sản xuất kinh doanh không thể triển khai được do
không vay được vốn, hoặc nếu vay được vốn thì lãi suất lại tăng cao, chi phí
lớn, không có lãi. Do đó nhiều chủ dự án quyết định cho dừng chưa triển khai
dự án vì lãi suất quá cao so với tính toán ban đầu, hoặc do ngân hàng thương
mại cam kết tài trợ vốn nhưng nay ngân hàng đó không giải ngân cho vay.
Có thể kể ra một số nguyên nhân của tình trạng trên như sau :
Nước ta phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao (theo tính tóan mức
lạm phát là 19,89% - nếu so với tháng 12/2007, và xấp xỉ 23% - nếu so với giá
tiêu dùng bình quân của năm 2007). Do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây khó
khăn không nhỏ cho ngân hàng. Họ đã phải tăng lãi suất vay vì thế cho nên phải
tăng lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay quá cao khiến càng ít doanh nghiệp vay
vốn, làm cản trở đến việc kinh doanh của ngân hàng.
Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm sút, việc
thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro
của các ngân hàng
Do lý do thứ hai nên các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho vay
vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành những khoản tiền vô
ích, làm tăng chí phí cho ngân hàng.
Về mặt thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn Việt Nam, tác động của việc
thực hiện chính sách tiền tệ có độ trễ ít nhất là 6 tháng. Các chuyên gia của Quỹ
Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong một báo cáo gần đây về nền kinh tế Việt Nam cũng
tính toán rằng độ trễ trong tác động của chính sách tiền tệ là từ 15 đến 18 tháng.
Do đó tình trạng thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế do các ngân hàng thương mại
hạn chế cho vay đã tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nửa
trận” giảm phát. Điển hình là giá gạo đã có những tháng giảm âm, tạo lực kéo
mạnh lên CPI, đẩy chỉ số này giảm liên tiếp trong 3 tháng cuối của năm.
Sự sụt giảm giá cả nhiều loại hàng hóa trên thị trường thế giới cũng tác
động mạnh đến giá hàng hóa trong nước. Chỉ trong vòng 4 tháng cuối năm, giá
xăng đã giảm liên tiếp 10 lần. Tiếp theo là giá dầu, giá gas cũng giảm mạnh
nhiều lần trong cùng thời gian này. Giá phôi thép trên thị trường thế giới đã
“mò” đáy ở 270-280 USD/tấn, kéo giá sắt thép xây dựng trong nước có thời
điểm chỉ còn ở quanh mức 10 triệu đồng/tấn.
Vẫn còn những đột biến nhỏ lẻ, mang tính khu vực như trận lụt lịch sử
đẩy chỉ số giá tại Hà Nội tăng trở lại trong tháng 11. Tuy nhiên, đây không phải
là diễn biến chung trên diện rộng và xu hướng giảm giá là khó cưỡng.
Ba vòng tác động trong giai đoạn này đã “áp đặt” ảnh hưởng lên thói
quen tiêu dùng, tác động mạnh mẽ đến thị trường hàng hóa và dịch vụ thiết yếu.
Tâm lý chờ giá xuống đã “thắng” tâm lý cầm cự của doanh nghiệp sản xuất và
phân phối. Nhiều loại hàng hóa đã giảm giá mạnh, tạo sức lôi cuốn đến hầu hết
các hàng hóa trên thị trường.
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 10
Sau tháng 9 với chỉ số giá tăng nhẹ 0,18%, ba tháng của quý 4/2008, chỉ
số giá giảm liên tiếp: tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%; và tháng 12
giảm 0.68%. Tính cả 11 tháng của năm 2008, CPI tăng 23,25% so với 11 tháng
của năm 2007.
Sự “co rút” của thị trường hàng hóa làm tăng lượng tồn kho của doanh
nghiệp, dẫn tới sản xuất đình đốn. Những quan điểm bi quan nhất tại thời điểm
này cho rằng có đến 20% doanh nghiệp đang đặc biệt khó khăn. Một số doanh
nghiệp ngành thép đã phải giãn công lao động. Một số nhà máy phải cho công
nhân nghỉ việc tạm thời. Đã xuất hiện tình trạng một số doanh nghiệp lớn, kể cả
doanh nghiệp FDI, sa thải lao động số lượng lớn.
Đất nước đã chuyển từ ưu tiên đối phó với lạm phát cao sang đương đầu
với suy giảm tăng trưởng kinh tế mà hậu quả và việc xử lý nó cũng không kém
vực ưu tiên có mức giảm 0,6%/năm; lãi suất cho vay USD giảm 1% - 2%/năm.
Sau đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) giảm lãi
suất cho vay tiền đồng 0,5%/năm và ngoại tệ 2%/năm với đối tượng được vay
với lãi suất ưu đãi cũng được giới hạn. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank) giảm 1%/năm đối với VND và 0,5%/năm đối với USD. Ngân
hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) công bố giảm lãi suất cho vay
0,5%/năm đối với VND; giảm 2%/năm đối với USD. Cú sốc thực sự đối với
toàn bộ hệ thống ngân hàng lại đến từ một ngân hàng cổ phần Eximbank khi
đưa ra quyết định sẽ giảm lãi suất cho vay VND 1%/năm đối với tất cả các
khách hàng vay vốn tại Eximbank kể từ 19/07…
Thế nhưng, nhìn vào những con số đó mới thấy, mức hạ lãi suất của các
ngân hàng chưa cao và nếu chia ra tháng thì những con số này quá nhỏ bé và
không đáng kể! Hẳn rằng, khi quyết định cắt giảm lãi suất ở mức này đã là nằm
trong sự tính toán của các ngân hàng! “Động tác” hạ lãi suất của các ngân hàng
chỉ phần nào với mục đích hỗ trợ cho doanh nghiệp. Nhưng mục đích quan
trọng hơn chính là phương thức PR của ngân hàng nhằm giữ chân khách hàng
quen cũ và thu hút thêm một lượng khách hàng mới sử dụng dịch vụ của ngân
hàng.
Do nền kinh tế đang rơi vào tình trạng giảm phát, dẫn đến một số ngân
hàng có tiền nhưng vẫn cho vay dè dặt, trong khi có những doanh nghiệp thiếu
vốn, sản xuất đình trệ. Cũng có một số ngân hàng khác muốn bung vốn cho vay
thì lại gặp các doanh nghiệp không vay mà tìm đến những nguồn khác có chi
phí rẻ hơn. Đây là hệ quả tất yếu của nhiều tháng, nhiều năm trước, khi các
ngân hàng thương mại cho vay vượt định mức huy động mà Ngân hàng Nhà
nước quy định.
Tình trạng này xảy ra do một số nguyên nhân chính yếu sau :
Có một thực tế là ngân hàng không dám cho vay khi doanh nghiệp gặp
khó khăn. Hơn nữa, lãi suất cho vay chỉ mới giảm nhẹ, chi phí vay vẫn còn cao
khiến nhiều doanh nghiệp e ngại.
9 đến cuối năm, ngân hàng VP dành thêm 2.000 tỷ đồng để đẩy mạnh cung cấp
tín dụng cho khách hàng. Ngân hàng cổ phần Kỹ thương - Techcombank hướng
sự quan tâm vào nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ - các hộ kinh doanh cá thể, cho
phép các hộ kinh doanh vay tới 300 triệu đồng, riêng trường hợp vay tín chấp
hạn mức tối đa 30 triệu đồng. Nếu thuận lợi, khoản vay có thể được giải ngân
trong vòng 24h
Cùng với việc gia tăng tín dụng, các ngân hàng thay nhau công bố hạ lãi
suất cho vay. Từ chỗ áp lãi suất cao vượt trần 21%, thậm chí cộng thêm phí và
xét duyệt kỹ lưỡng các khoản vay, nay ngân hàng liên tục giảm, có nơi lãi suất
ưu đãi chỉ còn 17,5%.
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 13
Đến ngày 03/11/08, khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất cơ bản xuống
mốc 12%/năm, tức trần lãi suất cho vay là 16,5%/năm, một con số mà so với
thời điểm những tháng đầu năm, doanh nghiệp có nằm mơ cũng không thấy thì
Vietcombank đã tái khởi động việc mời vay vốn với mức lãi suất 14%/năm,
thấp hơn 2,5 điểm phần trăm so với mức trần. Nhiều ngân hàng lớn khác như
BIDV, Agribank cũng có những động tác đi trước thị trường tương tự.
Ngày 20/11, Ngân hàng Nhà nước chính thức cắt giảm thêm 1 điểm phần
trăm lãi suất cơ bản, từ 12%/năm xuống 11%/năm. Lãi suất tái cấp vốn, tái chiết
khấu, cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù
đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng
cũng giảm lần lượt còn 12%/năm, 10%/năm và 12%/năm. Bên cạnh đó, tỷ lệ dự
trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND cũng cắt giảm thêm 2%, còn 8%. Như
vậy, trần lãi suất cho vay của các ngân hàng chỉ còn 16,5%/năm.
Từ ngày 01/12, BIDV áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn với mức lãi suất
thấp nhất còn 11,4%. Nhiều ngân hàng khác cũng tính toán hạ lãi suất cho vay
hơn nữa.
đãi và lãi suất cho vay thông thường bằng VND. Lãi suất cho vay ưu đãi chỉ
còn ở mức rất thấp là 0.875%/tháng (tương đương 10,5%/năm), lãi suất cho vay
thông thường là 1.04%/tháng (tương đương 12,48%/năm). Đặc biệt, đối với các
doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cam kết bán lại ngoại tệ cho Vietcombank thì
lãi suất cho vay chỉ còn ở mức 0.42%/tháng (5,4%/năm). Với động thái điều
chỉnh giảm lãi suất lần này, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hướng tới mục
tiêu tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông thôn,
xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự
án đầu tư sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu quả.
Đây là lần điều chỉnh giảm thứ hai chỉ trong vòng 5 ngày đầu tháng
12/2008 của Vietcombank. Trước đó, VCB đã giảm mạnh lãi suất cho vay ưu
đãi bằng VND từ mức 12%/năm xuống còn 11%/năm, lãi suất thông thường
giảm từ mức 13.5%/năm xuống 13%/năm. Nhưng mức lãi suất ngày đã bị gỡ bỏ
chỉ trong vòng chưa đến 3 ngày, ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định
cắt giảm lãi suất cơ bản từ 11%/năm xuống 10%/năm kể từ ngày 05/12/2008.
Đến ngày từ 1/1/2009, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
Việt Nam (Agribank) thực hiện giảm lãi suất cho vay đối với tất cả các hợp
đồng cho vay theo lãi suất cố định trước đây và đang còn số dư xuống còn
1,06% (12,72%/năm). Đối với các khoản cho vay mới, lãi suất giảm xuống chỉ
còn 0,9%/tháng đối với cho vay ngắn hạn và 1%/tháng đối với cho vay trung,
dài hạn. Đối tượng áp dụng là các hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp tại
toàn bộ 2.200 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc. Thực hiện việc
giảm lãi suất này, Agribank chấp nhận giảm doanh thu khoảng 2.000 tỷ đồng.
Cùng giảm lãi suất cho vay, Agribank cho biết cũng đang triển khai một loạt
các giải pháp nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư nhằm tập trung và ưu tiên vốn
cho nông nghiệp, nông thôn và thực hiện chủ trương kích cầu của Chính phủ.
Nhìn chung, không chỉ các ngân hàng thương mại quốc doanh ra sức hạ
mức lãi suất mà các ngân hàng thương mại cổ phần cũng tranh thủ đưa mức lãi
(Techcombank), thì bức xúc: “Tín dụng của ngân hàng vẫn sụt hàng ngày và
hiện đã sụt hơn 5.000 tỉ đồng so với thời điểm tín dụng tăng cao nhất trong năm
nay”.
Tình hình của Vietcombank cũng không khá hơn. Ông Huỳnh Song Hào,
phó giám đốc Vietcombank chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định các
doanh nghiệp đang thu hẹp sản xuất và không muốn vay nhiều từ ngân hàng, do
đó tăng trưởng dư nợ của ngân hàng vẫn không có gì đột biến dù lãi suất cho
vay giảm mạnh.
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 16
Rất nhiều bản hợp đồng mời vay vốn đã được để trên bàn lãnh đạo các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, thay cho việc họ phải tới ngân hàng năn nỉ như trước
kia. Từ tháng 11 tới nay, không ít ngân hàng hầu như không thể tăng trưởng tín
dụng, dù đã nhiều lần giảm lãi suất cho vay. Ngân hàng vẫn có thêm hợp đồng
vay vốn mới, nhưng nếu tính cả những trường hợp đến hạn thanh toán, hoặc trả
trước hạn vì không kham nổi lãi suất cao, thì mức tăng trưởng gần như bằng
0%.
“Nhưng chúng tôi không vay vì thời điểm này không nhìn thấy đơn hàng mới
cho những tháng đầu năm tới trong khi các đơn hàng đang thực hiện còn “vắt
chân lên cổ” để trả lãi suất vay cao trước đó, nhằm chốt lại doanh thu và lợi
nhuận thực tế", giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ cho biết. Và đây
cũng chính là tâm trạng chung của nhiều doanh nghiệp sản xuất khác
Ông Nguyễn Thái Học, Phó chủ tịch Hiệp hội Điều, báo cáo với Bộ Công
Thương 80% đến 90% doanh nghiệp điều không bán được hàng, giá thế giới
liên tục giảm và lượng hàng tồn kho ngay thời điểm giữa tháng 11 còn trên 100
triệu đô la Mỹ, chưa kể đến 40% lượng hàng vào thị trường Mỹ và 20% lượng
hàng vào châu Âu hiện đang chững lại hoặc rơi tự do. Nhiều đơn hàng đã giao
rồi lại thanh toán chậm hoặc đề nghị lùi thời gian giao hàng nên các doanh
nghiệp không muốn sản xuất nữa.
Ngành dệt may, nơi 90% các doanh nghiệp thường xuyên dùng đến
Tổ công tác đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước vừa có báo cáo Thủ tướng
Chính phủ về việc xử lý khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
trong quan hệ tín dụng với ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Theo báo cáo của Tổ công tác, việc cho vay của ngân hàng với các doanh
nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó khăn do một số nguyên nhân chính như : doanh
nghiệp không đủ điều kiện vay vốn; trần lãi suất cho vay ngày càng hạ thấp dẫn
đến chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay của ngân hàng thương
mại ngày càng thu hẹp, vì vậy nhiều ngân hàng e ngại không muốn tăng dư nợ.
Ngoài ra, tổ công tác cũng nhận thấy cơ chế pháp lý để hỗ trợ cho ngân hàng xử
lý tài sản bảo đảm (đặc biệt là nhà, đất) chưa đồng bộ, nên cũng làm các ngân
hàng e ngại khi cho vay vì khó xử lý tài sản đảm bảo khi khách hàng không trả
nợ đúng hạn.
Theo phản ánh gần đây, nhiều doanh nghiệp khát vốn vẫn chưa tiếp cận
được nguồn vốn từ ngân hàng. Các chi nhánh của một số ngân hàng thương mại
cổ phần trên địa bàn một số thành phố lớn chủ trương “tiền dư…gửi về hội sở”,
nên không tích cực cho vay. 2.2.3 Những khó khăn đối với các ngân hàng :
2.2.3.1 Lãi suất được điều chỉnh giảm :
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 18
Trước mắt, với việc lãi suất đã được Thủ tướng chỉ đạo sẽ giảm trong sắp
tới, bài toán cho vay và huy động sẽ trở nên khó khăn hơn. Với lãi suất huy
động kém hấp dẫn hơn so với cơ hội đầu tư vào thị trường chứng khoán, sàn
giao dịch vàng, cơ hội khai thác biến động tỷ giá, ngân hàng phải đảm bảo
những giá trị gia tăng khác để giữ chân và thu hút khách. Còn với chính sách
Ông Ashok Sud, Tổng giám đốc Standard Chartered tại Việt Nam,
Trưởng nhóm Ngân hàng tại hội nghị, khuyến nghị rằng: trong điều kiện cần
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 19
lấp khoảng trống khi nhu cầu trên các thị trường xuất khẩu của Việt Nam giảm
mạnh do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần phải kích
thích tiêu dùng trong nước, trong đó cần có quy định riêng biệt cho dịch vụ cho
vay cá nhân, khác với cho vay doanh nghiệp.
“Tiêu dùng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng
GDP ở Việt Nam. Chính vì vậy dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần được khuyến
khích mở rộng và phát triển thay vì áp đặt trần lãi suất như hiện nay”, ông
Ashok Sud nói
Phân tích cho thấy, trần lãi suất này sẽ ngăn cản tất cả các khoản cho vay
có lãi suất xác định dựa trên thống kê yếu tố rủi ro đối với người vay cao hơn
mức trần này. Ngay với cho vay doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng thường có rủi
ro và chi phí cao hơn nhưng vẫn chịu chung một “trần”.
Hậu quả của quyết định trên có thể là ngân hàng ngừng hoặc hạn chế cho
vay loại này, đẩy một phần lớn khách vay ra khỏi thị trường tín dụng chính
thức/có điều tiết để gia nhập thị trường phi chính thức/chợ đen; làm giảm sự
phát triển của việc cho vay dựa trên những đánh giá khách hàng kỹ càng và
quản lý rủi ro chặt chẽ, và do vậy bộ phận có rủi ro cao hơn sẽ không được
phục vụ đúng mức.
Điều đó xảy ra không chỉ đúng với các tổ chức tín dụng nước ngoài mà
cả với các ngân hàng trong nước. Sản phẩm mới như cho vay không có bảo đảm
dưới hình thức vay trả góp hay thẻ tín dụng sẽ bị cắt giảm hay chuyển thành
khoản vay “có bảo đảm”, và do đó sẽ làm giảm khả năng thâm nhập và tác động
mong muốn là không bị ràng buộc bởi trần 150%, còn đã là dự án hiệu quả cao
thì ngân hàng nào cũng sẵn sàng cho vay với lãi suất thấp hơn trần khá nhiều.
Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng thương mại dãn nợ, gia hạn nợ để giúp
các doanh nghiệp có vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh, nhằm ổn định nền
kinh tế. Nhưng theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước
về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng thì các khoản vay khi đến hạn mà doanh nghiệp không trả
được nợ thì phải chuyển nợ quá hạn, trích dự phòng rủi ro, ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh, xếp loại, đánh giá tổ chức tín dụng. Nếu không có những
hướng dẫn để tháo gỡ khó khăn thì ngân hàng khó có thể chủ động dãn nợ, gia
hạn nợ được
2.2.3.4 Cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài :
Năm 2008-2009, các ngân hàng trong nước còn phải chính thức đối mặt
cạnh tranh với năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài theo lộ trình mở cửa của
WTO. Các ngân hàng nước ngoài với trình độ công nghệ tiên tiến, qui cách làm
việc hiện đại, qui mô vốn và tiềm lực tài chính lớn gấp nhiều lần các ngân hàng
Việt Nam, thực sự gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn đáng lo ngại
Với những áp lực mở rộng mạng lưới, nâng cao công nghệ, gia tăng giá
trị dịch vụ, đối mặt với biến động của thị trường tiền tệ, tỷ giá , năm 2008
được xem là mở đầu cho năm 2009 - được xem là một năm “sàng lọc” các ngân
hàng trong nước
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 21
2.2.3.5 Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu :
Theo tiến sĩ Phạm Đỗ Chí, chuyên gia phân tích kinh tế của Tập đoàn
VinaCapital, nếu khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo dài và dữ hội hơn, Việt
Nam cũng sẽ chịu những ảnh hưởng kinh tế và tài chính khó có thể lường trước.
Thanh khoản giữa các ngân hàng thấp dẫn đến ít hoạt động cho vay tiêu dùng.
Những chuyển hướng mới đây trong chính sách vực dậy thị trường tài chính của
Chính phủ Mỹ và Trung Quốc cũng cho thấy vai trò của việc kích thích người
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 22
Năm 2009 Quốc hội chỉ thông qua ngân sách cho đầu tư phát triển
112.000 tỉ đồng, hụt 6.000 tỉ đồng so với 2007. Vốn đầu tư phân giao cho khối
địa phương vẫn giữ nguyên. Riêng khối đầu tư chung, khối đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước sẽ bị cắt giảm. Đầu tư cho các tập đoàn như dầu khí, dệt may,
cao su sẽ bị cắt, chúng ta chỉ đảm bảo vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhà
nước làm công ích như đường sắt, cảng biển, điện cho đồng bào Tây Nguyên
Để bù khoản thiếu hụt so với năm 2007, Chính phủ đã đồng ý tăng thêm 6.000
tỉ đồng trái phiếu để đầu tư. Kích cầu sẽ có kịch bản để đảm bảo tăng trưởng
năm 2009 vẫn phải ở mức 6,5%.
Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD, các động
thái mới đây cho thấy, Chính phủ sẵn sàng tiếp tục chi tới gần 300.000 tỷ đồng
(tương đương 17 tỷ USD) trong tổng thể 420.000 để thực hiện kích cầu tổng
hợp. Trong đó, bao gồm cả các khoản vốn trái phiếu Chính phủ phát hành thêm,
vốn trái phiếu chuyển qua từ năm kế hoạch 2008, vốn từ ngân sách nhà nước,
vốn để bảo lãnh cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa Điều này một lần nữa
khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong tháo gỡ khó khăn cho sản xuất -
kinh doanh, thúc đẩy đầu tư nhằm chăn chặn suy giảm kinh tế.
an sinh xã hội
Chỉ qua các cuộc họp chính thức thấy thực tế nơi nào cũng xin, các tập
đoàn gặp Thủ tướng cũng xin, Hiệp hội Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng
xin Rồi công chức muốn tăng lương, nhà đầu tư muốn giảm thuế Vì vậy, gói
kích cầu dù là 1 tỉ hay nhiều hơn cũng không thể đáp ứng đủ tất cả yêu cầu,
mong mỏi ấy. Chúng ta phải tìm được giải pháp chính, tập trung đánh vào
những điểm trọng yếu
Chuyện xin được dự phần trong số 1 tỉ USD này của một số tập đoàn
kinh tế lớn vừa qua đã khiến nhiều người giật mình: Chẳng lẽ sức phản kháng
của những “đầu đàn” lại yếu kém đến thế? Thực tế cho thấy từ trước đến nay
đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước và các tập đoàn ngày càng tăng trong khi
hiệu quả sinh lời, sức lan tỏa rất thấp. Doanh nghiệp dân doanh tuy được đầu tư
thấp nhưng hiệu quả và sức lan tỏa cao. Gói kích cầu sau năm 1997-1998 vào
nhiều doanh nghiệp Nhà nước đã cho thấy không hiệu quả bao nhiêu mà còn
Cho vay Doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện : Vũ Thanh Tùng Trang 24
sinh thêm tiêu cực. Chính vì vậy, khu vực doanh nghiệp tư nhân đầy tiềm năng
mới chính là đối tượng mà gói kích cầu cần hướng đến.
Theo kết quả nghiên cứu, nếu kích cầu vào khu vực nông thôn sẽ kích
thích sản xuất. Ở khu vực này, một đồng chi ra sẽ kích thích sản xuất 1,622
đồng, còn khu vực thành thị một đồng chi ra chỉ kích thích sản xuất 1,400 đồng.
Chỉ cần thêm 1% tiêu dùng của họ thì đã giải quyết được một lượng hàng hóa
vô cùng to lớn. Nên đặc biệt quan tâm kích cầu ở khu vực nông thôn, bởi nếu có
tiền, được tạo điều kiện, người nông dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ quay lại
với sản xuất, qua đó có thêm thu nhập để tăng tiêu dùng Trong giai đoạn hiện
nay, kích cầu vào các doanh nghiệp khu vực nông thôn sẽ đem lại hiệu ứng rất
cao, kích thích được sản xuất . Nếu xét về vùng, trong 8 vùng lớn của cả nước,
nên tập trung cho khu vực Đông Nam Bộ và Đông Bắc Bộ - 2 khu vực đông
dân và đầy tiềm năng phát triển
2. PHÂN HẠNG ƯU TIÊN ĐỂ RÓT TIỀN :
quả vì chi phí cao, chất lượng thấp, lại phát sinh nhiều chuyện tiêu cực.
Dù đã bàn nhiều, nhưng đến nay chưa có một công bố chính thức đầy đủ
về các đối tượng thụ hưởng cụ thể cũng như cách thức thụ hưởng. Cần công
khai đối tượng, trường hợp và mức được tài trợ trên các phương tiện truyền
thông đại chúng và tất cả các trang web của Chính phủ. Một kênh quan trọng
mà Chính phủ có thể phổ biến thông tin về gói kích cầu đến doanh nghiệp là các
hiệp hội trung ương và các hội địa phương. Làm sao phải thật minh bạch rõ
ràng tránh đừng để các doanh nghiệp hạn chế về năng lực tài chính, năng lực
sản xuất kinh doanh chạy vay kích cầu
Nên xây dựng các tiêu chí cụ thể, rõ ràng để chính các doanh nghiệp tự
xét xem mình có phải là đối tượng của chương trình này hay không. Bên cạnh
đó, cần xây dựng một quy trình với các biểu mẫu thật cụ thể và đơn giản để các
doanh nghiệp có thể trực tiếp thực hiện mà không cần phải qua tư vấn hoặc
chạy vạy.
Nên tạo điều kiện để các đối tượng được thụ hưởng tự động thay vì phải
qua thủ tục xin cho, vừa giúp cho gói kích cầu có tác dụng nhanh vừa cắt cơ hội
của “cò dự án” và tham nhũng. Thí dụ trong gói kích cầu 1 tỉ đô la mà Chính
phủ dự định dành cho việc hỗ trợ lãi suất vay, nên thực hiện ngay tại nguồn, tức
là tại các ngân hàng thương mại hoặc một số ngân hàng có sự ủy thác phê duyệt
của Chính phủ. Theo đó, các ngân hàng này có trách nhiệm xem xét và có
quyền cấp vốn với mức lãi suất đã được giảm, doanh nghiệp không cần ứng tiền
trả trước, cũng không cần phải làm thêm các thủ tục khác và không phải chạy
hết ban này ngành nọ để được phê duyệt thoái lại lãi suất như trước đây.
Trường hợp miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nên thực hiện tự động,
doanh nghiệp không phải nộp vào rồi nhận thoái ra như trường hợp thuế VAT.
5. GIÁM SÁT CHẶT ĐỊA CHỈ ĐƯỢC KÍCH CẦU :