Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt chi nhánh Hà Nội - Pdf 13

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, người ta khó có thể hình dung được nền kinh tế thị trường mà lại
vắng bóng các tổ chức tài chính trung gian làm “cầu nối” giữa người có vốn và người
cần vốn. Trong số các tổ chức tài chính trung gian, hệ thống các Ngân hàng thương
mại chiếm vị trí quan trọng nhất cả về quy mô tài sản cũng như về thành phần các
nghiệp vụ. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, Ngân hàng thương mại giữ
một vị trí rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của
nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một
nền kinh tế thị trường còn non yếu. Hơn nữa, Việt Nam đã ra nhập WTO, hội nhập
với nền kinh tế thế giới, hệ thống ngân hàng với tư cách là trụ cột của nền tài chính
nước nhà đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Cạnh tranh với các ngân hàng
nước ngoài có ưu thế hơn hẳn về phương diện vốn và công nghệ đòi hỏi các ngân
hàng trong nước phải có những chiến lược mang ý nghĩa sống còn. Cũng như bất kỳ
ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn
nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của
nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Rủi ro là khó tránh khỏi nên làm thế nào
để giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinh lời cao cho các Ngân
hàng luôn là một bài toán khiến cho các nhà quản trị Ngân hàng phải trăn trở.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại thì hoạt động tín
dụng vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính và cũng là hoạt động hàm chứa nhiều
rủi ro nhất. Vì vậy, em chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Liên
doanh Lào – Việt chi nhánh Hà Nội” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
CHƯƠNG I
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm

1.1.2.1Hoạt động huy động vốn
Tiền gửi của khách hàng (bao gồm cá nhân và tổ chức) là nguồn vốn quan
trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Để huy động được nhiều tiền với chất lượng ổn định, các ngân hàng phải đưa ra được
nhiều sản phẩm dịch vụ được mọi đối tượng và đa dạng hóa các hình thức huy động
vốn như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ
quan, tiết kiệm của dân cư,…linh hoạt về lãi suất. Là đối tượng chịu dự trữ bắt buộc
của Ngân hàng Nhà nước nên chi phí tiền gửi của NHTM trả cho khách hàng cao hơn
so với thực tế. Ngoài ra tiền gửi ngắn hạn hoặc không kỳ hạn thường rất nhạy cảm
với những biến động của lãi suất và các yếu tố khác của nền kinh tế như lạm phát.
Ngoài nguồn tiền gửi của khách hàng NHTM còn huy động vốn từ nguồn đi
vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc của NHNN nhưng tỷ trọng thấp hơn nhiều so
với nguồn tiền gửi.
1.1.2.2Hoạt động sử dụng vốn
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng phải tìm cách sử dụng
những đồng vốn đó một cách hiệu quả nhất để thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn là quá
trình biến tài sản nợ thành tài sản có khác nhau, thông qua các nghiệp vụ, bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: duy trì một mức tiền mặt tại quỹ để đáp ứng nhu cầu chi
trả tiền mặt thường xuyên cho khách hàng; tiền gửi tại NHNN và tiền gửi tại
các tổ chức tín dụng khác để thực hiện nghiệp vụ thanh toán.
- Nghiệp vụ cho vay: bao gồm chiết khấu, thấu chi, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự
án.
- Nghiệp vụ đầu tư: đầu tư theo dự án ngân hàng, đầu tư vào chứng khoán.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là gì? Khó có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về tín dụng. tín
dụng là một thuật ngữ xuất phát từ chữ Lating “Credo” có nghĩa là tin tưởng, tín

và trong một số trường hợp còn thực hiện cho vay đối với ngân sách nhà nước
thông qua việc mua trái phiếu.
- Thúc đẩy và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: việc
thỏa mãn một phần hay toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp đã tạo điều
kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, đầu tư
xây dựng cơ bản,…từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp phát triển. Đồng nghĩa với quyết định cho vay phục vụ nhu
cầu vốn của doanh nghiệp là việc ngân hàng tham gia kiểm tra, giám sát hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo các khoản vay được
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
- Nâng cao tăng cường hệ thống kinh doanh: các doanh nghiệp khi sử dụng vốn
tín dụng phải có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi của khoản vay khi đến hạn.
Điều này đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp là phải quan tâm sát sao đến
hiệu quả sử dụng vốn, tránh tình trạng trì trệ. Các doanh nghiệp phải tự chủ
kinh doanh tức là phải nắm bắt được nhu cầu, tình hình của thị trường, đánh
giá, phân tích những biến động và xu hướng phát triển của thị trường để tìm ra
hướng đi cho mình.
1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng
thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng được phân chia
theo nhiều tiêu thức khác nhau.
1.2.3.1Tín dụng chia theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian
liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn
trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm, tài trợ cho các tài sản cố định
như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
5

bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào tài sản nội bảng (mục
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cho vay bắt buộc, tính vào nợ quá hạn).
1.2.3.3Tín dụng được chia theo hình thức bảo đảm
Theo hình thức bảo đảm, tín dụng được chia thành tín dụng không có bảo đảm
và có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp. Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của
ngân hàng đều có bảo đảm. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại
bảo đảm mà ngân hàng có thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng không trả nợ. Cam
kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản của mình đang
sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của nguời thứ ba để trả nợ cho ngân hàng.
Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có
uy tín, thường là khách hàng làm ‘ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững
mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của
người vay. Các khoản vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không
cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty
lớn hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám
sát việc bán hàng,…cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải ký
hợp đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tài sản
đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả năng tài chính của
người thứ ba,…) có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản tài
sản đảm bảo.
Ngoài các cách phân loại trên, tín dụng còn có thể được phân loại theo nhiều
tiêu thức khác như theo ngành kinh tế, theo mục đích, theo đối tượng tín dụng,….
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng và chuyên môn hóa trong cấp tín dụng
của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ
song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Các phân loại trên
cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để

chịu.
Có một số quan điểm cho rằng rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra với ngân
hàng. Một số quan điểm khác lại cho rằng, rủi ro chỉ là những tổn thất có thể xảy ra
ngoài dự kiến. Ví dụ ngân hàng đang chuyển hóa từ nguồn ngắn hạn sang cho vay
trung và dài hạn sẵn sàng chấp nhận chi phí nguồn vốn cao hơn khi lãi suất thay đổi
để thu lãi cao hơn. Chỉ khi nào lãi suất tăng vượt dự kiến làm lợi nhuận của ngân
hàng giảm sút thì lúc đó mới nảy sinh rủi ro lãi suất. Như vậy, rủi ro của ngân hàng
phải gắn liền với sự giảm sút thu nhập ngoài dự kiến.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM:
- Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh
chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ
vốn và lãi.
- Rủi ro hối đoái: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi
tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường, tỷ
giá thường xuyên dao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của
ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Tuy nhiên có
những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
- Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài dự
tính. Lãi suất ngân hàng (cả bên tài sản lẫn bên nguồn vốn) thường xuyên biến
động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất. Rủi ro lãi suất có liên
quan chặt chẽ với rủi ro tín dụng.
- Rủi ro thanh khoản: là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu
thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến, làm gia tăng các
chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc là cho ngân hàng mất khả năng
thanh toán.
- Rủi ro tồn đọng vốn: là rủi ro xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay và
đầu tư được làm cho thu nhập của ngân hàng bị giảm sút.

cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người cho vay sao cho độ an toàn
là cao nhất. Nhìn chung, ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín
dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có
thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hà
có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có
khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lý
toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan
điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng,
hạn chế chứ không thể loại trừ. Chính vì vậy, rủi ro dự kiến luôn luôn được xác định
trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng.
Tác động của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng:
- Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Ngân hàng có rủi ro tín
dụng lớn chứng tỏ ngân hàng hoạt động không tốt. Điều này sẽ làm mất lòng
tin của khách hàng và ngân hàng sẽ mất đi những kênh huy động vốn.
- Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: Trong
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trường hợp ngân hàng không thu hồi lại được các khoản tiền mặt trong ngân
hàng sẽ giảm sút. Mặt khác ngân hàng phải thanh toán các khoản tiết kiệm cho
khách hàng khi đến hạn, chính điều này gây khó khăn trong khâu thanh toán
cho ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng làm cho lợi nhuận của ngân hàng suy giảm: Rủi ro dẫn đến
những mất mát thiệt hại về tài chính, ngân hàng gặp khó khăn trong việc mở
rộng hoạt động, thu nhập thấp và kết quả là lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm.
- Rủi ro tín dụng có thể làm cho ngân hàng bị phá sản: Nếu ngân hàng không
thu hồi được các khoản nợ, không có tiền trong ngân hàng trong khi đó khách
hàng lại đổ xô đi rút tiền ngân hàng, làm cho ngân hàng mất khả năng thanh
khoản, dẫn tới phá sản.
Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng:

thành các khoản nợ có vấn đề.
d. Đảm bảo tiền vay
Nhiều trường hợp ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo khi uy tín của
người vay không cao hoặc hoạt động nhiều rủi ro. Như vậy, tài sản đảm bảo càng cao
trên tổng dư nợ cho thấy ngân hàng đang cấp tín dụng cho những khách hàng có rủi
ro cao. Tuy nhiên, tài sản đảm bảo sẽ góp phần làm giảm tổn thất cho ngân hàng khi
khách hàng không trả được nợ. Vì vậy, khi xem xét yếu tố tài sản đảm bảo phải chú ý
tới từng trường hợp cụ thể.
e. Một số ngân hàng sử dụng phương pháp chấm điểm tín dụng (xếp hạng tín
nhiệm) để phản ánh rủi ro tín dụng
Đây là phương pháp đo lường rủi ro tín dụng hiện đại, đòi hỏi ngân hàng phải có
phần mềm quản lý tập trung. Khách hàng vay vốn sẽ được chấm điểm dựa trên các
yếu tố tài chính và phi tài chính (tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh,
hiệu quả dự án, mối quan hệ với ngân hàng và tính sòng phẳng,…) Sau đó, khách
hàng sẽ được xếp hạng. Hạng càng cao (hạng A) rủi ro càng thấp và ngược lại.
f. Tính đa dạng hóa trong tài sản của ngân hàng
Bên cạnh nợ quá hạn, nhà quản lý ngân hàng còn sử dụng các hình thức đo rủi ro tín
dụng khác gắn liền với chiến lược đa dạng hóa tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập
quỹ dự phòng rủi ro, đặt giá đối với các khoản cho vay,…
1.3.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
• Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới :
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu),
dầu thô, may gia công,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên

13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt động tín
dụng ngân hàng. Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt
động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập
như một số văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ. Những Văn bản này đều có quy định :
Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ
vay để thu hồi nợ. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là
một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng
cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân hàng để xử lý hoặc việc
chuyển TSĐB nợ vay để Toà án xử lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy
định khác dẫn đến tình trạng NHTM không giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn
đọng.

Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng
và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực
cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ
kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và
phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa được
phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại
chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động thị trường
tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ
động theo cách xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa
rủi ro và vi phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do
vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có
biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.
Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến
những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe doạ sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã

theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là
nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra
nó phải thành công trên thực tế.

Tình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các khách
hàng vay vốn Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các
sổ sách kế toán vẫn chưa được các khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do
vậy, sổ sách kế toán mà các khách hàng cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính
chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính
của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu tính thực tế
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản
thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
1.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan :

Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian ví nó
nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm
tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh
doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng
hầu như chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống
“thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng
phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn
luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.

Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ

Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách
hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của
một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao
đổi thông tin dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức
vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân
hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,
vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để
các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ
liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý
kịp thời.
1.3.4 Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro tín dụng
1.3.4.1Đối với ngân hàng
Các nhà kinh tế thường gọi ngân hàng là “Ngành kinh doanh rủi ro” và thực tế
đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong
king doanh lĩnh vực tiền tệ. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do
nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu những rủi ro khách hàng gây ra.
Vì vậy “ rủi ro tín dụng của ngân hàng không những là cấp số cộng mà có thể là cấp
số nhân rủi ro của nền kinh tế”.
Khi những rủi ro xảy ra, trước tiên lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng sẽ bị
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ảnh hưởng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản
dự phòng rủi ro và bằng vốn tự có. Tuy nhiên nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nghiêm trọng hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ
lớn, nguồn vốn của ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin của
khách hàng tất nhiên sẽ giảm sút, có thể dẫn tới phá sản ngân hàng. Vì vậy, việc
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết đối với ngân hàng
thương mại.

Ngày 26/03/2000, Ngân hàng Liên doanh Lào-Việt, Chi nhánh tại Hà Nội đã được
thành lập.
Ngày 27/03/2000, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Nguyễn Mạnh Cầm và Phó thủ tướng Chính phủ nước CHDCND Lào, Somsavath
Lengsavat đã cùng mở bảng khai trương Chi nhánh tại Hà Nội. Kể từ đó, ngày 27
tháng 03 trở thành mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của hệ thống
LVB, đồng thời là một điểm nhấn trong chiều dài lịch sử hợp tác toàn diện, đặc biệt
hai nướcViệt - Lào; là sự tiếp nối sự nghiệp vẻ vang do Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Chủ tịch Kaysone Phomvyhane khởi xướng và được các thế hệ người Việt Nam và
Lào dày công vun đắp.
Số vốn được cấp: 3.750.000 USD (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn Đô la
Mỹ chẵn) do Ngân hàng Liên doanh Lào - Việt cấp. Năm 2000 được cấp vốn
2.500.000USD. Năm 2005, được phép tăng vốn điều lệ lên 3.750.000USD.
Là chi nhánh đầu tiên của hệ thống LVB, Chi nhánh Hà Nội đã chính thức tạo
thành một cầu nối thanh toán giữa hai nước, đáp ứng lòng mong mỏi của cộng đồng
doanh nghiệp kinh doanh Việt – Lào, các cá nhân học tập, công tác tại hai nước.
2.1.2 Mô hình tổ chức
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
19
BAN GIÁM ĐỐC
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của LVB Chi nhánh Hà Nội
2.2.1 Hoạt động huy động vốn
Thông qua việc áp dụng mức lãi suất cạnh tranh, biểu phí hợp lý, cải tiến chất
lượng phục vụ, mở rộng các hình thức huy động, giao chỉ tiêu huy động tới từng cán
bộ, nhân viên, tăng cường công tác marketing, quảng cáo trên các phương tiện báo,
đài phát thanh..., Chi nhánh đã tự huy động được một lượng vốn phục vụ hoạt động
kinh doanh, đáp ứng một phần nhu cầu vay vốn cho khách hàng.
Tuy nhiên, hoạt động theo mô hình Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam,
hoạt động huy động vốn, đặc biệt là huy động tiền gửi dân cư của Chi nhánh gặp rất nhiều

kiểm soát
nội bộ
Văn
phòng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
gửi thanh toán và tiền gửi có kì hạn của TCTD và cá nhân đạt 3,9 triệu USD (tăng
37% so với đầu năm), tiền gửi tiết kiệm dân cư đạt gần 12.6 triệu USD, bằng 3,9 lần
so với đầu năm chiếm 23,4% nguồn vốn huy động tại chỗ.
Đến 31/12/2008, tổng số dư tiền gửi của các TCTD tại Chi nhánh là 73,2 triệu
USD quy đổi, gấp 2,9 lần so với năm 2007. Trong đó, tiền gửi của BIDV là 43,5 triệu
USD quy đổi, của LVBH.O là 16,7 triệu USD quy đổi, tiền gửi đối ứng cho vay uỷ
thác là trên 8 triệu USD quy đổi. Tỷ lệ tiền gửi liên ngân hàng sử dụng tài trợ cho
hoạt động tín dụng giảm thấp, chỉ còn 22%/tổng dư nợ thương mại.
Đến năm 2009, tổng nguồn vốn của Chi nhánh huy động đạt 970,682 triệu
VND, tăng 36% so với năm 2008, TGTT của TCTD khác đạt 129,004 triệu VND
chiếm 12,04% tổng ngồn vốn huy động và tăng 107% so với năm 2008, TG có kì hạn
của TCTD 168,815 triệu VND chiếm 14% của tổng nguồ vốn huy động và tăng
70,8% so với năm 2008,TGTT của tổ chức kinh tế cá nhân đạt 4078,038 triệu VND
chiềm 9,05% tổng nguồn vốn huy động tăng 56,038 so với năm 2008, TGTK của dân
cư dạt 159,764 triệu VND chiếm 30,41% tổng nguồn vốn huy động giảm 2,47% so
với năm 2008, và tiền gủi của BIDV là 393,036 triệu VND chiếm 34,47% tổng nguồn
vốn huy động và tăng 25,2% so với năm 2008.
2.2.2 Hoạt động tín dụng, bảo lãnh
Bảng 2.1: Hoạt động bảo lãnh tại LVB chi nhánh Hà Nội.
Đơn vị: Triệu USD
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
So với năm

8,7 triệu USD.
- Năm 2008, tổng dư nợ đạt được 41,5 triệu USD quy đổi, tăng 13,3% so với
đầu năm. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 29,7 triệu USD quy đổi (tăng
20% so cuối năm 2007, và chiếm 71,6% tổng dư nợ và dư nợ cho vay trung và
dài hạn 11,8 triệu USD bằng mức cuối năm 2007, doanh số thu nợ đạt gần
39,6 triệu USD tăng 17,5% so với cả năm 2007. Số dư bảo lãnh thời điểm
31/12/2008 đạt 8,3 triệu USD quy đổi, gấp 6,6 lần năm 2007. Doanh số bảo
lãnh đạt gần 12 triệu USD quy đổi, bao gồm 135,9 tỷ VND và 4,24 triệu USD,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
So với năm
2007
Số tiền Tỷ lệ (%)
So với năm
2008
Số tiền
(+) (-)
Tỷ lệ %
Số tiền
(+) (-)
Tỷ lệ %
Tổng
dư nợ
36,6 100 41,5 100 4,9 13.3 51,4 100 9,9 24
Ngắn hạn 24,8 67,7 29,7 71,6 4,9 20 36,9 71,7 7,2 24
Trung -
dài hạn
11,8 32,3 11,8 28,4 0 0 14,5 28,3 2,7 23

USD, bao gồm: 4,6 tỷ VND, 6,3 triệu USD và 4 tỷ LAK.
Năm 2008, tổng doanh số thanh toán quốc tế qua đạt gần 17,8 triệu USD, bằng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
93,2% so với năm 2007, trong đó doanh số thanh toán Việt – Lào chiếm 70% trên
tổng doanh số thanh toán quốc tế, tức là đạt được hơn 12,5 triệu USD.Thu từ dịch vụ
thanh toán quốc tế của chi nhánh đạt 607 triệu đồng, tăng 16% so với cả năm 2007,
chiếm 12% tổng thu dịch vụ tại chi nhánh.
Bên cạnh công tác thanh toán hai chiều Việt – Lào là nhiệm vụ xuyên suốt,
Chi nhánh luôn tích cực đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế với các nước khác
trong khu vực và trên thế giới, bằng nhiều phương thức thanh toán quốc tế như: L/C,
nhờ thu, chuyển tiền điện...
Trong năm 2009 doanh số thanh toán quốc tế hai chiều đạt mức tăng trưởng
mạnh, đạt 34 triệu USD quy đổi, bằng 191% so với cả năm 2008, trong đó: 52,4 tỷ
VND, 16,6 tỷ LAK, 28,7 triệu USD, 54 ngàn EUR và 350 ngàn JPY. Thu từ dịch vụ
thanh toán quốc tế của Chi nhánh đạt 796 triệu đồng, tăng 31% so với cả năm 2008,
chiếm 12%/ tổng thu dịch vụ tại Chi nhánh.
Thanh toán trong nước: Với hệ thống thanh toán CI-TAD với Ngân hàng
Nhà nước và Homebanking với SGD BIDV hoạt động thanh toán qua Chi nhánh luôn
nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán của khách hàng cũng như yêu
cầu của giao dịch vốn liên ngân hàng giữa Chi nhánh và các TCTD khác, nâng cao uy
tín của Chi nhánh trên thị trường tiền tệ. Tổng doanh số thanh toán trong nước cả
năm 2009 đạt 145,3 triệu USD quy đổi, tăng 8,1% so với cả năm 2008, trong đó:
thanh toán VND đạt 2.237 tỷ đồng, bằng 101% so với năm 2007; thanh toán ngoại tệ
đạt 20,6 triệu USD, gấp 3 lần cả năm 2008. Thu từ dịch vụ thanh toán trong nước của
Chi nhánh đạt 288 triệu đồng, tăng 20% so với cả năm 2008, chiếm 4,4%/ tổng thu
dịch vụ tại Chi nhánh.
 Về hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Do ảnh hưởng của tình hình chính trị trên thế giới, thị trường tiền tệ của Việt

làm giảm lãi kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh khoảng 480 triệu đồng. Đến
31/12/2009 doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh đạt 58,2 triệu USD quy
đổi, chỉ bằng 72% so với doanh số cả năm 2008, trong đó: 121,3 tỷ LAK, 35,2
triệu USD, 10,2 triệu EUR và 700 ngàn JPY. Lãi ròng từ hoạt động kinh
doanh ngoại tệ cả năm 2009 đạt 2,6 tỷ đồng (tương đương 145 ngàn USD quy
đổi), bằng 73% so với cả năm 2008 và chiếm 29%/ tổng thu dịch vụ và kinh
doanh ngoại tệ ròng.
 Về tổng doanh thu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
25

Trích đoạn Kết quả đạt được trong công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân Các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản năm Định hướng và các giải pháp giai đoạn 2010 Khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status