ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC KÌ 2-LỚP 11 - Pdf 13

1 QUYỂN SÁCH TỐT LÀ 1 NGƯỜI BẠN HIỀN
Đại thi hào Marxim Gorki đã từng nói: "Sách mở ra trước mắt ta những chân
trời mới". Sách - một trong những người thầy đáng kính mà ta phải nghiêng mình khi
nhắc tới? Bởi tại sao? Sách đến để nâng đỡ ta những lúc vấp ngã, chia sẻ cùng ta
những khi thành công, cùng ta dựng xây tương lai vững chắc hay đơn giản chỉ là ban
tặng cho ta những kiến thức vào đời. Sách là một phương tiện quan trọng giúp ta rất
nhiều trong quá trình học tập và rèn luyện, giúp ta giải đáp thắc mắc, giải trí và tìm
nên những chân lý trong cuộc đời. Ấy thế, không chỉ là một người thầy luôn dõi theo
ta mà sách còn là một người bạn ở bên mỗi khi ta cần. Và như ai đó đã từng nói:
"Một quyển sách tốt là một người bạn hiền". Vậy sách tốt là sách như thế nào? Sách
tốt là những cuốn sách mang lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích, giúp ta hiểu được ý
nghĩa của sự sống,hiểu được giá trị của bản thân, gia đình và xã hội.Sách tốt cho ta
kiến thức về những điều hay lẽ phải,những kiến thức cần có trong cuộc sống.Sách
mang lại cho ta hiểu biết về thế giới xung quanh,về những vùng đất mà ta chưa từng
đặt chân tới ,về những con người mà ta chưa một lần gặp mặt.Như đã nói ở trên,sách
nâng đỡ ta những lúc vấp ngã,chia sẻ tâm trạng cùng ta,ban tặng ta những kiến thức
vào đời.Một người bạn hiền cũng vậy.Họ luôn ở cạnh ta để quan tâm,chia sẻ với ta
những vui buồn trong cuộc sống, khuyên bảo chúng ta nên làm điều hay,ngăn cản khi
ta vướng vào điều sai lầm. Người bạn hiền là người bạn luôn cùng ta tiến lên chiến
đấu để đạt thành quả cao trong học tập và làm việc.Cũng chính vì vậy mà cuốn sách
tốt được ví von như một người bạn hiền. Như những cuốn sách First new ,nó luôn
mạng lại cho ta những bài học quý giá về sự sống,làm cho ta biết yêu đời,yêu người
hơn,cho ta tự đánh giá về bản thân mình hoặc cho ta những kiến thức kĩ năng cần
thiết để bước vào đời.Hay những cuốn sách viết về các văn hóa dân tộc cho ta hiểu
biết về những nét độc đáo ,đặc sắc của từng quốc gia để thấy được nét đẹp của từng
nước,cho chúng ta đi du lịch mà không phải tốn nhiều tiền.Cha mẹ vẫn hay dặn
chúng ta nên đọc nhiều sách,đọc nhiều sách trao dồi nhiêù những bài học sống
hay,những bài học sống đẹp.Đọc nhiều sách ,nhất là những sách văn học còn giúp ta
trao dồi tâm hồn,trao dồi khả năng viết văn của mình.Sách mang lại rất nhiều điều bổ
ích.Trong thế giớ luôn tồn tại hai mặt trái ngược nhau,có người tốt người xấu,có bạn
1

của mỗi chúng ta.
Con người từ khi sinh ra đến ngày trưởng thành không ai không có bạn. Tình
bạn rất gần gũi, giản dị chứ không xa vời hay khó nói như nhiều thứ tình cảm khác.
Tình bạn là một phạm trù xã hội, được dùng để chỉ quan hệ giữa người với người có
những nét giống nhau về tâm tư, tình cảm, quan điểm hay hoàn cảnh… mà họ có thể
chia sẻ, đồng cảm, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Tình bạn có thể là bạn tri kỉ, bạn nối
khố, bạn học, bạn đồng hương, bạn đồng lứa, bạn đồng minh hay bạn chiến đấu. Bạn
là người có cùng sở thích, cùng lí tưởng, quan niệm sống với chúng ta. Bạn là người
cho ta một bờ vai mỗi khi ta khóc, cho ta một điểm tựa khi ta rơi vào tuyệt vọng, cho
ta một bầu trời ánh sáng khi ta lạc bước vào thế giới tăm tối, là người sẽ luôn bên ta
dù cuộc đời có đổi thay, khi ta gặp hoạn nạn cũng như tìm thấy hạnh phúc.
Nhưng tại sao ta cần phải có bạn? Phải chăng vì bạn là người luôn ở bên ta như
câu nói: “Ở nhà thì nhờ ba mẹ, ra đường thì nhờ bạn bè”. Có lẽ vì vậy mà bạn bè rất
quan trọng, nếu ai không có bạn thì đó là một thiệt thòi lớn trong đời. Có bạn là điều
hạnh phúc nhất của mỗi cuộc đời như nhà văn A.Manzoni đã nói: “Một trong những
hạnh phúc lớn nhất đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là
có một người để gửi gắm tâm sự thầm kín. Tình bạn đến với mỗi chúng ta một cách
rất tự nhiên bởi lẽ nó xuất phát từ trái tim của mỗi người.
Trong cuộc sống, tình bạn được biều hiện trên nhiều phương diện khác nhau.
Bất cứ thời đại nào cung tồn tại rất nhiều tình bạn đẹp. Chẳng hạn như tình bạn của
Lưu Bình và Dương Lễ ngày xưa. Khi Dương Lễ là một thư sinh nghèo khổ, Lưu
Bình không những không chê bai mà còn kết giao bạn hữu và tạo điều kiện cho
Dương Lễ ăn học. Đến khi Dương Lễ công thành danh toại, Lưu Bình chỉ là một kẻ
3
ăn mày rượu chè bê tha. Nhớ đến nghĩa tình bạn bè năm xưa, Dương Lễ đã nhờ vợ
mình giúp nuôi và đốc thúc việc học của Lưu Bình. Sau đó, Lưu Bình đỗ đạt làm
quan. Hay tình bạn vô cùng tốt đẹp và sâu sắc của hai nhà chính trị lớn là Các-mác và
Ăng-ghen. Tình bạn của hai ông bắt nguồn từ việc có cùng chung mục đích và lí
tưởng. Trong suốt thời gian nghiên cứu và làm việc, hai ông đã không ngừng viết thư
cho nhau và vô cùng vui sướng khi gặp lai nhau. Có lần Ăng-ghen bị bệnh, Các-mác

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Tôi sung sướng.
Xúc cảm vội vàng dường như đã được thể hiện ở khổ đầu tiên của bài thơ : khổ thơ
năm chữ duy nhất trong bài thơ mà phần lớn là những câu thơ tám chữ. Thể loại thơ
tám chữ gợi cho ta nghĩ đến cách nói vốn có của ca trù và cách sử dụng của Xuân
Diệu cùng thể hiện một nét mới của thơ mới. Còn cách đặt những câu thơ ngắn trong
trường hợp này làm nên giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một
con người đang tràn đầy cảm xúc. Mặt khác, Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên những câu
lẻ hai chữ “ tôi muốn ”, và chủ đề trữ tình lập tức xuất hiện. Nhà thơ thể hiện cái tôi
công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi
ngược lại với thơ ca trung đại, nơi rất ít dám thể hiện cái Tôi. Cách nhà thơ công
nhiên khiêu khích thẩm mĩ thơ của thời đại trước, chính là để thể hiện cái tôi trong
một khao khát lớn lao, cái tôi muốn đoạt quyền tạo hoá để làm những việc mà chỉ tạo
hoá mới làm được như “ tắt nắng đi “ và “buộc gió lại “. Nhưng trong cách diễn đạt
của nhà thơ thì “tắt nắng” và “buộc gió” không phải là ý muốn cuối cùng, vì những
câu chẵn của khổ thơ đều bắt đầu bằng một chữ “cho”.
Cho màu đừng nhạt mất,
……
Cho hương đừng bay đi.
Khát vọng ngông cuồng kia cũng xuất phát từ mong muốn giữ lại cái đẹp đẽ
cho sự sống. Những câu thơ gợi cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm hương sắc đi,
màu nắng sẽ bớt rực rỡ nếu nắng cứ toả, và làn hương kia sẽ bớt nồng nàn nếu gió cứ
bay. Nhưng mong muốn càng trở nên thiết tha hơn khi nhà thơ dùng đến hai lần chữ
“đừng” – chứa đựng một nguyện vọng thiết tha. Từng chữ một của bốn câu thơ đều
nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ
lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật.
Câu thơ thứ năm đang từ nhịp điệu gấp gáp của những dòng năm chữ, thì đột
ngột đổ tràn ra trong những dòng tám chữ. Một sự chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm
trải ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân tuyệt diệu. Trong bốn dòng thơ ấy đầy
ắp những tiếng “này đây” rải ra khắp các dòng thơ, vừa trùng điệp vừa biến hoá.

hạnh phúc đến với con người, làm nên một khía cạnh khác nữa của tinh thần nhân
văn của bài thơ. Ở đó, cái quí giá, đẹp đẽ nhất của con người lại là chính con người.
Vì vậy, con người là thực thể cao nhất, chứ không phải là thiên nhiên, là tôn giáo hay
một chuẩn mực đạo đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên làm chuẩn
mực thẩm mĩ, làm cho người đọc ngạc nhiên, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý niệm về một
tháng trẻ trung nhất của một mùa trẻ trung nhất trong năm : “ tháng giêng “. Nhưng
sự bất ngờ lại đến từ chữ thứ ba – “ngon”, điều mà ít ai có thể ngờ. Và càng không ai
có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với “cặp môi gần”. Nhưng có được sự so sánh ấy
thì thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc
của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn
toàn chiếm hữu.
Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình
yêu. Và hẳn phải có một tình yêu thật nồng nàn với cuộc đời thì tác giả mới tạo ra
được một hình ảnh lạ kì đến thế.
“Tôi sung sướng”
Những tiếng tất yếu được thốt lên sau tất cả những gì viết ở trên. Nhưng sau ba
chữ ấy lại là một dấu chấm ở giữa câu, khiến cho niềm sung sướng ấy như bị ngắt lại,
6
chặn lại giữa chừng để trở thành một niềm vui dở dang, không trọn vẹn. Bởi sau dấu
chấm là một chữ “ nhưng “ dự báo một cảm xúc hoàn toàn mới lạ. Cái ám ảnh của sự
vội vàng xuất hiện ở nửa sau . Nhà thơ dường như không thể tận hưởng hết được mùa
xuân vì cái cảm giác hoài xuân ngay khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ
đã đi sang một phía ngược lại, xuất hiện một phản đề :
Nhưng vội vàng một nửa.
Ai đã được nghe hai câu đầu của sự phản đề cũng đều có ấn tượng sâu sắc.
Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Sự mới mẻ, táo bạo, sự phát hiện lớn nhất của hai câu thơ lại được nằm ở hai
chữ tưởng như rất bình thường “ nghĩa là “, khiến cho câu thơ mang dáng dấp của
một đẳng thức nghệ thuật. Tác giả đã mạnh bạo đặt một dấu bằng ở hai vế tưởng như

Bằng lối viết thi trung hữu họa mang phong vị cổ thi cùng những thi liệu gần gũi,
thi sĩ giờ đây trở thành họa sĩ vẽ ra trước mắt người đọc một bức tiểu họa về thiên
nhiên miền sơn cước giữa cảnh chiều tối: cánh chim mệt mỏi (quyện điểu) tìm về
chốn rừng sâu (quy lâm) sau một ngày kiếm ăn vất vả; những chòm mây đơn độc, lẻ
loi (cô vân) chầm chậm (mạn mạn) trôi giữa bầu trời vô tận (độ thiên không). Chỉ
bằng vài nét chấm phá của bút pháp ước lệ, tác giả đã khéo léo đưa hình ảnh “cánh
chim” và “chòm mây” – những hình ảnh quen thuộc trong thơ chiều xưa và nay – vào
bài thơ như một sự ẩn dụ không chỉ mang tính chất không gian mà còn có ý nghĩa
thời gian. Tất cả tạo nên một phông lớn làm nền cho cảnh chiều.
“Cánh chim” vốn là hình ảnh không mấy xa lạ với thế giới nghệ thuật cổ phương
Đông. Có lẽ cũng vì vậy mà mỗi khi nhìn thấy cánh chim bay về rừng lại làm người
ta liên tưởng về một buổi chiều muộn nhiều hơn. Chất ước lệ càng được nâng cao khi
các nhóm từ “Phi yến thu lâm”, “Quyện điểu quy lâm” thường được sử dụng trong
thơ chữ Hán. Trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả cảnh chiều, đại thi hào Nguyễn Du
đã điểm vào bức tranh chút chuyển động của cánh chim: “Chim hôm thoi thót về
rừng”. Hay trong thơ Bà Huyện Thanh Quan cũng thế: “Ngày mai gió cuốn chim bay
mỏi”. Hoặc với Huy Cận, bóng chiều như đang sà xuống cùng cánh chim đang
nghiêng dần về phía cuối trời: “Chim nghiêng cánh nhỏ bong chiều sa”… Dường như
với thi nhân, cảnh chiều “không thể hoàn thiện” nếu thiếu cánh chim. Nhưng qua đây
ta cũng thấy được một điều: thơ văn xưa nhắc đến “cánh chim” thường chỉ như một
8
chi tiết nghệ thuật thuần túy để gợi tả cảnh chiều cũng như gợi cảm giác về sự xa
xăm, phiêu bạt, chia lìa:
“Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
Hay:
“Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
Cánh chim “phi tuyệt”, “phi tận” trong thơ Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên khiến ta
có cảm giác tất cả như đang rơi vào trạng thái bay vào chốn xa xăm, vô tận, mang
một ý niệm siêu hình. Đó dường như đã trở thành “lối mòn”, một cấu trúc không thể
thay thế trong thơ văn cổ. Nhưng vượt qua rào cản ấy, Bác đã đưa cánh chim của

bầu trời bao la, rộng lớn, trải dài đến vô tận càng khiến cho cảm giác trống trải, cô
đơn được nhân đôi. Vì sự cô đơn ấy không chỉ của chòm mây lẻ bóng, mà còn là tâm
trạng của người đang ngắm nó.
Chỉ với những hình ảnh thơ rất đỗi quen thuộc, người nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí
Minh đã vượt qua khuôn khổ thường tình của thi ca cổ điển để khắc họa bức tranh
chiều trên đất khách quê người. Nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy được tấm lòng yêu
9
thiên nhiên, yêu cuộc sống vô hạn của Người. Nhưng phảng phất đâu đó trong hai
câu thơ là một nỗi buồn thấm thía. Cánh chim bay tìm đường về tổ như một sự nhắc
nhở nhẹ nhàng về giấc mơ đoàn viên. Người tù đang phải chịu cảnh tù đày nên ắt hẳn
luôn hướng về quê hương, gia đình, nhìn thấy cánh chim phía cuối trời, cái mong ước
nhỏ nhoi ấy lại càng trào dâng, mãnh liệt khiến ai dù không mấy mặn nồng với quê
hương cũng phải đau đớn, huống hồ Bác là một người yêu nước tha thiết. Thêm vào
đó, bóng mây chầm chậm trôi về phía trời xa gợi niềm xót xa cho thân phận nổi nênh,
lênh đênh, trôi dạt giữa nơi đất khách càng làm cho khát vọng tự do được bay như
chim, trôi như mây giữa trời của người tù trở nên mạnh mẽ, dứt khoát hơn bao giờ
hết. Bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm cảnh đã thực sự hoàn làm một. Cũng từ
đây ta thấy được vẻ đẹp sáng ngời trong nhân cách HCM - đó là một con người dù
trong hoàn cảnh nào cũng vẫn không để mất đi dù chỉ một mảy may tình yêu cái đẹp,
khả năng rung cảm trước cuộc đời, một con người sống trọn vẹn cuộc sống con
người, dù trong hoàn cảnh có khác loài người.
Không dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, Bác bắt đầu đi vào xây dựng
hình tượng trung tâm cho bức tranh. Bút pháp cổ điển giờ đây được thay thế bằng
những hình ảnh mang phong cách hiện đại. Bức tranh không còn đơn điệu mà như
được thổi hồn bởi sự xuất hiện của con người – cô gái xay ngô – và bếp lửa hồng.
Khung cảnh thiên nhiên nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt của con người. Đó là
một luồng gió mới làm thay đổi toàn bộ “cục diện” của bức tranh:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”
Giữa rừng núi hoang sơ, hẻo lánh, trong lúc nỗi buồn thầm kín đang bủa vây lấy

hạnh phúc cho không chỉ người tù đơn độc mà còn cho cả người đọc trước cái không
khí âm u, heo hút của núi rừng. Phải chăng vẻ đẹp lung linh của bức tranh là do sự
khỏe khoắn ấy tạo nên?!?
Ở nguyên tác, Bác không cần dùng đến chữ “tối” như bản dịch nhưng vẫn cho ta
thấy được sự vận động không ngừng của thời gian: từ chiều tà đến chiều tối. Đó
chính là nhờ sự hiện diện của hình ảnh lò than hồng. Bởi phải vào thời điểm như thế
người ta mới thấy hết sự rực hồng của than trong lò, mà cái tài của nhà thơ ở đây là
không cần dùng đến chữ “tối” nhưng ý nghĩa ấy vẫn cứ hiện lên rõ mồn một. Hình
ảnh lò than rực hồng trong đêm tối không chỉ làm nổi bật thêm tư thế xay ngô của cô
gái mà hơn hết, ánh than hồng đã xua tan đi bóng tối đang dần bao trùm lấy vạn vật
mà theo nhà thơ Hoàng Trung Thông – “Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác”- NXB Tác
phẩm mới 1977, trang 231 đã nhận xét thì: “Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng
rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã
diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong
ngô tối. Chữ “ hồng” trong nghệ thuật thơ Đường, người ta gọi là “thi nhãn” (con mắt
thơ) hoặc là “nhãn tự” (chữ mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với
hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa…” Cũng vì thế mà hình ảnh
lò than hồng có một sức lôi cuốn đặc biệt đối với mỗi người.
Thoát khỏi văn phong cổ điển, hai câu thơ cuối mang nhiều chất “bạch thoại”, mộc
mạc, đời thường và điều đó thể hiện rõ ở chữ “bao túc” xuất hiện đến hai lần. Cô gái
miệt mài xay ngô mà không hề để ý đến thời gian. Cứ hết túi ngô này (ma bao túc)
rồi lại đến túi ngô khác (bao túc ma) để rồi đến khi cô xay ngô xong (bao túc ma
hoàn) thì mới nhận ra “lò than đã rực hồng” (lô dĩ hồng). Qua hình ảnh trẻ trung mà
bình dị, hiện đại ta thấy được niềm xót xa kín đáo mà sâu xa của nhà thơ trước nỗi vất
vả, khó khăn của cuộc sống con người lao động. Sự lặp đi lặp lại của công việc xay
ngô như một vòng quay nặng nề, luẩn quẩn của con tạo. Tình thương đối với nỗi đau
khổ của những con người lao động, cho dù họ không phải là đồng bào của Bác,
không quen thân, thậm chí chưa hề gặp mặt cũng theo đó mà chân thành hơn bao giờ
hết. Song trên một phương diện nào đó, câu thơ một lần nữa khơi gợi lại cảm giác về
sự ấm áp, sum vầy, về một thứ hạnh phúc bình dị trong một căn nhà ấm cúng. Đó như


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status