Đề tài: "THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM" - Pdf 71

GVHD:Th.s Lữ Lâm Uyên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT KINH TẾ

TÊN ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM
GV hướng dẫn: Ths.Lữ Lâm Uyên
SV th
ực hiện :Nguyễn Bảo Ngọc
L
ớp :Thương mại 3
Khóa :32


Điểm bằng số: Điểm bằng chữ :
........................................................................................................
........................................................................................................ SVTH: Nguyễn Bảo Ngọc.Lớp TM3.K32 - Trang2 -
GVHD:Th.s Lữ Lâm Uyên

 LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu
quan trọng : trong thời kỳ này thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, nền kinh tế
thoát ra khỏi khủng hoảng; trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực hiện chiến lược 10
năm 2001-2010, nền kinh tế dừng như “không chệch hướng” khỏi quỹ đạo và đạt
tốc độ tăng trưởng hàng năm tương đối cao. Ngoài ra còn các thành tích khá ấn
tượng về ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng năm, về xóa
đói giảm nghèo… chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm
dịu đi những băn khoăn về một số chỉ tiêu khác của đổi mới chứa đạt kế hoạch,
trong đó có việc đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.Đổi mới doanh nghiệp nhà nước
là một bộ phận trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì
vậy, điều cần khẳng định trước tiên là mục tiêu của đổi mới doanh nghiệp nhà
nước phải phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ chương trình đổi mới nền kinh
tế, trong đó điều cốt lõi là nguyên tắc thị trường sẽ thay thế nguyên tắc kế hoạch

1)Mục tiêu,yêu cầu cổ phần hóa(CPH) Doanh nghiệp nhà nước(DNNN)..........5
2)Sự cần thiết chuyển sang hình thức cổ phần hóa DNNN…………………….5
3)Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa………………………………………….6
4)Hình thức cổ phần hóa………………………………………………………..6
5)Chi phí thực hiện cổ phần hóa………………………………………………..6
6)Chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động sau CPH……………….7
a.Doanh nghiệp sau khi CPH được hưởng các ưu đãi..............................7
b.Người lao động trong doanh nghiệp CPH đựơc hưởng các chính sách ưu
đãi sau…………………………………………………………………………...8
Chương II: Kết quả sau khi cổ phần hóa Doanh nghiệp……….....................8
1)Luật điều chỉnh………………………………………………………………..8
2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục……………………..……10
3)Nguyên nhân …………………………………………………………………11
Chương III: Thực trạng cổ phần hoán DNNN tại Việt Nam………..……...11
1)Thực trạng chung hiện nay……………………………………………………11
2)Một số DNNN điển hình………………………………………………………15
a/DNNN cổ phần hóa không đạt mục tiêu………………………………...15
b/Các DNNN cổ phần hóa có hiệu quả.......................................................15
c/Các dự án cổ phần hóa khác…………………………………………….16
d/DNNN điển hình…………………………………………………………17
4)Mục tiêu hoàn thành CPH hơn 1500 DNNN vào năm 2010…………………...18
ChươngVI: Vấn đề đặt ra và biện pháp giải quyết của nhà nước……………19
1)Vấn đề đặt ra hiện nay……………...………………………………………..19
2)Biện pháp khắc phục…………………………………………………………22
3)Chủ trương,chính sách của Nhà nước………………………………………..23
4)Kết luận………………………………………………………………………25
*Tài liệu tham khào.…………………………………………………………..27

không chấp nhận kinh tế thị trường nên cũng vì thế mà không chấp nhận các dạng
thức xã hội hóa khác nhau của kinh tế thị trường. Thành ra, doanh nghiệp quốc
doanh đã trở thành hình thái độc quyền biểu thị tính chất xã hội hóa của sản xuất,
là hoàn toàn xã hội chủ nghĩa, (còn hợp tác xã thì chỉ là xã hội chủ nghĩa có một
nửa). Từ đó, dẫn đến sự chỉ đạo về mặt chính sách là bằng mọi cách, làm cho kinh
tế quốc doanh càng chiếm tỷ trọng cao càng tốt với điều tâm niệm rằng: doanh
nghiệp quốc doanh chính là hiện thân của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nghĩa
là càng nhiều doanh nghiệp quốc doanh thì càng có nhiều chủ nghĩa xã hội. Chính
cách hiểu này đã khiến cho có thời kỳ quá trình quốc doanh hóa trở thành xu
hướng chủ đạo trong nền kinh tế, và như đã nói, đã bị thực tiễn bác bỏ.
- Ngược lại, nếu đứng từ góc độ của kinh tế thị trường, như đã trình bày ở
phần trên, cả trên phương diện lô-gíc lẫn lịch sử, hình thái cổ phần chính là một
hình thái biểu hiện tính chất xã hội hóa sản xuất cao nhất, và tính hiệu quả của nó
cũng đã được thử thách qua thời gian với độ dài tính bằng thế kỷ. Và theo lô-gíc,
không thể chuyển sang kinh tế thị trường mà lại không chấp nhận hình thức tổ
chức kinh tế chủ yếu đã tạo ra chính bản thân nó.Để có khả năng hướng nền kinh tế
SVTH: Nguyễn Bảo Ngọc.Lớp TM3.K32 - Trang5 -
GVHD:Th.s Lữ Lâm Uyên
đi theo những mục tiêu đã định, Nhà nước rất cần có thực lực sức mạnh kinh tế của
mình. Đặc biệt là trong trường hợp sử dụng các doanh nghiệp nhà nước, khi mà
việc gia tăng số lượng loại công cụ này chưa hẳn đã làm cho chính nó mạnh hơn.
Như vậy, về phương diện học thuật, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, trên
quan điểm của kinh tế thị trường, việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay có ý nghĩa
như là một trong những biểu hiện bằng hành động thực tiễn của sự nhận thức lại về
bản chất của tính chất xã hội hóa của sản xuất; rằng đó là quá trình chuyển đổi hình
thức xã hội hóa sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh trong khuôn khổ của cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang dạng công ty cổ phần (trong đó có loại tuyệt đối
100% cổ phần của Nhà nước) thích hợp với khuôn khổ của kinh tế thị trường.
3)Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa:
Áp dụng đối với công ty Nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ

của Bộ Tài chính
6)Chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động sau CPH:
a.Doanh nghiệp sau khi CPH được hưởng các ưu đãi:
1. Được hưởng ưu đãi như đối với doanh nghiệp thành lập mới theo quy định
của pháp luật về khuyến khích đầu tư mà không cần phải làm thủ tục cấp chứng
nhận ưu đãi đầu tư.
Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện niêm yết trên thị trường chứng
khoán thì ngoài các ưu đãi trên còn được hưởng thêm các ưu đãi theo quy định của
pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
2. Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền
quản lý và sử dụng của doanh nghiệp cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổ
phần.
3. Được miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi chuyển từ
công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
4. Được duy trì các hợp đồng thuê nhà cửa, vật kiến trúc của các cơ quan
Nhà nước hoặc được ưu tiên mua lại theo giá thị trường tại thời điểm cổ phần hoá
để ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh.
5. Được hưởng các quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai trong
trường hợp giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá đã bao gồm cả giá trị quyền sử dụng
đất.
6. Được tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ
chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế như đối với công ty nhà nước.
7. Được duy trì và phát triển Quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như: các công
trình văn hóa, câu lạc bộ, bệnh xá, nhà điều dưỡng, nhà trẻ để đảm bảo phúc lợi cho
người lao động trong công ty cổ phần. Những tài sản này thuộc sở hữu của tập thể
người lao động do công ty cổ phần quản lý.
8. Sau khi công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, nếu do nhu cầu
tổ chức lại hoạt động kinh doanh, thay đổi công nghệ dẫn đến người lao động ở
công ty nhà nước chuyển sang bị mất việc hoặc thôi việc, kể cả trường hợp người
lao động tự nguyện thôi việc thì được giải quyết như sau:

Cổ phần hóa là nội dung quan trọng của Đổi mới Sắp xếp Doanh nghiệp Nhà
nước. Từ năm 1992 đến nay qua các Nghị định 28, 44. và hiện nay đang thực hiện
là Nghị định 64/2002/NĐ-CP, chính sách cổ phần hóa ngày càng được bổ sung đầy
đủ nhằm thực hiện các mục tiêu đa dạng hóa sở hữu tạo ra loại hình quản lý hiệu
quả, huy động vốn của xã hội và tạo điều kiện cho người lao động làm chủ thực sự
doanh nghiệp với tư cách vừa là chủ sở hữu vừa là người lao động.
Nghị quyết 9 đã đề ra:
Tiếp tục sắp xếp đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực
doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa mạnh hơn nữa… Đẩy nhanh tiến
độ cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp cần cổ phần hóa kể cả một số
Tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ
khí, hóa chất, phân bón, cement, xây dựng, vận tải đường bộ, đường hàng không,
hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… và hoàn thiện, mở rộng nhanh hoạt
động của Thị trường chứng khoán để sớm trở thành kênh huy động vốn có hiệu
quả cho đầu tư và phát triển. Khuyến khích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp,
nhất là các doanh nghiệp lớn của Nhà nước hoạt động có hiệu quả chuyển thành
Công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu, trái phiếu tham gia thị trường chứng khoán.
SVTH: Nguyễn Bảo Ngọc.Lớp TM3.K32 - Trang8 -
GVHD:Th.s Lữ Lâm Uyên
Mở rộng quy mô cổ phần hóa và không cổ phần hóa khép kín trong nội
bộ doanh nghiệp chính là tinh thần xuyên suốt trong chủ trương đổi mới cơ chế,
chính sách về cổ phần hóa từ nay trở đi.
Dự thảo về chính sách đổi mới thay thế Nghị định số 64/2002/NĐ-CP
về cổ phần hóa hiện nay thay đổi theo hướng sau:
_Đặt thêm mục tiêu: Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị
trường, gắn việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, khắc phục tình
trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
- Mở rộng đối tượng cổ phần hóa bao gồm các Tổng công ty Nhà nước kể
cả các ngân hàng thương mại Nhà nước và các tổ chức tài chính Nhà nước.
- Chính phủ ban hành Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg về tiêu chí, danh

động kinh doanh năm trước có lãi) hoặc điều kiện để được niêm yết cổ phiếu (vốn
điều lệ trên 5 tỷ đồng, 2 năm liên tục trước đó có lãi…).
Chỉ thị số 20/2004/CT-UB của Ủy ban nhân dân Thành phố đã giao Ban Đổi
mới Quản lý doanh nghiệp Thành phố phối hợp với Trung tâm giao dịch chứng
khoán Thành phố tổ chức tập huấn, khuyến khích các doanh nghiệp đủ điều kiện
tham gia Thị trường chứng khoán, chọn một số doanh nghiệp cổ phần hóa thí điểm
bán cổ phần lần đầu ở Trung tâm giao dịch chứng khoán.
2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục:
Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghi
nhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện còn
chậm.
CPH đã tạo ra loại hình DN nhiều chủ sở hữu bao gồm Nhà nước, công nhân
viên trong DN và cổ đông ngoài DN. Sự đa dạng về sở hữu mang lại sự đa dạng về
vốn, huy động được nguồn vốn đang nằm trong các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội
vào sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy quy mô vốn của một DN được tăng lên, trong
khi Nhà nước lại tránh được tình trạng đầu tư dàn trải, nhỏ lẻ vào tất cả các ngành,
lĩnh vực kinh tế; từ đó thu lại được một phần vốn để đầu tư vào những ngành, lĩnh
vực then chốt và các mục đích khác cần thiết hơn.
Thông qua CPH các khoản nợ xấu, tài sản không sử dụng được trong sản
xuất kinh doanh của DN (hàng tồn kho lâu ngày, kém, mất phẩm chất, máy móc
thiết bị hư hỏng, hết khấu hao...) được xử lý nên đã làm lành mạnh tình hình tài
chính của DN, qua đó mở ra cơ hội phát triển cho DN.
CPH cũng đã tạo nên một cơ chế quản lý mới cùng đội ngũ cán bộ quản lý
thích nghi hơn với cơ chế thị trường. Những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõ
rệt hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN CPH trên tất cả các chỉ tiêu chủ yếu:
về vốn, doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, số lượng lao động và thu nhập của lao
động, cổ tức. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy: vốn bình quân một DN tăng từ 24
tỷ đồng (2001) lên 63,6 tỷ đồng (2004); có tới 92,5% số DN được điều tra cho rằng
có lãi, lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 149,8%, lợi nhuận sau thuế tăng bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status