Page 1
!"#$%
&'())*+
,-!./,0!"12!.34!%%
"56 1: Nguyễn Quốc Việt An
2: Vũ Ngọc Nam
3 Nguyễn Quỳnh Như
4 Hồ Chí Thanh
5 Nguyễn Hoàng Tiên
6 Nguyễn Thị Nhật Trâm
7 Lê Hồ Ngọc Uyên
78"9,!":;"<!.=>!?6>=@A
B$CB$
Page 2
Trong nền kinh tế hiện đại, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra
mạnh mẽ, quá trình tự do hóa tài chính liên tục, các luồng tài chính được tự do luân
chuyển và xuyên suốt từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế mỗi quốc gia càng gắn liền với tình hình biến động
kinh tế chính trị diễn ra trong toàn cầu, Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động
này. Khi nền kinh tế thế giới biến động, thị trường trong nước ngay lập tức có sự phản
ứng và điều này có thể thấy rõ ở hai thị trường đó là thị trường ngoại hối và thị trường
vàng. Những biến động ở hai thị trường này có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên nên
kinh tế, gây rất nhiều khó khăn cho Chính phủ trong việc điều hành tỷ giá, ổn định thị
trường và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô. Bởi vậy, từ lúc đổi mới đến nay Chính
phủ vẫn rất quan tâm và điều hành chặt chẽ, thực thi nhiều chính sách để chống lại tình
trạng “đô la hoá” – “vàng hoá” nhằm ổn định kinh tế quốc gia.
Đề tài nghiên cứu “Thực trạng Đô la hoá, vàng hoá trong nền kinh tế ” của
nhóm 6 – lớp MBA12B sẽ làm rõ những diễn biến và tác động của Đô la hoá và vàng
Nguyễn Thị Nhật Trâm
8 Tổng hợp Trâm - Uyên
9 Thuyết trình Vũ Ngọc Nam
Lê Hồ Ngọc Uyên
Hồ Chí Thanh
Nguyễn Thị Nhật Trâm
10 Trả lời câu hỏi Cả nhóm
Page 4
CI"5I
@"<,!,E6J CI"5I
Đô la hóa hiểu theo cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được
sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng
tiền tệ: chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương
tiện tích luỹ… thì nền kinh tế đó bị coi là Đô la hóa toàn bộ hoặc một phần.
Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra, một nền kinh tế bị coi là có
tình trạng Đô la hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ (FCD) chiếm từ 30% trở
lên trong tổng khối lượng tiền tệ mở rộng (M2), bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ.
Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đô la hoá là tình trạng một
đồng tiền nước ngoài thực hiện một trong các chức năng cơ bản của đồng tiền nội tệ như:
phương tiện thanh toán, phương tiện tích luỹ, thước đo giá trị.
>"D!CKL,
Tùy theo mức độ sử dụng rộng rãi đồng USD trong nền kinh tế và thái độ của quốc gia
đó đối với việc thừa nhận hay không thừa nhận đồng đô la mà Đô la hóa được chia làm
ba mức độ:
M Đô la hóa không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi
trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Ở
những nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân
đã quen với việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá
hàng hóa bằng đô la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước. Đô
đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của
Chính phủ. Theo đó, toàn bộ tài sản có, tài sản nợ, các hợp đồng giao dịch, giá
cả hàng hóa và dịch vụ, tiền lương sẽ hoàn toàn hoặc một phần, được niêm yết
bằng đô la một cách công khai hoặc ngầm định. Thông thường các nước chỉ áp
Page 6
dụng đô la hóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương
trình ổn định kinh tế và thường chỉ chọn 1 ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
N.GO0!!"D!$"G!.34!JP!;Q!";RL!.J CI"K<S$<$TGU$.,I
Trước hết, đô la hóa là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở các
nước chậm phát triển. Một nguyên nhân chính được nhiều người công nhận là do nhu
cầu phòng chống rủi ro các loại, trong đó có rủi ro do lạm phát và bản tệ bị mất giá so
với ngoại tệ, rủi ro sụp đổ một thể chế tiền tệ, rủi ro gắn với sự yếu kém của các cơ quan
chức năng của chính phủ mà vì đó, chính phủ không thể đưa ra những cam kết về ổn
định và an toàn của hệ thống và thể chế kinh tế. Đô la hóa thường gặp khi một nền kinh
tế có tỷ lệ lạm phát cao, đồng nội tệ bị mất giá thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ
giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín. Với chức năng ban đầu làm phương
tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng
làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
Thứ hai, đô la hóa bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ
của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế
làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Nói cách khác, đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, được tự
do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng.
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được quốc tế
hóa như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thụy Sỹ, euro của EU nhưng vị thế của
các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng
cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới). Vì thế mà người ta
thường gọi hiện tượng ngoại tệ hóa là “đô la hóa”.
Trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ chế kinh tế thị
trường mở cửa; quá trình quốc tế hóa giao lưu thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế
ngàycàng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước
thức, do có một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng nên ngân hàng trung ương
sẽ không còn khả năng phát hành thêm tiền và gây ra lạm phát. Đồng thời ngân sách nhà
nước do không thể phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt nên việc sử dụng ngân sách
sẽ mang tính tích cực hơn. Như vậy, tình trạng đô la hóa đã góp phần tạo ra một cái van
giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kì lạm phát cao hay khi nền kinh tế bị
mất cân đối nghiêm trọng, những giai đoạn mà điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định.
Page 8
Lịch sử Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới như: Đức, Nga, các quốc gia
Châu Phi… đã từng chứng kiến sự phá hoại khốc liệt của lạm phát cao, đặc biệt là lạm
phát phi mã. Đó là tình trạng đồng bản tệ bị mất giá nhanh chóng, tiền dường như mất đi
các chức năng lưu thông vốn có. Người ta không muốn bán hàng hóa để nhận về những
tờ giấy “vô giá trị”. Vì thế đời sống xã hội trong thời kỳ lạm phát cao rất hỗn loạn, người
dân muốn đẩy tiền vào các ngân hàng hoặc chuyển thành hàng hóa.
Do đồng USD phổ biến và có giá trị khá ổn định nên nhiều người đã lựa chọn
phương thức đối phó với lạm phát là chuyển nội tệ sang USD để cất trữ. Nếu hệ thống
ngân hàng có một lượng lớn ngoại tệ dự trữ, đáp ứng được phần lớn nhu cầu đổi ngoại tệ
của người dân thì sẽ góp phần làm dịu sự hỗn loạn trong dân cư. Hơn nữa, chính hành vi
đổi ngoại tệ của người dân đã làm cho nội tệ được hút vào hệ thống ngân hàng, giảm
cung nội tệ trên thị trường, góp phần kiềm chế sự gia tăng của lạm phát. Còn Nhà nước
sẽ sử dụng ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa bán rộng rãi trên thị trường trong nước, làm
giảm sự khan hiếm hàng hóa, từ đó làm ổn định tâm lý của người dân xoa dịu sự hỗn
loạn trong xã hội do thiếu hàng hóa để tiêu dùng.
Mặt khác, Đô la Mỹ là đồng tiền đáng tin cậy trên thế giới, cho nên đô la hóa sẽ
giảm thiểu các rủi ro về khả năng mất giá tiền tệ, loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và
đồng thời sẽ giúp hạ lãi suất khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Đô la hóa
sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài một khi họ biết là giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ
không thay đổi, những điều này sẽ đưa đến tốc độ phát triển nhanh và đầu tư tăng.Ở các
nước có hiện tượng đô la hóa chính thức thì chi phí giao dịch sẽ được hạ thấp vì các chi
phí như chênh lệch tỷ giá mua và bán khi chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền
khác được xóa bỏ.
thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến giá trị của đồng đô la cho dù
sự dao động ấy bắt nguồn từ các thay đổi trong nội bộ nền kinh tế Mỹ. Đô la hóa làm cho
đồng nội tệ trở nên nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, nhất là các loại rủi
ro tài chính tiền tệ mang tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu
hoá như hiện nay như: rủi ro thanh khoản ngoại tệ, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro rút
vốn đầu tư nước ngoài, rủi ro nợ quốc gia Do đó những cố gắng của nhà nước nhằm
điều chỉnh chính sách tiền tệ sẽ tác động đến tổng cầu của nền kinh tế thông qua việc
điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả. Lúc này, nền kinh tế tồn tại không chỉ
duy nhất đồng nội tệ mà còn nhiều ngoại tệ khác cho nên khi nhà nước giảm lãi suất tiền
gửi nhằm giảm tiết kiệm, tăng tiêu dùng trong dân cư. Nhưng Chính phủ có thể không
Page 10
đạt được mục tiêu một cách hiệu quả vì trong tình hình đó người dân có thể không tiêu
dùng mà chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ, nghĩa là Đô la hóa tăng.
Đô la hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá của Nhà
nước. Nó làm cho cầu tiền cả nội tệ và ngoại tệ không ổn định, người dân có nhiều sự lựa
chọn hơn cho tài sản của mình. Nếu tình hình trong nước không thuận lợi, lạm phát cao
hay chỉ đơn giản là niềm tin vào sự tăng giá của USD trong tương lai sẽ khuyến khích
người dân đi mua ngoại tệ để cất trữ của cải hoặc đầu cơ ngoại tệ, làm tăng cầu USD,
gây sức ép tăng tỷ giá. Ngược lại nếu thấy những yếu tố bất lợi cho việc nắm giữ đô la
như đô la có xu hướng giảm giá…thì người dân có thể lập tức bán ra ồ ạt đô la, gây sức
ép giảm giá USD, làm tỷ giá giảm. Sự biến động thất thường của tỷ giá gây ra nhiều bất
lợi cho đất nước.
Nếu tỷ giá quá cao, nghĩa là đồng tiền Việt Nam có giá trị quá nhỏ bé so với các đồng
tiền khác, điều này có thể làm giảm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế vì mức thu
nhập tính theo đô la cách xa các quốc gia khác, hoặc tỷ giá quá thấp sẽ làm giảm khả
năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, do giá hàng xuất khẩu cao hơn. Hơn thế
nữa, khi tỷ giá luôn luôn biến động sẽ làm cho hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại
tệ chịu nhiều rủi ro hơn, khó dự đoán kết quả tương lai, làm giảm động lực kinh doanh.
Để hạn chế sự biến động thất thường của tỷ giá trên thị trường tự do, mỗi Chính phủ
thường hoạch định một chính sách tỷ giá hối đoái riêng.
mỗi năm một tăng với mức bình quân trên 15%/năm, cụ thể:
Biểu đồ 1.1: Lượng kiều hối chuyển vào Việt Nam trong khoảng 1991 – 2013
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Nhờ chính sách thu hút kiều hối hiệu quả đã mang về lượng ngoại tệ khá lớn cho
Việt Nam ~ 81,025 triệu USD trong 23 năm (1991 – 2013). Các khoản kiều hối
sau khi đi qua hệ thống ngân hàng nếu không được khuyến khích chuyển thành
nội tệ sẽ phát tán trong dân cư dưới hình thức ngoại tệ và làm tăng khả năng đô la
hóa nền kinh tế.
M Thứ hai, lượng ngoại tệ do khách quốc tế mang theo đến Việt Nam
Page 12
Bộ phận thống kê ASEAN (ASEAN Stats) vừa công bố, Việt Nam đứng thứ 4
trong khu vực ASEAN (sau Thái Lan, Singapore và Malaysia) về thu hút khách
du lịch quốc tế với tốc độ tăng bình quân 10%/năm.Theo số liệu Tổng cục Thống
kê thì từ năm 2000 – 2013, Việt Nam đã đón tiếp gần 60 triệu lượt du khác quốc
tế.
Biểu đồ 1.2: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong các năm
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Đồng ngoại tệ nào thu được chủ yếu còn lệ thuộc vào số lượng khách đến từ
những nước nào. Tuy nhiên đồng USD vẫn được nhiều nước sử dụng, và khách
du lịch từ Mỹ đến Việt Nam cũng còn nằm trong con số khá cao.
Biểu đồ 1.3: Thống kê lượng khác quốc tế đến Việt Nam năm 2012
Z.G8!%";;7%[[$I\]^,_/!`
M Thứ ba là, tiền lương và thu nhập của người Việt Nam làm việc trong các dự
án liên doanh, dự án 100% vốn nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài
ở Việt Nam, được trả bằng ngoại tệ.
M Thứ tư là, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, làm
ăn, học tập ngày càng tăng, chi tiêu ngoại tệ tiền mặt rất lớn, nhất là tiền thuê
nhà của các hộ gia đình người Việt Nam và chi trả các dịch vụ khác.
M Thứ năm là, tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức tài chính vi mô,
tổ chức từ thiện quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài Bên cạnh đó là
về đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng.
• Trong giai đoạn 1993 – 1996: chính sách của Ngân hàng nhà nước đã phát huy
hiệu quả khi giảm mạnh mức độ đô la hóa và ổn định ở mức 20%.
• Giai đoạn 1997 – 2001: từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á,
lợi tức của VND thấp hơn so với lợi tức của USD, khu vực dân cư và các doanh
Page 15
nghiệp có xu hướng chuyển sang nắm giữ bằng USD, do đó, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ
trên tổng phương tiện thanh toán tăng lên và ở mức khoảng 30% vào năm 2001.
Về lĩnh vực ngoại hối, ngày 17/8/1998 đánh dấu một mốc quan trọng đối với công
tác quản lý ngoại hối khi Chính Phủ ban hành nghị định 63/1998/NĐ-CP với một
số điểm mới về cơ bản như: đưa ra khái niệm mới về ngoại hối; xác định rõ khái
niệm cư trú, người cư trú để thuận lợi cho quản lý ngoại hối; phân tích các giao
dịch liên quan đến quản lý ngoại hối thành giao dịch vãng lai; chính thức quy định
rõ quyền sử dụng ngoại tệ của cá nhân…
• Từ năm 2002 đến 2007: đô la hóa có xu hướng giảm trở lại nhờ lợi tức của VND
hấp dẫn hơn ngoại tệ, mức biến động của tỷ giá không lớn (tỷ giá chỉ tăng khoảng
trên 6% trong vòng 5 năm từ 2002 - 2007 nhờ cung ngoại tệ dồi dào, nhất là cung
ngoại tệ từ việc thu hút vốn nước ngoài);
• Giai đoạn 2008 đến 2011:khủng hoảng kinh tế toàn thế giới, tình trạng lạm phát
tăng cao (29.8%). Tâm lý lo ngại đồng nội tệ mất giá tăng lên làm tình trạng đô la
hóa ở nước ta có xu hướng gia tăng trở lại năm 2008. Tỷ lệ này xấp xỉ 20% và
không có sự thay đổi nhiều cho cuối năm 2011 tỷ lệ FCD/M2 là 19.83%.
Từ tháng 11/2009 đến tháng 2/2011, chỉ trong vòng 14 tháng, NHNN đã ra quyết
định 4 lần điều chỉnh tỷ giá, trong đó có những đợt điều chỉnh được coi là đợt phá
giá tiền tệ và đồng nội tệ hiện nay đã giảm giá khoảng 20% so với thời điểm trước
26/11/2009, cụ thể như sau:
o Ngày 26/09/2009: tỷ giá điều chỉnh tăng VAg từ 17,034 đồng lên 17,961
đồng.
o Ngày 10/02/2010: tỷ giá điều chỉnh tăng N>g từ 17,961 đồng lên 18,544
đồng.
ngoại tệ. Đây là giải pháp nằm trong chủ trương chuyển quan hệ huy động - cho vay
bằng ngoại tệ sang quan hệ mua - bán mà Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh trong vài
năm trở lại đây.
Dĩ nhiên, để kích thích ngoại tệ chuyển đổi, giá trị của VND phải được khẳng định và
củng cố. Hai năm qua, chênh lệch lãi suất giữa VND với USD đã có lợi cho việc nắm giữ
VND, lạm phát đã được kiềm chế và đặc biệt là tỷ giá USD/VND đã được giữ ổn định,
cam kết giữ ổn định với biến động chỉ 1 - 2% mỗi năm. Cân nhắc lợi ích nắm giữ, việc
chuyển đổi từ USD dưới hình thức găm giữ gửi ngân hàng sang VND là dòng chảy nổi
Page 17
bật, góp phần tạo nên sự giảm mạnh của tình trạng đô la hóa nói trên, cũng như sự gia
tăng nhanh chóng của dự trữ ngoại hối nhà nước.
Thêm vào đó, cũng từ năm 2011, các cơ quan chức năng đã tỏ rõ quyết tâm hơn trong
việc xử lý những bất cập trên thị trường tự do; xử lý tình trạng giao dịch và niêm yết
ngoại tệ trái phép. Đặc biệt, Nghị định 95 về xử phạt hành chính liên quan, với cơ chế
mạnh là cho phép tịch thu tang vật, đã tạo sức răn đe mạnh hơn…
Bên cạnh những biện pháp mang nặng hành chính trên, kinh tế vĩ mô cũng đã có chuyển
biến tích cực ở những dòng chảy liên quan. Đó là sau nhiều năm triền miên nhập siêu
lớn, cân đối xuất nhập khẩu đã tương đối cân bằng trong hai năm qua; cán cân tổng thể
đã thặng dư trở lại, đặc biệt lên tới khoảng 10 tỷ USD trong năm 2012 và dự kiến đạt 5 tỷ
USD trong năm nay, tạo thuận lợi cho việc giữ ổn định tỷ giá USD/VND - hạn chế mức
độ hấp dẫn của USD khi nắm giữ.
Nhìn chung, tình trạng đô la hóa giảm mạnh trong các năm trở lại đây là diễn biến tích
cực. Một mặt nó phản ánh uy tín của đồng nội tệ cao hơn trong dân cư, mặt khác và quan
trọng hơn là giảm bớt sự lệ thuộc của nền kinh tế vào một đồng tiền (ở đây là USD) và
các chính sách liên quan của quốc gia “đẻ” ra nó. Và khi mức độ đô la hóa xuống thấp,
tính độc lập và chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam được nâng cao
hơn. Ở một góc độ nào đó, đây là một vấn đề mang tính chủ quyền quốc gia, chứ không
đơn thuần là một vấn đề kinh tế.
h.GO0!!"D!.DORI;Q!";RL!. CI"5IS,E;!I6M,-,7"<7
6.1. Nguyên nhân
trạng thiếu thanh khoản do kết quả của sự thay đổi đột ngột trong nhận thức của các nhà
đầu tư và người gửi tiền về tình trạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng. Một khoản tiền
gửi mất đi ở các ngân hàng trong nước sẽ làm vơi đi một phần dự trữ ngoại hối. Điều này
đặc biệt nghiêm trọng nếu nó xảy ra vào lúc cần nguồn dự trữ để thanh toán cho việc
nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm và năng lượng. Rủi ro này cho thấy sự
quan trọng của việc phải duy trì một mức độ đủ mạnh nguồn dự trữ và nhấn mạnh rằng
tại sao sự sụt giảm gần đây trong dự trữ ngoại hối là đáng lo ngại.
Page 19
Tổng cung tiền thực ở Việt Nam bao gồm 2 loại tiền tệ (tiền Đồng và USD). NHNN có
thể dễ dàng kiểm soát cung tiền Đồng bằng việc hạn chế tăng trưởng tín dụng, bằng
nghiệp vụ thị trường mở (OMO), điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ số thanh toán, v/v…
Nhưng SBV có ít sự kiểm soát đối với cung tiền USD, bởi vì USD có thể chảy vào các
ngân hàng trong nước từ thông qua các khoản tiền gửi từ nước ngoài tìm kiếm lợi nhuận
từ chênh lệch lãi suất. Đây là một dạng của “dòng tiền nóng” ngắn hạn, là nguồn tiền rất
không ổn định. Tiền chảy vào một cách nhanh chóng thì cũng có thể chảy ra một cách
nhanh không kém, khi lãi suất không còn đủ cao để đánh đổi với rủi ro của nước sở tại.
Nếu dòng tiền nóng chảy ra một cách đột ngột, nó có thể tạo ra rủi ro thanh khoản, như
đã từng xảy ra đối với một số nước khác trong khu vực trong cuộc Khủng hoảng tài
chính Châu Á trong năm 1997 – 1998 (Việt Nam không bị ảnh hưởng trực tiếp trong
cuộc khủng hoảng năm 1997 – 1998 do có ít nguồn tiền nóng chảy vào, và thị trường
chứng khoán vẫn chưa tồn tại vào thời điểm đó. Nhưng tình thế hiện nay đã khác).
i,RKCL67"<;: Nếu cung tiền USD trong nước quá lớn hoặc tăng trưởng quá nhanh
cũng có thể tác động thêm vào tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế. Bởi vì USD và tiền Đồng
thường có thể hoán đổi sử dụng trong nền kinh tế hiện nay, cung tiền thực sẽ là tổng của
tất cả USD và tiền Đồng trong lưu thông. Có nhiều tiền trong tay người tiêu dùng sẽ dẫn
đến lạm phát, do nguồn tiền nhiều nhưng hàng hóa lại ít, dẫn đến tình trạng bong bóng
tài sản.
i,RKJU,/2,$<$!.D!"k!.: Có rủi ro lớn đối với các ngân hàng nếu các ngân
hàng điều hành tiền tệ không hợp lý thông qua mối tương quan giữa tài sản và nợ (ví dụ
như: cho vay USD đối với các khách hàng trong nước không bảo đảm). Các ngân hàng
F;/k,^12$;",P;;"H$$5;"a;"H$",E!.86:
• Công tác giám sát ngân hàng cần được nâng cao để đảm bảo rằng các ngân hàng sử
dụng các công cụ rào cản để đảm bảo an tòan cho các khỏan vay ngoại tệ và để đảm bảo
rằng các khoản cho vay ngoại tệ của họ cho khách hàng hoặc được đảm bảo bằng nguồn
thu lại USD từ doanh nghiệp (doanh nghiệp sẽ dùng chính nguồn thu từ USD đảm bảo
cho các khoản vay USD từ ngân hàng) hoặc bởi các công cụ tài chính phòng hộ. Những
thay đổi gần đây của Ngân hàng nhà nước về chính sách đối với các khoản cho vay ngoại
tệ cần được thực hiện một cách đúng lúc.
• Các chính sách nên được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy dùng tiền Đồng và xem nó là đơn
vị bắt buộc trong thanh toán.
• Dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ nên được tăng lên nhằm làm tăng chi phí cho
các ngân hàng và trở nên kém hấp dẫn cho người gửi. Tương tự, dự trữ bắt buộc đối với
Page 21
tiền Đồng nên giảm xuống nhằm giảm chi phi cho các ngân hàng và tăng sự hấp dẫn cho
người gửi.
• Qui định trần lãi suất tối đa đối với tiền gửi USD nên được đưa ra. Đồng thời, lãi suất
gửi tiền Đồng cũng nên được cho phép tăng dần (mặc dù điều này có thể làm giảm tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế, vì vậy nó cần được thực hiện một cách thận trọng). Nhằm khuyến
khích người gửi bán USD cho ngân hàng (để đổi thành tiền Đồng) thay vì gửi tiết kiệm
(bằng USD), khi đó người gửi phải cảm thấy rằng lãi suất họ nhận được khi gửi tiền
Đồng đủ lớn để bù đắp cho khoản thu nhập tiềm năng mà họ sẽ nhận được nếu họ gửi
bằng tiền USD.
• Hệ thống bảo hiểm tiền gửi nên được đẩy mạnh thêm nữa cho các khoản tiền gửi
bằng
Đồng (và chỉ tiền Đồng ).
• Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành trong việc giám sát việc thực hiện các
quy định về quản lý ngoại hối trên phạm vi cả nước, thuộc mọi thành phần kinh tế, phải
đảm bảo xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cần có chế tài xử phạt nặng đối với các
trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý ngoại hối.
• Cuối cùng là ý thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện
• Doanh nghiệp xuất khẩu được vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong
nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa
khẩu biên giới Việt Nam mà Doanh nghiệp phải có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất
khẩu để trả nợ vay; khi được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái
giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện
giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại
tệ.
• Cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trình quan trọng
quốc gia được Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ
trương đầu tư và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra
nước ngoài.
Page 23
Bằng biện pháp này, NHNN không còn chịu sức ép cung USD ra thị trường như
thời điểm trước đó, khi các Doanh nghiệp hầu như đều thích vay USD để hưởng
lãi suất thấp và đồng thời đầu cơ, ghim giữ ngoại tệ khi tỷ giá đang trong xu
hướng tăng. Các Doanh nghiệp nhập khẩu vay USD nhưng không đến thời điểm
trả nợ lại không có nguồn USD, dẫn đến áp lực các NHTM phải có nguồn USD
bán cho các đối tượng này.
Với đối sách này, nguồn USD trong nền kinh tế được khơi thông, sử dụng hiệu
quả hơn và các Doanh nghiệp không còn thích ghim giữ USD như trước, phân
tích cụ thể:
• Các Doanh nghiệp vừa nhập khẩu vừa xuất khẩu được vay USD khi đảm bảo
nguồn USD thu từ xuất khẩu đảm bảo được trả nợ vay. Còn các Doanh nghiệp
nhập khẩu nhưng không có xuất khẩu thì buộc vay VNĐ và hoán đổi sang USD
để thanh toán Ngân hàng không áp lực bán USD cho Doanh nghiệp trả nợ.
• Các Doanh nghiệp xuất khẩu thời điểm này có xu hướng đi vay USD để phục vụ
nhu cầu sản xuất kinh doanh trong khi USD xuất khẩu thu về lại ghim giữ ngoạt tệ
để hưởng chênh lệch tỷ giá. Với chính sách này, Ngân hàng chỉ cho vay các