Tiểu luận: Giải thích nguyên nhân biến động giá USD trong thời gian qua trên thế giới và tại Việt Nam? dự báo về tỷ giá hối đoái với USD trên thế giới và ở Việ t Nam trong ngắn hạn và dài hạn - Pdf 13

Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

1

Tiểu luận Giải thích nguyên nhân biến động giá USD trong thời gian qua trên thế giới
và tại Việt Nam? dự báo về tỷ giá hối đoái với USD trên thế giới và ở Việt
Nam trong ngắn hạn và dài hạn? Ảnh hưởng của biến động tỷ giá ngoại tệ
đến các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

2Lời nói đầu Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan
trọng của mỗi quốc gia. Diễn biến của TGHĐ giữa USD với các đồng tiền mạnh như

I. Biến động giá USD trên thế giới và tại Việt Nam trong thời gian gần đây
1.1 Biến động giá USD trên thế giới trong thời gian gần đây
Sau thế chiến năm 1945, Mỹ đứng đầu thế giới về tỷ lệ dự trữ vàng (3/4 trữ lượng
vàng của thế giới được dự trữ tại các nhà băng Mỹ). Trong giai đoạn từ năm 1945 đến
năm 1971, hầu hết các nước đều bán vàng mua đồng đôla Mỹ để tăng dự trữ ngoại tệ,
cũng là điều chỉnh cân bằng t hương mại giữa các nước. Thời kỳ này, đồng USD mặc
nhiên được coi như một đồng tiền chung trong giao dịch thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, từ năm 2007 đã xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính trong nhiều lĩnh vực ở
Mỹ. Trước tình hình đó, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tiến hành các biện pháp
nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực hiện
nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ
Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở. Tháng 8/ 2007,
Fed đã điều chỉnh lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng giảm từ 5,25% qua 6 đợt
xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này
sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0
hiếm thấy.
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh t ế Mỹ rơi vào suy thoái từ
tháng 12/2007, và đây cũng là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở Mỹ kể từ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai. Cuộc khủng hoảng đã làm cho đồng U SD lên giá trong giai đoạn
đó do đồng USD là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các
nhà đầu tư toàn cầu đã mua U SD để nâng cao khả năng thanh khoản của mình.
Các chuyên gia kinh t ế nhận định nền kinh t ế Mỹ vẫn chưa thế thoát khỏi cơn bão
khủng hoảng trong năm 2012 cho dù đã có nhiều tín hiệu tích cực từ cuối năm 2011.
Chính những bất ổn của nền kinh tế Mỹ đã làm cho đồng USD nhìn chung là giảm giá
so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới. Dưới đây là những so sánh đồng USD với
một số ngoại t ệ mạnh trên thế giới: EUR, JPY, GBP.
 Tỷ giá EUR/USD
Từ biểu đồ cho thấy, từ giữa năm 2008 đến tháng 8/2012, đồng tiền EUR luôn biến
động lên xuống nhưng có xu hướng mất giá dần so với đồng đô la Mỹ - một đồng tiền
vốn cũng đã mất giá so với các đồng tiền khác.


5năm lần đầu tiên trong lịch sử nhằm ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính xảy
ra, đồng thời nới lỏng các quy định về tài sản thế chấp tạo điều kiện cho các
ngân hàng trong việc huy động vốn. Tuy nhiên, các biện pháp đó chỉ làm đồng
EUR giảm giá so với đồng USD.
 Trong khi phần lớn các nước châu Âu đang gặp suy thoái thì kinh tế Mỹ lại
đang có dấu hiệu hồi phục nhanh chóng phản ánh qua những con số trên thị
trường lao động M ỹ. Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, trái với những dự báo
của các nhà phân tích, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong tháng 01/2012 giảm xuống
mức thấp nhất từ 3 năm qua, tức là 8,3%, trong khi ở khu vực eurozone thì
ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức cao nhất kể từ khi đồng t iền duy nhất
ra đời, tức là 10,4%. Bên cạnh đó, chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ, yếu tố đóng
góp hơn 70% vào các hoạt động của nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong tháng
7/2012 t ăng mạnh nhất trong vòng 5 tháng đầu năm 2012. Đồng U SD cũng
được hỗ trợ tăng giá khi các tài sản từ Mỹ như cổ phiếu dài hạn, tín phiếu và
trái phiếu duy trì sức hấp dẫn khi nền kinh tế Mỹ ngày càng được củng cố
trong bối cảnh tình hình nợ công tại châu Âu vẫn đang căng thẳng và nhiều nền
kinh tế lớn vẫn trong tình trạng khó khăn.
 Tỷ giá JPY/USD
Đồng JPY bắt đầu xu hướng tăng giá kể từ sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers
(Mỹ) hồi năm 2008, kể từ đó tới nay, giá trị thực của đồng Yên đã tăng lên 34,6%.
Tiếp theo đó, vòng quay tăng giá của đồng JPY tiếp tục được thúc đẩy khi nhiều quỹ
chọn đồng JPY làm nơi trú ẩn trước cuộc khủng hoảng nợ tại Châu Âu và Mỹ. Nhật
Bản, mặc dù sở hữu tỷ lệ nợ khá lớn nhưng vẫn được xem là nơi ẩn náu an toàn do
những chính sách thận trọng của Ngân hàng trung ương nước này.
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Eurozone và nỗi lo khả năng M ỹ bị hạ bậc tín nhiệm đã khiến đồng JPY trở
thành một trong những kênh đầu tư được ưa thích.
 Khả năng hồi phục nhanh chóng sau thảm hoạ thiên tai của nền kinh tế Nhật
Bản đã tiếp thêm niềm tin cho các nhà đầu tư. Nhật Bản đạt mức thặng dư tài
khoản vãng lai 1,18 nghìn tỷ JPY trong tháng 2/2012, giúp củng cố sự hấp dẫn
của đồng nội t ệ đối với giới đầu tư. Sản lượng công nghiệp tăng 1,9% trong
tháng 1/2012. N goài ra, nhu cầu ô tô của Nhật Bản được dự báo sẽ tăng khoảng
2% trong thời gian tới.
 Tỷ giá GBP/USD
Nhìn chung thì so với trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, đồng GBP đã
sụt giá nghiêm trọng so với đồng USD. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong quí 2-
2012 của Anh đã giảm 0,7% so với quý 1-2012, mức giảm mạnh nhất kể từ đỉnh cao
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đầu năm 2009 và giảm mạnh hơn so với dự báo
của hầu hết các nhà kinh tế. Sản lượng trong khu vực dịch vụ - chiếm hơn 3/4 GDP
của Anh - giảm 0,1% sau khi đã giảm 0,2% trong quý trước đó; trong khi dù chỉ chiếm
chưa đến 8% GDP cả nước, sản lượng công nghiệp giảm tới 5,2% trong quý 2-2012 và
đây là mức giảm mạnh nhất kể từ quý 1-2009.
Ngân hàng Anh (BoE) ngày 5-7-2012 tuyên bố sẽ bơm thêm 50 tỉ bảng vào nền kinh tế
trong 4 tháng t ới thông qua chương tình nới lỏng định lượng (QE). Chương trình Q E
có mục đích thúc đẩy nền kinh tế bằng cách mua trái phiếu. Lần bơm thêm này sẽ nâng
tổng gói hỗ trợ kinh tế lên tới 375 tỉ bảng Anh. Tháng 6/2012, BoE đã đưa ra hai biện
pháp hỗ trợ mới. Gói hỗ trợ đầu tiên giúp các ngân hàng tiếp cận với hàng tỉ bảng tín
dụng giá rẻ cho vay kinh doanh. Gói thứ hai giúp các ngân hàng tiếp cận với tiền mặt
trong lúc đang gặp khó khăn với hoạt động huy động vốn ngắn hạn. Vì vậy đồng bảng
Anh đã sụt giảm mạnh so với đồng U SD.
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

tăng biên độ tỷ giá từ 0,75% lên 1% vào ngày 10/03.
Từ 26/03 – 16/07: Tỷ giá USD/VND bán ra t ại các NHTM tăng dần đều và đột ngột
tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400 vào 18/06. Tỷ giá tự do cao hơn
khoảng 100 – 150 điểm. Tỷ giá BQLNH dao động từ 15.960 lên16.496.
Nguyên nhân: Cung U SD giảm, cầu USD tăng do:
- Cung U SD tăng nhanh đầu năm dẫn đến trạng thái găm ngoại tệ của giới đầu cơ;
- Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của DN XNK đến hạn cao;
- Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch giá vàng trong nước và ngoài nước;
- Thâm hụt cán cân thương mại: -7,22 tỷ USD;
- Nhà đầu tư nước ngoài bán trái phiếu vì lo ngại về tình hình thanh khoản thấp, đẩy
nhu cầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD);
- NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu (theo quy
định số 09/2008/QĐ), giảm nguồn cung USD của các DN XK bán lại cho NH;
- NHNN nới biên độ từ 1% lên 2% vào 27/6.
Từ 17/07 – 15/10: Tỷ giá U SD/VND trên thị trường chính thức giảm khá mạnh từ
19.400 về 16.400, sau đó ổn định quanh mức 16.500/600. Tỷ giá BQLNH tăng từ
16.494 lên 16.521.
Nguyên nhân: Cầu USD giảm, cung USD tăng do:
- Thâm hụt thương mại giảm so với các tháng đầu năm: 1,25 tỷ USD;
- NHNN công bố dự trữ ngoại hối quốc gia là 20,7 tỷ USD, giảm cơn sốt USD và
thông tin trên thị trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm;
- NHNN ban hành các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt
các đại lý thu đổi ngoại tệ, cấm mua bán USD thông qua các ngoại tệ khác để lách biên
độ, cấm nhập khẩu và cho phép xuất khẩu vàng, bán ngoại tệ can thiệp thị trường
thông qua NHTM .
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

10

11- NHNN nới lỏng biên độ tỷ giá lên 5% vào ngày 23/03;
- Tâm lý bất ổn của người dân và doanh nghiệp khi tỷ giá tăng nhanh, dự đoán tỷ giá
còn tăng nữa, do đó: người dân găm giữ ngoại tệ chờ lên giá, doanh nghiệp vay USD
tuy chưa đến kỳ trả nợ nhưng đã mua sẵn U SD để giữ, làm cho cầu ngoại tệ tăng;
- Chính sách hỗ trợ lãi suất cho các DN bằng tiền đồng, lãi suất vay thấp, phạm vi và
thời gian vay được mở rộng, nên một số DN có ngoại tệ không muốn bán mà chỉ muốn
vay VND;
- Thâm hụt cán cân thương mại những tháng cuối năm 2008 lớn.
Từ 25/11 - 31/12: Tỷ giá bắt đầu giảm quanh mức 18.500 VND/USD.
Nguyên nhân: NHNN thực hiện các biện pháp bình ổn tỷ giá: thu hẹp biên độ tỷ giá
xuống 3% vào 26/11; nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%.
* Năm 2010:

Nguồn: vcb.com.vn
Đầu năm: Tỷ giá U SD/VND giảm nhẹ và dao động quanh mức 18.479 VND/USD.
Nguyên nhân: Cung USD tăng từ các nguồn: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp tăng, vốn hỗ
trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết, ký kết đạt mức kỷ lục, vốn đầu tư gián
tiếp tăng khi các nhà đầu tư nước ngoài liên tục mua ròng trên thị trường chứng khoán,
nguồn kiều hối từ Việt Kiều và người lao động nước ngoài gia tăng, nguồn thu từ
khách quốc tế gia tăng trở lại, thặng dư t hương mại. Bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng
công ty nhà nước bán ngoại tệ cho Ngân hàng, người dân bán ngoại tệ do tâm lý sợ tỷ
giá sẽ tiếp tục giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá niêm yết trên thị
trường chính thức đã giảm đáng kể.
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A


ngoài và đóng cửa các sàn vàng trong nước.
Từ tháng 07-11: NHNN tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932 VND/USD vào ngày 17/08,
các NHTM cũng tăng tỷ giá lên kịch trần. Nguyên nhân là do NHNN nhìn thấy trước
được áp lực tăng cầu USD từ:
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

13- Giá vàng quốc tế tăng cao kỷ lục dẫn đến giá vàng trong nước cũng t ăng cao, đôi khi
còn cao hơn giá vàng quốc tế, sẽ xảy ra tình trạng tăng cầu U SD để nhập lậu vàng;
- Lạm phát bắt đầu tăng nhanh từ tháng 9 khiến CPI của năm 2010 tăng 11,75% so với
7% năm 2009;
- Nhu cầu mua USD để trả các khoản vay đến hạn của các DN tận dụng chênh lệch lãi
suất, nhu cầu nhập khẩu thường tăng cao; NHNN thắt chặt tín dụng ngoại tệ; lãi suất
tiền gửi ngoại tệ tăng cao lên 5%. Bên cạnh đó, cung USD giảm sút do các DN không
muốn bán U SD cho NH khi lo lắng NHNN sẽ tiếp tục phá giá VND.
Kết quả của sự dư cầu USD là tỷ giá trên thị trường tự do bắt đầu tăng cao từ tháng 9
lên 20.500 VND/U SD vào giữa tháng 10 và đạt đỉnh 21.500 VND/USD vào cuối tháng
11.
Cuối năm 2010: NHNN đã phải thực hiện một loạt các biện pháp để bình ổn tỷ giá:
tuyên bố tăng cung ngoại tệ cho việc nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất,
thắt chặt việc trao đổi và nhận gửi bằng vàng tại các NH, tăng hạn ngạch nhập khẩu
vàng, tăng lãi suất cơ bản lên 9% vào cuối tháng 11. Tỷ giá tại thị trường tự do có
giảm nhẹ xuống.
* Năm 2011:

Tỷ giá U SD/VND biến động tăng những tháng đầu năm, sau đó ổn định ở những tháng

một thời gian được duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được điều chỉnh giảm dần ở
mức 20860 – 20.920 vào thời điểm cuối tháng 6. Nguyên nhân:
- Xuất siêu trở lại nhờ lợi thế về giá của một số mặt hàng xuất khẩu, cán cân vãng lai
thặng dư sau khi đã thâm hụt trong năm 2010 và 2011, góp phần tạo nên thặng dư của
cán cân tổng thể nửa đầu năm 2012.
- Tỷ giá mua vào của sở giao dịch NHNN bắt đầu từ ngày 13/02/2012 được điều chỉnh
cao hơn tỷ giá mua vào của NHTM. Dự trữ ngoại hối quốc gia trong quý I tăng 30% so
với cuối năm 2011.
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

15II. Dự báo về tỷ giá hối đoái đối với USD trên thế giới và ở Việt Nam trong
ngắn hạn và dài hạn
2.1 Dự báo về tỷ giá hối đoái đối với USD trên thế giới trong ngắn hạn
và dài hạn
Những thông tin kinh tế vĩ mô trong báo cáo mà Ngân hàng Dự trữ liên bang (FED)
công bố trong thời gian gần đây cho thấy nền kinh t ế lớn nhất thế giới này đang tiếp
tục duy trì đà phục hồi liên tiếp trong 3 tháng đầu năm 2012.
M ột số biểu hiện cụ thể là: chỉ số ISM phi sản xuất tăng lên 57,3 so với mức trước
56,1. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn giữ ở mức 8,3%, chỉ số cân đối đầu tư dài hạn tăng lên
101B so với mức trước 38,9B, niềm tin người tiêu dùng Mỹ được cải thiện đã tăng lên
1,3%. GDP trong quý 1-2012 đạt 3% và doanh thu thuế của M ỹ cuối cùng đã trở lại
với mức cao đạt được trước khủng hoảng.
Chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ, yếu tố đóng góp hơn 70% vào các hoạt động của nền
kinh tế lớn nhất thế giới, trong tháng 7 tăng mạnh nhất trong vòng 5 tháng đầu năm
2012. Giá nhà đất trong quý 2-2012 cũng tăng khá ấn tượng. Đó là những dấu hiệu

thế quốc tế của đồng USD.
Đồng GBP và đồng Franc Thụy Sỹ từng một thời là các đồng tiền dự trữ quan trọng
nhưng hai nền kinh tế này quá nhỏ bé để đồng tiền của họ có thể vươn tới vai trò là các
đồng tiền dự trữ hỗ trợ.
Nền kinh tế Nhật Bản lớn hơn nhưng chính phủ Nhật từ lâu đã không khuyến khích
việc sử dụng đồng JPY trên quy mô quốc tế vì lo ngại ảnh hưởng đến tỷ giá. Hơn nữa,
nền kinh tế suy giảm, dân số già đồng nghĩa với việc nền kinh tế và đồng tiền của Nhật
Bản không thể có vai trò lớn hơn trong tương lai của nền kinh tế toàn cầu.
Đồng EUR có tiềm năng cạnh tranh với đồng USD do khu vực đồng tiền chung châu
Âu gồm 17 thành viên EU có được quy mô cần thiết, nhưng lại không ổn định bởi
những lo ngại về khả năng tồn tại lâu dài của Liên minh tiền tệ châu Âu. Hơn nữa,
đồng EUR tuy được sử dụng nhiều trong dự trữ nhưng lại ít được sử dụng trong thanh
toán quốc tế bên ngoài châu Âu.
Những lý do trên cho thấy mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế lần này ảnh
hưởng t ới địa vị quốc tế của đồng USD, nhưng U SD sẽ vẫn là hạt nhân của hệ thống
tiền tệ quốc tế trong một thời gian dài nữa
Dự kiến, tỷ trọng đồng USD trong dự trữ toàn cầu tuy sẽ giảm trong thời gian t ới,
nhưng vẫn ở mức 55-60% trong 10 năm tới.
Xu hướng đồng USD so với một số loại tiền t ệ khác trên thế giới:
 Đồng EUR:
Hiện nay, tình hình cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đang ngày càng tồi tệ. Hy
Lạp và Ireland đã chính thức tuyên bố vỡ nợ. Một loạt các quốc gia khác như Italia,
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…cũng đang có nguy cơ tương tự đe dọa sự sụp đổ của khu
vực đồng tiền chung châu Âu nói riêng và nhiều nước khác trên thế giới nói chung.
Trước tình hình ấy, thì các nước châu Âu đã phải nhóm họp và cùng chung tay góp sức
giải cứu khu vực Eurozone khỏi sự sụp đổ. Vấn đề này chắc chắn không thể được giải
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A


(1) Lãi suất VND bị cắt giảm một loạt từ tháng 4, hiện tại lãi suất trần VND ngắn hạn
là 9%, U SD là 2%, chênh lệch lãi suất USD – VND rút ngắn đáng kể.
(2) NHNN định hướng giữ ổn định tỷ giá USD/VND trong khoảng 2-3% trong năm
nay (nhận định trong buổi đối thoại với các doanh nghiệp trong tháng 7). Điều này sẽ
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

18khiến các giới đầu cơ tạm thời không có những động thái tạo áp lực cho biến động của
tỷ giá USD/VND.
(3) Sự can thiệp của NHNN và chính phủ:
- Thông tư số 03/2012/TT-NHNN của NHNN ngày 08/03/2012 về siết chặt cho vay
ngoại tệ, theo đó các TCTD chỉ cho vay ngoại tệ đối với những khách hàng có nguồn
thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh (có thể hiểu chỉ những khách hàng nhập
khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu mới được vay ngoại tệ), hoặc những khách
hàng không có nguồn thu từ ngoại tệ thì các TCTD chỉ được vay ngoại t ệ nếu có văn
bản chấp thuận của NHNN để cho vay ngắn hạn thanh toán ra nước ngoài tiền nhập
khẩu xăng dầu, hoặc từng trường hợp cụ thể đối với các trường hợp cho vay khác. Như
vậy số doanh nghiệp được vay ngoại tệ đã bị thu hẹp. Các doanh nghiệp có nhu cầu
nhập khẩu phải chuyển sang vay VND sau đó mua USD để thanh toán. Hiện nay, lãi
suất vay VND tại các Ngân hàng đã giảm theo sự chỉ đạo của NHNN, nhưng vẫn duy
trì ở mức khoảng 17 – 18%, thậm chí có ngân hàng vẫn cho vay với lãi suất trên 20%
(thu chênh lệch ngoài). Chi phí doanh nghiệp tăng, các doanh nghiệp cần tính đến việc
giảm dần nhập khẩu.
- Thông tư 07/2012/NHNN của NHNN ngày 20/03/2012 quy định về trạng thái ngoại
tệ của các TCTD, theo đó trạng thái ngoại tệ âm cuối ngày của các TCTD, chi nhánh
NHNN không được vượt quá 20% vốn tự có (trước đây là 30%).

III. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá ngoại tệ đến các doanh nghiệp tham
gia hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam sẽ chịu khả năng lãi hoặc lỗ do
biến động của tỷ giá ngoại tệ. Các khả năng có thể xảy ra là rủi ro giao dịch và rủi ro
kinh tế.
Khả năng rủi ro giao dịch có nghĩa là các khoản lỗ và lãi gắn liền với việc hoàn
tất giao dịch bằng đồng ngoại tệ. M ức độ rủi ro giao dịch phụ thuộc vào sự thay đổi
tiềm tàng trong giá trị của khoản tiền chưa thanh toán do sự t hay đổi về tỷ giá hối đoái
giữa thời điểm bắt đầu ký kết hợp đồng và thời điểm giải quyết, thực hiện hợp đồng.
Khả năng rủi ro kinh tế đo lường tác động của những thay đổi không mong đợi
trong tỷ giá hối đoái lên giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai của một công ty. Khả
năng này còn được gọi là khả năng rủi ro hoạt động, hay rủi ro chiến lược hay rủi ro
cạnh tranh. Rủi ro kinh tế đối với nhà xuất khẩu khi tham gia hoạt động thương mại
quốc tế thể hiện ở ba khía cạnh là rủi ro đối với cầu hàng xuất khẩu, rủi ro đối với
cung hàng xuất khẩu và rủi ro đối với khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thị
trường thế giới; rủi ro kinh tế đối với nhà nhập khẩu thể hiện ở việc rủi ro đối với cung
cầu hàng nhập khẩu trong nước.
3.1 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu
* Rủi ro giao dịch:
Các công ty xuất khẩu có thể có lãi từ việc USD lên giá và lỗ từ việc USD xuống giá.
Ví dụ, một công ty xuất khẩu gạo trị giá 100,000 USD, được thanh toán sau 3 tháng kể
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

20từ ngày ký kết, tỷ giá lúc ký kết là 20.840 VND/USD. Các khả năng có thể xảy ra tại
thời điểm công ty được nhận tiền hàng là:

Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

21việc tăng chi phí có thể xảy ra trễ hơn; thứ hai, trong ngắn hạn khi tỷ giá tăng, các
doanh nghiệp xuất khẩu thu được lợi nhuận đáng kể. Theo đó, sẽ có cơ hội chuyển
dịch cơ cấu thị trường từ sản xuất phục vụ thị trường nội địa chuyển sang sản xuất
hướng vào xuất khẩu, làm tăng tính cạnh tranh cả đầu vào và đầu ra của sản xuất phục
vụ xuất khẩu khiến chi phí sản xuất tăng. Do đó, trong dài hạn, rất khó để doanh
nghiệp xuất khẩu có thể duy trì mức lợi nhuận cao do việc tăng cung hàng xuất khẩu.
Như vậy, tác động của tăng tỷ giá tới cung hàng xuất khẩu có tính hai mặt,
trong ngắn hạn nó có thể là nguyên nhân kích thích tăng cung hàng xuất khẩu, trong
khi về dài hạn có thể là nhân tố kìm hãm, thể hiện rõ đối với nhóm mặt hàng xuất khẩu
được sản xuất chủ yếu từ nguyên vật liệu nhập khẩu.
(3) T ác động đến khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu:
Khả năng của hàng xuất khẩu tại thị trường nước ngoài phụ thuộc ba nhóm
nhân tố: một là tính đa dạng của loại hàng đó tại thị trường nước ngoài; hai là nhóm
nhân tố liên quan đến chất lượng, thương hiệu, kênh phân phối, thị hiếu thị trường…
của hàng xuất khẩu; ba là các nhân tố liên quan tới giá cả. Tác động của tỷ giá hối đoái
tới khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu được thể hiện trên phương diện giá cả.
Tỷ giá t ác động đến cung và cầu hàng xuất khẩu đề cập ở trên là tỷ giá danh
nghĩa song phương (chính là tỷ giá được niêm yết tại các ngân hàng thương mại). Tuy
nhiên, khi phân tích tác động của tỷ giá đến khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu trên
thế giới thì phải xét đến biến động của tỷ giá thực song phương hoặc tỷ giá thực trung
bình. Đề tài chỉ xin dừng lại ở việc phân t ích ảnh hưởng của tỷ giá thực song phương
đến sức cạnh tranh thương mại của một nước.
Xét tầm vĩ mô, để phản ánh sức cạnh tranh của hàng trong nước với hàng hóa

*
)/P = 1, tức E x P
*
= P, ta có mức giá cả trung bình tại hai nước là
tương đương nhau.
Nếu tỷ lệ (E x P
*
) < 1, tức E x P
*
< P, ta có hàng hóa nước ngoài rẻ hơn và do vậy có
ưu thế cạnh tranh về mặt giá hơn so với hàng trong nước.
Trên thực tế, các quốc gia thường không công bố mức giá cả trung bình của hàng
hóa nước mình dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng chỉ số như chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) nên công thức tính tỷ giá thực song phương dạng tương đối thường được sử
dụng để đo lường sức cạnh tranh quốc t ế của hàng hóa hơn.
Công thức: e
o
Rt
= e
o
t
x CPI
o*
t
/CPI
o
t
x 100%
Trong đó: e
o

/P
*
o
)
Như vậy, tỷ giá thực phản ánh sức cạnh tranh thương mại quốc tế trên phương
diện giá cả. Khi tỷ giá thực tăng, sức cạnh tranh thương mại quốc tế của hàng hóa
trong nước được cải thiện. Ngược lại, khi tỷ giá thực giảm, sức cạnh tranh thương mại
quốc tế bị xói mòn. Nếu như các nhân tố khác không đổi, tỷ giá danh nghĩa tăng làm
cho tỷ giá thực tăng; có nghĩa là giá hàng hóa không co giãn trong ngắn hạn thì khi tỷ
giá tăng (nội tệ giảm giá) sẽ giúp cải thiện cạnh tranh thương mại.
3.2 Đối với doanh nghiệp nhập khẩu
* Rủi ro giao dịch:
Các công ty nhập khẩu có thể có lãi từ việc U SD xuống giá hoặc lỗ từ việc USD lên
giá. Ví dụ, một công ty nhập khẩu hàng trị giá 30,000 USD, tỷ giá lúc ký kết hợp đồng
là 20.880 USD/VND. Các khả năng có thể xảy ra là:
(1) Nếu phương thức thanh toán là TTR trả trước, Công ty cần thanh toán cho phía
xuất khẩu ngay khi ký kết hợp đồng hoặc sau 5 ngày (giả sử tỷ giá chưa có biến động)
thì công ty không chịu ảnh hưởng của biến động tỷ giá.
Tiểu luận Tài chính quốc tế

Nhóm 2 – CH TM 6A

23(2) Nếu phương thức thanh toán là TTR trả sau, D/P hoặc L/C, công ty cần thanh toán
cho phía xuất khẩu sau một thời gian. Lúc thanh toán, nếu tỷ giá xuống giá là 20.700
VND/USD thì công ty sẽ lãi so với việc thanh toán ngay là 5,4 triệu đồng; nếu tỷ giá
lên giá 21.000 VND/USD thì công ty sẽ lỗ so với việc thanh toán ngay là 3,6 triệu
đồng.

24hiện nay gồm: BIDV, Vietcombank, A gribank, Eximbank, ACB, Techcombank, M B,
VIB, Citibank và H SBC – CN Việt Nam.
* Các doanh nghiệp xuất khẩu
(1) Hợp đồng kỳ hạn
Nếu công ty xuất khẩu lo ngại biến động tỷ giá tại thời điểm nhận được tiền hàng, có
thể ký hợp đồng bán kỳ hạn USD cho N gân hàng để chắc chắn số tiền VND nhận được
trong tương lai, tránh được ảnh hưởng biến động tỷ giá.
Ví dụ, Công ty xuất khẩu gạo trên có thể bảo hiểm khoản thu tính ra nội tệ của mình
bằng cách đến Ngân hàng ký một hợp đồng bán kỳ hạn 3 tháng số tiền 100,000USD,
với tỷ giá kỳ hạn kỳ vọng bán cho Ngân hàng được tính theo công thức sau:
F = 20.840 x (1 + 9% x 3/12)/(1+ 2% x 3/12) = 21.203 VND/USD
Sau 3 tháng:
+ Nếu tỷ giá giao ngay mua vào chuyển khoản của các Ngân hàng xuống giá là 20.700
VND/USD thì công ty sẽ có lãi so với việc không có bảo hiểm là 50,3 triệu đồng.
+ Nếu tỷ giá tăng lên 21.000 VND/USD (thấp hơn tỷ giá kỳ hạn) thì công ty vẫn có lãi
là 20,3 triệu đồng.
+ Nếu tỷ giá giao ngay lên giá và cao hơn tỷ giá kỳ hạn là 21.500 VND/USD thì công
ty sẽ lỗ 29,7 triệu đồng.
(2) Hợp đồng quyền chọn
Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhà xuất khẩu cũng có thể sử dụng chiến lược quyền chọn
sau:
Mua quyền chọn bán: N gân hàng là người bán và thu phí
Ví dụ, Công ty xuất khẩu gạo trên sử dụng chiến lược mua hợp đồng quyền chọn bán
100,000USD thời hạn 3 tháng, với tỷ giá quyền chọn là 21.200 VND/USD, phí quyền
chọn 250 VND/USD. Sau 3 tháng:
- Nếu tỷ giá giao ngay xuống giá là 20.700VND/USD (thấp hơn tỷ giá quyền chọn)
thì công ty thực hiện quyền chọn bán tại tỷ giá 21.200VND/USD và lãi: (21.200 –

Nếu công ty nhập khẩu lo ngại biến động tỷ giá tại thời điểm thanh toán tiền hàng, có
thể ký hợp đồng mua kỳ hạn USD tại N gân hàng để chắc chắn số tiền VND phải thanh
toán trong tương lai, tránh được ảnh hưởng biến động tỷ giá.
Ví dụ, Công ty nhập khẩu thép trên có thể bảo hiểm khoản thanh toán nhập khẩu của
mình bằng cách đến N gân hàng ký hợp đồng mua kỳ hạn 3 tháng số tiền 30,000USD,
với tỷ giá kỳ hạn kỳ vọng được N gân hàng bán ra là:
F = 20.880 x (1 + 9% x 3/12)/(1+ 2% x 3/12) = 21.244 VND/USD
Sau 3 tháng:
- Nếu tỷ giá bán ra giao ngay của Ngân hàng xuống giá là 20.700 VND/USD, nhà
nhập khẩu sẽ lỗ: (21.244 – 20.700) x 30,000 = 16.320.000 đồng.
- Nếu tỷ giá lên giá là 21.500 VND/USD, nhà nhập khẩu sẽ lãi 7.680.000 đồng.
(2) Hợp đồng quyền chọn
Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhà nhập khẩu cũng có thể sử dụng chiến lược quyền
chọn sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status