Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần I: lời mở đầu
Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nớc theo h-
ớng xã hội chủ nghĩa và những kinh nghiệm thu đợc qua quá trình chỉ đạo điều
hành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xác định đợc rằng cải cách doanh
nghiệp Nhà nớc hoạt động có hiệu quả hơn.
Trong nhiều năm Đảng và Nhà nớc ta đã kiên trì tập trung tiến hành
công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp Nhà nớc và đã đạt đợc một số két
quả nhất định nh giảm mạnh số lợng doanh nghiệp Nhà nớc, nâng quy mô vốn
bình quân, giảm bớt đợc sự tài trợ của ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bớc đầu đã phát huy đợc quyền sản
xuất kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính
vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên do đặc điểm và thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc của nớc ta
việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc vẫn còn phải tiến hành một cách
thận trọng và lâudài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp trong cả
lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt đợc kếtquả mong
muốn.
Hiện nay, bên cạnh những khó khăn chủ quan xuất phát từ nội bộ nền
kinh tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp
tục lan rộng và theo chiều sâu, cũng sẽ đồng thời ảnh hởng theo chiều hớng
xấu đến nền kinh tế nớc ta. Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trơng
nêu cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát
triển đất nớc một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trớc
mắt mà cho cả tơng lai lâu dài.
Chính phủ đã có chỉ thị số 20/Ttg ngày 21-4-1998 trong đó đã đề ra ch-
ơng trình, kế hoạch cụ thể khai thực hiện và quyết tâm thông qua đợt sắp xếp
này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp hợp lý, mạnh đợc quản lý tốt, mà
trong đó cổ phần hoá là một trong những nội dung quan trọng của quá trình
đổi mới sắp xếp doanh nghiệp Nhà nớc. Sau đây tôi xin trình bày một số nội
dung quan trọng mang tính cấp thiết và những biện pháp để thực hiện quá trình
hợp với nền kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc yêu cầu của kinh doanh hiện đại.
2
2. Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc trong
giai đoạn hiện nay
Theo đề án thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc sang công
ty cổ phần ban hành theo quyết định 202- HĐBT của chủ tịch HĐBT (nay là
thủ tớng Chính phủ) thì mục tiêu của cổ phần hoá bao gồm:
- Chuyển một phần quyền sở hữu về tài sản của Nhà nớc
thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Huy động một khối lợng vốn nhất định ở trong và ngoài n-
ớc để đầu t cho sản xuất kinh doanh.
- Tạo điều kiện để ngời lao động thực sự làm chủ doanh
nghiệp.
Với ba mục tiêu đợc nêu ra trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nớc của Chính phủ có thể thấy rằng vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong các doanh nghiệp Nhà nớc cần phải đợc giải quyết một cách cơ bản. sự
lựa chọn cho giải pháp cổ phần hoá là con đờng hiệu quả để giải quyết mộtc
cách cơ bản này đồng thời tạo ra mô hình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền
kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc các yêu cầu kinh doanh hiện đại - đó là công
ty cổ phần. Tuy nhiên nếu thực hiện đợc các mục tiêu trên sẽ tạo điều kiện
thực hiện các mục tieu khác nh: giảm gánh nặng trợ cấp từ ngân sách Nhà nớc,
thu hút đợc các nguồn vốn đầu t trong nớc và ngoài nớc để đổi mới công nghệ
và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng, hình thành từng bớc thị trờng chứng
khoán và các sở giao dịch chứng khoán.
Mô hình công ty cổ phần đã đáp ứng đợc một cách khá lý tởng sự tách
biệt giữa 2 mặt sở hữu: giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng ( hay quyền kinh
doanh) trong doanh nghiệp, là mô hình hữu hiệu để huy động và sử dụng vốn
đầu t cũng nh di chuyển linh hoạt các nguồn vốn sang lĩnh vực khác nhau, theo
yêu cầu phát triển trong nền kinh tế thị trờng, là nơi lựa chọn các cơ hội đầu t
ra các mô hình công ty cổ phần trong đó cổ phần của Nhà nớc chiếm những tỷ
lệ khác nhau. Về cơ bản sẽ đi đến hai loại: công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nớc t
nhân và Công ty cổ phần t nhân cũng giống nh ở các nớc số doanh nghiệp Nhà
nớc ở nớc ta đó là mô hình và phơong thức đổi mới hữu hiệu để đặt các DNNN
trên cơ sở thị trờng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thòi
Nhà nớc vẫn thực hiện đợc sự kiểm soát và điều tiết định hớng hoạt động nền
kinh tế. Đây thực sự là một xu hớng khách quan trong quá trình cổ phần hoá
các doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta.
4
II. Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN của một số nớc
Để có thể hình dung những vấn đề gì đợc đặt ra và giải quyết trong quá
trình cổ phần hoá DNNN chungs ta sữ đi sâu xem xét kinh nghiệm của một số
nớoc sau.
Xem xét những vấn đề cụ thể thông qua khảo cứu các trờng hợp cổ phần
hoá DNNN của nhật bản và Hàn Quốc vì có sự tơng đồng và tiêu biểu cho các
nớc có những điều kiện quan niệm kiểu châu á.
1. Quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Nhật Bản
Giống nh các nớc t bản khác, Nhật Bản cũng có khu vực các DNNN sở
hữu toàn phần hay từng phần của Nhà nớc. Đến năm 1985 khi bớc vào quá
trình cổ phần hoá rộng khắp ỏ Nhật Bản khu vực này có khoảng 120 DNNN
lớn thuộc trung ơng và gần 1000 DNNN thuộc địa phơng, chiếm 11% t bản cố
định và 9,2 tổng số lao động trong toàn bộ nền kinh tế.
Các doanh nghiệp Nhà nớc có 100% vốn gồm các doanh nghiệp trực
thuộc Bộ hoặc các tổ chức tự quản địa phơng; loại DNNN có một phần vốn
góp dới hình thức Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nớc t nhân
Quá trình cổ phần hoá DNNN ở Nhật Bản có một phong canchs riêng so
với các nớc tây âu. Đầu những năm 1980 ở Nhật Bản đã thành lập uỷ ban lâm
thời trực thuộc thủ tớng. Nhiệm vụ của uỷ van này là nghiên cứu tình hình hoạt
động và phát triển khu vực kinh tế Nhà nớc đề xuất các vấn đề về cổ phần hoá
và những kiến nghị về giải pháp để thay đổi sự can thiệp của Nhà nớc. Uỷ ban
NTT thành Công ty cổ phần cho phép Công ty đợc quyền tự chủ tiến hành
những cải cách về tổ chức nh áp dụng hệ thống các chi nhánh tự chủ, mở rộng
mạng lới tiêu thụ sản phẩm bằng việc xây dựng các Công ty nhánh và khai
thjác các hình thức dịch vụ mới sắp xếp và tổ chức lại ccs chi nhánh và các
viện nghiên cứu khoa học công nghệ, áp dụng các nguyên tắc trả theo khả
năng . ngoài ra thi hành các biện pháp giảm chi phí nh tổ chức lại lao động hợp
lý và tinh giảm chế biến đợc 6000 công nhân; tiến kiệm vốn đầu t bằng việc
mua sắm các thiết bị có hiệu quả cao nh tổ chức mạng lới dịch vụ thông tin
hợp lý
theo luật pháp thành lập Công ty việc cổ phần hoá Công ty NTT phải có
một phần ba tổng số vốn của Công ty (khoảng 780.000 tỷ yên) thuộc sở hữu
chính phủ, số còn lại đợc bán cho các đối tợng t nhân. Trong các năm 1986-
1988 với 3 đợt phát hành Chính phủ đã bán đợc 5,4 triệu cổ phần trong tổng số
16,5 triệu cổ phần tơng đơng khoảng 35% tổng số cổ phần củ Công ty NTT
nhờ việc bán này Nhà nớc đã thu về 1.200 tỷ yên. nếu đem so sánh ngân sách
Nhật Bản trong năm tài chính 1991 khoảng 70.000 tỷ yên, thì nó chiếm
6
khoảng 15% ngân sách. Số tiền này dùng thanh toán các khoản nợ Nhà nớc trả
nợ cho các hoạt động công cộng và kích thích hoạt động kinh doanh t nhân.
ngoài ra, chính phủ còn có nguồn thu nhập dới hình thức lợi tức twf các cổ
phần của mình trong Công ty NTT, cha kể một khoản thuế tawng do hoạt động
kinh doanh có hiệu quả của Công ty.
Nhờ việc bãi bỏ các quy định độc quyền và tiến hành cổ phần hoá để
chuyển Công ty NTT sang hình thức Công ty côt phần đã thúc đầy chúng tôi
đầu t mạnh hơn trơcs: năm 1988 là 1.713 tỷ yên, năm 1989 là 1.736 tỷ yên và
năm 1990 là 1823 tỷ yên. điều này gián tiếp góp phần tácđộng đến việc phát
triển mạnh mẽ Công ty và tăng trởng chung của đất nớc mà không phải dựa
vào nguồn vốn tài trợ của ngân sách.
2. Quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Hàn Quốc.
Khu vực kinh tế Nhà nớc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát
Vận tải, kho tàng, thông tin 24,5 21,6 13,2 5,6 28,9
Dịch vụ tài chính bất động sản 14,4 16,2 19,2 19,1 11,2
Dịch vụ dân sự, cá nhân và xã hội 0,4 1,2 1,,2 1,2 1,2
Tổng số 100 100 100 100 100
Trong những năm 1970 các xí nghiệp Nhà nớc trong ngành chế tạo
chiếm trên dới 40% tổng sản phẩm của cả khu vực kinh tế Nhà nớc còn trong
các ngành thuộc hạn tầng cơ sở nh điện nớc, vận tải, thông tin liên lạc, dịch vụ
tài chính và bảo hiểm khoảng 54% . Đến năm 1986 tỷ trọng của ngành công
nghiệp chế toạ giảm suống còn 15,8% còn tỷ trọng các ngành hạ tầng cơ sở đã
tăng lên 71,2% đặc biệt ngành điệnm khí đốt, nơcs chiếm 31,1%, ngành vận
tải thông tin liên lạc 28,9%
Sự thay đổi trong cơ cấu các lĩnh vực hoạt động của khu vực kinh tế Nhà
nớc liên quan một phần đến quá trình t nhân hoá và cổ phần hoá của Chính phủ
nhằ kích thích việc chuyển mạnh nền kinh tế hoạt động trên cơ sở thị trờng.
Ngay từ những năm 1986-1973, Chính phủ đã thực hiện việc cổ phần hoá 11
DNNN trong đó có hãng hàng không đầu tiên, Công ty thép Inchon, Ngân
hàng thơng mại Triều tiên. phần lớn các doanh nghiệp trên hình thành từ quá
trình quốc hữu hoá nên Chính phủ muốn cải tổ thành các xí nghiệp này hoạt
động có hiệu quả bằng cách bán các côt phần không hạn chế của mình cho các
hãng t nhân và các tổ chức tài chính.
Trong những năm 1981-1983, Chính phủ đã thực hiện chơng trình cổ
phần hoá lần thứ hai nh là một bộ phận của thực hiện chính sách đẩy mạnh nền
kinh tế hớng theo thị trờng. Trong thời kỳ này Chính phủ đã bán cổ phần của
mình ở 6 doanh nghiệp Nhà nớc và 4 tổ chức tài chính thông qua bán đấu giá
công khai. Số tiền thu đợc qua các đợt cổ phần hoá đều đợc Chính phủ đầu t
8
vào các xí nghiệp xét thấy cần phải đợc kiểm soát để điều tiết nền kinh tế đạt
đợc sự tăng trởng nhanh và ổn định.
Chơng trình cổ phần hoá toàn dân các doanh nghiệp Nhà nớc lớn nên
giứ vị trí độc quyền, đang ssợc sự quan tâm của nhiều nớc Nớc Anh đã có
9
kinh doanh hạn chế sự can thiệp của Chính phủ bằng những mệnh lệnh quan
liêu làm phơng hại đến hiệu quả của doanh nghiệp đồng thời điều này đợc coiu
nh chiến lợc nhằm ngăn ngừa những bất đồng có thể xãy ra của gới lao độg và
các đảng phái chính trị ủng hộ ngời lao động trong quá trình cổ phần hoá
Thứ 4: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp đợc
cổ phần hoá hoàn toàn vì chúng là những công ty lớn có vị trí chiến lợc trong
công nghiệp và trong tiêu dùng công cộng của xã hội. Trong các doanh nghiệp
thực hiện cổ phần hoá
Toàn dân Chính phủ vẫn giữ vai trò cổ đông đa số những giá cổ phiếu
trên thị trờng chứng khoán sẽ đóng vai trò nh một chỉ bảo và gây ra sức ép
đáng kể đối với việc quản lý hiệu quả các doanh nghiệp này.
Thứ 5: với quá trình cổ phần hoá
Toàn dân Chính phủ muốn thức đẩy sự phát triển vững chắc của thị tr-
ờng chứng khoán trong nóc tạo điều kiện cho quá trình phân phối vốn một
cách hợp lý, hiệu quả trong các khu vực, các ngành kinh tế của đất nớc
Thứ 6: Một mục tiêu quan trọng nữa của chơng trình này là ngn ngừa
khả năng gia tăng tập trung quyền lực của một vài nhóm kinh doanh lớn nếu
các doanh nghiệp Nhà nớc quan trọng này nằm trong tay các nhóm t nhân có
nguồn lực và sức mạnh tài chính chi phối.
3. Một số điểm rút ra từ kinh nghiệm cổ phần hoá ở các nớc trên thế giới
Kinh nghiệm cổ phần hoá ở các nớc trên thế giới có thể gợi ý một số vấn
đề có tính chất chung cho quá trình tiến hành cổ phần hoá Các doanh nghiệp
Nhà nớc ở nớc ta.
Thứ nhất: Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá
Sự triển khai có tính chất toàn cầu quá trình cổ phần hoá Có tính chất
mạnh mẽ từ những nam 80 đến nay đã chứng tỏ rằng hầu hết các Chính phủ
đều thấy sự cần thiết phải xem xét và xác lập lại mối quan hệ giữa khu vực
kinh tế Nhà nớc và khu vực kinh tế t nhân theo hớng giảm bớt mức độ sở hữu
và kiể soát trực tiếp của Nhà nớc giannhf sự điều tiết mạnh mẽ hơn cho cơ chế
quan trọng nêu trên đã buộc các nớc này tiến hành cổ phần hóa với những ph-
ơng pháp đặc thù và quá trình phải diễn ra lâu dài và phức tạp hơn nhiều so với
các nơvs t bản phát triển. Cùng với việc tiến hành cổ phần hóa, các nớc này
đồng thời phải thực hiện quá trình chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế và các doanh
nghiệp hoạt động trên quan hệ thị trờng tức là khuyến khích cạnh tranh và th-
ơng mại hoá toàn bộ các nhân tố sản xuất.
Trong những điều kiện nh vậy, các tổ chức Ngân hàng, các quỹ tín dụng
hết sức đợc coi trọng vì chúng đóng vai trò đắc lực với t cách là tổ chức tài
chính trung gian hỗ trợ quá trình Cổ phần hoá ở các nớc này.
11
Quan niệm về vai trò và các lĩnh vực cần đợc khu vực kinh tế Nhà nớc
nẵm giữ cũng nh hình thức tổ chức các doanh nghiệp này cũng khác nhau tuỳ
theo đặc điểm của mỗi nớc. ở các nớc t bản phát triển và một số nớc đang phát
triển khu vực kinh tế Nhà nớc chiếm tỷ trọng thấp và các doanh nghiệp Nhà n-
ớc và các doanh nghiệp Nhà nớc tồn tại dới hình thức công ty cổ phần hỗn hợp
Nhà nớc, t nhân hoạt sống trên cơ sở thị trờng chiếm đa số, nên quá trình Cổ
phần hoá các doanh nghiệp này cũng đồng thời là quá trình Nhà nớc bố trí lại
cơ cấu sở hữu và các lĩnh vực cần nắm giữ. Bằng việc dùng số tiền bán cổ phần
để tham dự vào Công ty cổ phần thuộc các lĩnh vực chiến lợc cần đợc kiểm
soát và trợ giúp, Nhà nớc đã thực hiện chuyên môn hoá linh hoạt của đồng thời
hai quá trình đa dạng hoá sở hữu bằng hình thức Cổ phần hoá và Nhà nớc
hoá. Điều này góp phần thực hiện cơ cấu sở hữu lại chế độ sở hữu giữa Nhà n-
ớc với t nhân để xácđịnh mỗi tơng quan hợp lý giữa khu vực kinh tế Nhà nớc
và khu vực kinh tế t nhân trong nền kinh tế thị trờng hỗn hợp. Trong khi đó ở
đa số các nớc đang phát triển và các nớc đông Âu, khu vực kinh tế Nhà nớc
chiếm tỷ trọng lớn và số lợng doanh nghiệp Nhà nớc 100% vốn chiếm hầu nh
tuyệt đối nên quá trinhf Cổ phần hoá t nhân hay công ty cổ phần hỗn hợp Nhà
nớc t nhân để phù hợp với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng ở các n-
ớc này.
Nh vậy, ở Việt Nam cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù về
ra hoặc uỷ quyền cho một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo và giải
quyết toàn bộ các vấn đề đmr bạ thành công của chơng trình Cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta.
Thứ 4: Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá:
Việc khảo cứu ở các nớc cho thấy, cổ phần hoá diễn ra nh một quá trình
gồm nhiều giai đoạn: chuẩn bị các điều kiện về mặt tổ chức: lựa chọn các mục
tiêu phơng pháp thực hiện kiểm soát và điều chỉnh. Trên thực tế khôngthể có
sự phân định rõ rệt, chắc chắn giữa các giai đoạn. nhiều công trình nghiên cứu
đều cho rằng việc quan niệm Cổ phần hoá nh một quá trình với nhiều gại
đoạn có ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiến.
- Nó truyền đạt một cách rõ ràng và dễ hiểu những bọn pháp và nhiệm
vụ cơ bản phức tạp đến những ngời còn cha quen với Cổ phần hoá.
- Nó cho phép các nhà phân tích hoạch định và phối hợp chính sách l-
ờng định đợc những gì sẽ xãy ra trong giai đoạn hiện kế tiếp.
- Nó cho thấy cần phải gạt bỏ những ảo tởng nóng vội muốn làm tất cả
trong một lúc của những ngời cực đoan cấp tiến và khuyến khích tính thận
trọng với các giải pháp trình tự phù hợp đối với một công việc còn cha quen
với các quan chức Chính phủ
13
Quá trình vừa làm vừa điều chỉnh và hoàn thiện trong công việc này tỏ
ra thích hợp với cả Chính phủ đang cần thời gian để nắm bắt và kiểm soát cũng
nh công chúng đang cần có thời gian để tin vào sự ổn định lâu dài về chính
sách của Chính phủ. Riêng đối với nhiều nớc đang phát triển và Đông Âu, nơi
mà các điều kiện để cổ phần hoá còn rất thiếu nh kinh tế thị trờng cha phát
triển, thị trờng chứng khoán cha hình thành khu vực kinh tế t nhân còn rất yếu
ớt.. thì tính chất lâu dài, nhiều giai đoạn và phải thực hiện trong nhiều năm là
điều không thể tránh khỏi,. Tính quá trình càng đợc nhấn mạnh khi các Chính
phủ lu ý đến quan hệ tác động nhân quả giữa cổ phần hoá với các điều kiện
cho phép thực hiện để thúc đẩy tiến trình cải cách nền kinh tế. Mặt khác nó
còn bao hàm cả một quá trình đợc tiến hành thờng xuyên liên tục để di chuyển
sách về tự do hoá giá cả, lãi xuất, tỷ giá hối đoái để từng b ớc tạo lập những
điều kiện pháp lỹ cho sự ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô, góp phần thực hiện
thànhcông quá trình cổ phần hoá ở các nớcnày.
ở Việt Nam, để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc và đổi
mới cơ chế kinh tế nói chung không thể không có vấn đề về môi trờng pháp lý
và ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nớc cũng đã ban hành nhiều bộ luật nhằm xác
lập và hoàn thiện môi trờng pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế thị trờng có định hớng của Nhà nớc. Hiện nay, cần có sự bổ sung, sửa
đổi và ban hành các bộ luật quan trọng nh Luật công ty, Luật đầu t nớc ngoài,
Luật đầu t trong nớc, Luật doanh nghiệp Nhà nớc, Luật thơng mại, Luật phá
sản, luật lao động và bảo hiểm để từng b ớc tạo điều kiện cho quá trình cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam thực hiện có kết quả.
Thứ sáu: phí tổn của quá trình thực hiện cổ phần hoá.
Để thực hiện chơơng trình cổ phần hoá thành công, thực tiễn ở các nớc
đều cho thấy Nhà nớc cần phải chịu một khoản phí tổn nhất định. Điều này nói
lên sự khác nhau cơ bản giữa Nhà nớc và t nhân. Đối với t nhân, sau khi đã bán
cổ phần của mình để thu lợi và không còn trách nhiệm gì đối với doanh nghiệp
thì ngợc lại Nhà nớc vẫn phải quan tâm những vấn đề của doanh nghiệp sau
khi đã cổ phần hoá, cũng nh những vấn đề nảy sinh nh là hậu quả của quá trình
này. Khoản phí tổn đó đợc Chính phủ quan niệm và xử lý khác nhau. Nó có thể
là sự u đãi cổ phiếu khi bán hoặc những chi phí cho việc bảo hiểm trợ cấp thời
gian đào tạo lại nghề và tìm việc mới với những ngời lao động bị mất việc làm
trong các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá hoặc những chi phí cho bọ máy thẹ
hiện và cơ quan môi giới, t vấn, quảng cáo cho việc thực hiện quá trình này
Những khoản chi phí này canà thiết và có tác dụng đảm bảo sự ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội cho việc thực hiện một chơng trình có tầm quan trọng lâu dài
trong quá trình cải cách kinh tế ở các nớc.
15
Đối với nớc ta cũng cần có sự lỡng định những khoản phí tổn không thể
cắt giảm đợc, nhất là các ấn đề về việc làm mới và đào tạo lại bảo hiểm xã hội
không đáng có trong chính nộibộkhu vực kinh tế Nhà nớc. doanh nghiệp Nhà
16