Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần mở đầu
ông ty cổ phần là hình thức kinh tế mới xuất hiện khi nớc ta
chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Từ năm
1991 đén nay, ở nớc ta có rất nhiều công ty cổ phần đợc thành
lập. Chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc trong thời gian qua
đã hoàn thành cơ bản một phần các mục tiêu đã đề ra: vừa tăng đóng góp
thêm cho ngân sách Nhà nớc, vừa tăng thu nhập cho ngời lao động, vừa
tăng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời thu hút thêm vốn đầu t, góp phần
tạo công ăn việc làm cho ngời lao động. Sự tồn tại và phát triển của chúng
trong những năm qua đã chứng tỏ rằng sự hình thành các công ty cổ phần
ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, một xu hớng phù hợp với thời đại.
Là sinh viên việc nghiên cứu về công ty cổ phần và quá trình cổ phần hoá
ở Việt Nam là thật sự cấp thiết. Đề tài Phân tich quá trình cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam đã mở ra cho em cơ hội hiểu rõ
những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, vai trò của công ty cổ phần trong
nền kinh tế Việt Nam
C
Công ty cổ phần hình thành và phát triển ở Việt Nam là một vấn đề
có tính thời sự, mặt khác do trình độ còn hạn chế nên trong khuôn khổ bài
viết này, tôi chỉ nêu lên một số vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, tóm lợc
quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam trong thời gian qua và một số biện pháp
nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ở nớc ta. Bài viết này đợc hoàn thành
dới sự hớng dẫn tận tình của thầy cô giáo và sự giúp đỡ của th viện trờng
về nhiều tài liệu bổ ích.
Phần nội dung của bài viết đợc bố cục thành 3 chơng chính.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng 1: "Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty cổ phần"
bàn về một số khái niệm cơ bản về công ty cổ phần
Chơng 2: "Thực trạng về công ty cổ phần ở Việt Nam. Vai trò
động giữa mệnh giá tối thiểu và tối đa.
Ngời chủ sở hữu cổ phiếu là cổ đông. Các cổ đông là chủ của công ty
và họ có quyền tham dự các đại hội cổ đông, hởng lợi tức cổ phiếu, chuyển
nhợng cổ phần, đầu phiếu.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong nền kinh tế thị trờng, công ty cổ phần là một hình thức kinh
doanh có t cách pháp nhân và các cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu
hạn trong phần vốn góp của mình. Vì vậy công ty cổ phần có đủ t cách
pháp lý để huy động lợng vốn lớn rải rác của các cá nhân trong xã hội.
Công ty cổ phần, ngoài việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn, còn có
thể đi vay nợ rồi trả lãi hoặc phát hành hối phiếu, tín phiếu và các giấy nợ
khác để thu hút vốn. Hình thức công ty cổ phần có sức hấp dẫn riêng mà
các hình thức khác không thể thay thế đợc. Đó là, thứ nhất, việc mua cổ
phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần mà còn hứa hẹn
mang đến cho họ một khoản thu nhập nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi
công ty làm ăn có hiệu quả. Thứ hai, các cổ đông có quyền tham gia quản
lý theo điều lệ của công ty và đợc pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho
quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn. Thứ ba,
cổ đông có quyền đợc u đãi trong vịêc mua những cổ phiếu mới phát hành
của công ty trớc khi chúng đợc bán rộng rãi cho công chúng.
Nh vậy, công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách quan hệ sở hữu khỏi
quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng. Từ
đó, nó tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu giữa một bên là đông đảo
quần chúng với một bên là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên
nghiệp sử dụng t bản xã hội cho các kế hoạch kinh doanh qui mô lớn.
Những ngời đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần không trực tiêp
đứng ra kinh doanh mà uỷ thác cho bộ máy quản lý của công ty. Trong đó,
Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị là hai tổ chức chính đại diện cho
quyền sở hữu của các cổ đông trong công ty, quyền sở hữu tối cao thuộc
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đóng góp đợc trên 30% ngân sách nhà nớc. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí và
tài sản cố định, đất đai theo giá thị trờng thì các doanh nghiệp nhà nớc
không tạo ra đợc tích luỹ. Những điêu trên cho phép khẳng định rằng khu
vực kinh tế nhà nớc kinh doanh kém hiệu quả.
Dẫn đến tình trạng trên, cơ cấu kinh tế và phơng thức quản lý lạc hậu là
một nguyên nhân cơ bản. Tình trạng sở hữu chung chung, vô chủ, duy trì
cơ chế quản lý hành chính bao cấp là những cản trở lớn của quá trình cải
cách các doanh nghiệp nhà nớc. Do đó, cải cách hệ thống các doanh
nghiệp nhà nớc theo hớng đa dạng hóa sở hữu, cải tiến quản lý và nâng cao
hiệu quả là việc làm cấp bách. Các doanh nghiệp nhà nớc cần phải nâng
cao hiệu quả kinh tế, nếu không sẽ không thể vơn lên giữ vai trò chủ đạo,
không thể hớng các thành phần kinh tế khác đi theo quĩ đạo xã hội chủ
nghĩa, dẫn đến mất ổn định xã hội. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc
là một trong những biện pháp cải cách các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
Vì vậy, việc hình thành các công ty cổ phần từ cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nớc là một xu hớng tất yếu.
Nớc ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nớc. Tuy nhiên công nhiệp hoá - hiện đại hóa đòi hỏi phải huy động và sử
dụng có hiệu quả cao mọi nguồn vốn trong và ngoài nớc, trong đó nguồn
vốn trong nớc đóng vai trò quyết định và nguồn vốn bên ngoài là quan
trọng. Tích luỹ vốn nội bộ nền kinh tế quốc dân đợc thực hiện trên cơ sở
hiệu quả sản xuất và lao động thặng d của của ngời lao động thuộc tất cả
các thành phần trong nền kinh tế. Muốn vậy phải ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ để hợp lý hóa sản xuất. Ngoài việc nghiên
cứu trong nớc, chúng ta cần phải nắm bắt đợc các thành tựu khoa học mới
của thế giới. Việc này đòi hỏi phải có sự đầu t lớn về vốn và thời gian. Cổ
phần hóa là một giải pháp tốt, vừa là cơ sở để tiếp cận công nghệ mới
trong thời gian ngắn vừa thu hút đợc đầu t với qui mô lớn từ nhiều nguồn
hỏi trên. Chính phủ không những có thể điều tiết hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp bằng cách khống chế số cổ phiếu bán ra hoặc
những biện pháp khác mà còn đợc hởng cổ tức từ kết quả kinh doanh của
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty. Tài sản của doanh nghiệp nhà nớc nhờ cổ phần hóa thu hồi lại sẽ
đợc phân bố cho những dự án quốc gia giàu tính khả thi hoặc đầu t vào
những ngành mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội quan trọng nhằm thúc
đẩy tăng trởng kinh tế bền vững, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nớc.
Hơn nữa, các công ty cổ phần dới quền điều hành của chủ nhân mới,
với động lực mới trong quản lý doanh nghiệp, phơng hớng hoạt động thay
đổi theo hớng lấy hiệu quả kinh doanh làm mục tiêu, không ngừng củng
cố sức mạnh cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ huy động thêm nhiều nguồn
vốn nhà rỗi từ nhiều tầng lớp trong xã hội. Thực tế đã chứng minh rất rõ
điều này. Vốn kinh doanh của công ty cổ phần cơ điện lạnh(Ree) tăng gần
3 lần, từ 16.295 triệu năm 1993 lên 49.921 triệu năm 1996. Năm tài chính
2000, tổng doanh thu của Ree đạt 299 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 1999,
lợi nhuận của công ty đạt 36,19 tỷ đồng. Ngay trong tháng 1/2001, công ty
cổ phần kho vận giao nhận ngoại thơng(Transimex Saigon) đạt doanh thu
4.183.306.187 đồng, lãi trớc thuế 407.936.836 đồng[11,7]10.
Các công ty cổ phần ở Việt Nam với khả năng tích luỹ vốn và thu hút
các nguồn đầu t khác nhau đã có thể dần dần đổi mới công nghệ - kỹ
thuật, đồng thời tổ chức cơ cấu lao động theo hớng hợp lý hóa đã làm cho
năng suất lao động của công ty tăng rõ rệt, sức sản xuất xã hội cũng tăng
theo. Điều này chứng tỏ rằng, cùng với sự phát triển của công ty cổ phần,
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất ở nớc ta đang đợc cải thiện. Công
ty cổ phần phát triển trong nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo ra một khối
lợng việc làm đáng kể cho ngời dân. Thu nhập của ngời lao động trong các
công ty cổ phần cao hơn khi còn là quốc doanh từ 1,5 đến 2 lần cha kể
Các doanh nghiệp nhà nớc phần lớn có qui mô nhỏ bé, cơ cấu phân tán,
biểu hiện ở số lợng lao động và mức độ tích luỹ vốn. Đến năm 1992, cả n-
ớc có trên 2/3 tổng số doanh nghiệp nhà nớc có số lợng lao động dới 200
ngời. Số lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nớc chiếm một tỷ trong
khá nhỏ trong tổng số lao động xã hội, khoảng 5 6%.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do đã đợc thành lập từ khá lâu, trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu nh-
ng chậm đổi mới, cho nên phần lớn các doanh nghiệp nhà nớc sử dụng
công nghệ lạc hậu so với các nớc từ 3 4 thế hệ. Có doanh nghiệp còn sử
dụng công nghệ đợc trang bị từ năm 1939 và trớc đó. Mãi đến sau năm
1986 thì một số doanh nghiệp nhà nớc(khoảng 18%) đợc đầu t mới. Chính
vì sự lạc hậu trong công nghệ mà khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng, các doanh nghiệp nhà nớc khó có thể cạnh tranh nổi ngay cả trong n-
ớc. Mặt khác, các doanh nghiệp nhà nớc tập trung chủ yếu ở các thành phố
lớn phía Bắc và phía Nam của đất nớc.
Đi liền với sản xuất kinh doanh kém hiệu quả là phơng pháp quản lý
lạc hậu và trình độ tổ chức thấp. Giám đốc trong doanh nghiệp nhà nớc tr-
ớc đây vừa giữ chức năng chủ sở hữu, vừa là ngời điều hành và họ giống
quan chức hành chính hơn là một nhà kinh doanh thực thụ. Tình trạng các
giám đốc, các nhà tổ chức và quản lý trong công ty nhà nớc là những ngời
không có kiến thức hoặc không đợc đào tạo một cách hệ thống khá phổ
biến.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp nhà nớc hầu
nh không có khả năng cạnh tranh và đổi mới công nghệ. Ngân sách nhà n-
ớc thì hạn hẹp. Các ngân hàng cho vay cũng phải có những điều kiện đảm
bảo nh là tài sản thế chấp, khả năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi
vốn. Các doanh nghiệp ở trong vòng luẩn quẩn, vốn không có nhng cũng
chẳng có cách nào để huy động.
2.3.2.Quá trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc