THùC TR¹NG §¤LA HãA ë VIÖT NAM
2.1. KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Đại hội Đảng VI (12/1986) được coi là bước ngoặt lịch sử trong tiến trình
phát triển kinh tế của xã hội nước ta. Từ sau đại hội Đảng VI, nền kinh tế chuyển từ
vận hành theo cơ chế chỉ huy, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 20 năm đổi mới, có thể nói nền kinh tế VN đã có
những bước tiến khởi sắc, đang vươn mình ra thế giới và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Trong một thời kỳ dài trước năm 1986, nền kinh tế nước ta nằm trong tình
trạng lạc hậu, tự cấp, tự túc, sức mua rất thấp. Nhà nước can thiệp vào mọi mặt đời
sống xã hội, quyết định các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô theo một kế hoạch
quy mô tập trung toàn quốc. Hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa áp dụng một
chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài
đều thông qua hệ thống độc quyền của nhà nước về ngoại thương và ngoại hối.
Chính sự can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung
cầu trên thị trường, nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch, kìm hãm sự phát triển của
nền kinh tế.
Các cuộc cải cách kinh tế bộ phận ở Việt Nam đã diễn ra từ đầu những năm
1980. Tuy nhiên mãi tới Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam thì chiến lược
đổi mới mới chính thức, toàn diện và sâu sắc. Đổi mới chính sách kinh tế, nhất
quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đổi mới hệ thống tài chính –
ngân hàng, đổi mới chính sách phát triển nông nghiệp, đặc biệt thực hiện hội nhập
khu vực và quốc tế, VN đã thực hiện nhất quán chính sách đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại: từ năm 1990 bình thường hóa quan hệ với Trung
Quốc, Hoa Kỳ, với các tổ chức IMF, WB, gia nhập ASEAN và thực hiện cam kết
AFTA, ký kết hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, là thành viên của APEC và WTO;
hệ thống luật pháp được hình thành thích hợp với kinh tế thị trường và ngày càng
hoàn thiện. Với công cuộc cải cách toàn diện và sâu sắc như vậy, nền kinh tế VN đã
đạt được những thành tựu đáng kể. Trong con mắt của các quốc gia, VN hiện lên là
một nền kinh tế mới nổi, trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên đây cũng chính là cơ hội để USD xâm nhập vào nền kinh tế VN,
và đã có những thời kỳ VN được nhìn nhận là “xã hội của những đồng đôla”.
phản ánh lượng ngoại tệ được gửi tại các NHTM mà chưa phản ánh được lượng
ngoại tệ trôi nổi trên thị trường và lượng ngoại tệ được cất trữ ở các hộ gia đình.
Trong đó lượng ngoại tệ trôi nổi trên thị trường rất khó kiểm soát, còn đối với
ngoại tệ tiền mặt, các hộ gia đình vẫn nắm giữ với số lượng lớn. Nguyên nhân là do
tâm lý sử dụng tiền mặt trong thanh toán và cất trữ đối với một số đông dân cư vẫn
còn diễn ra phổ biến. Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước (2002) lượng ngoại tệ
các hộ gia đình nắm giữ tăng từ 2,1 tỷ USD vào năm 1996 lên 8,5 tỷ USD năm
2001 trong đó 3,6 tỷ được gửi tại các NHTM. Tuy nhiên thống kê trên chưa thật sự
đầy đủ do đó chưa phản ánh chính xác tình trạng đôla hóa ở VN.
2.1.2. Các biểu hiện đôla hóa ở Việt Nam.
Thứ nhất là đôla hóa trong quảng cáo, niêm yết, thông báo giá hàng hóa,
dịch vụ. Hiện nay tình trạng quảng cáo, niêm yết, thông báo giá cả hàng hóa, dịch
vụ bằng ngoại tệ diễn ra phổ biến nhất là đối với những lĩnh vực kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có giá trị lớn. Những nơi bị kiểm soát gắt gao, chủ hộ kinh doanh lách
bằng cách không ghi giá song vẫn bán bằng USD. Ở những nơi tập trung nhiều
khách nước ngoài tới thăm quan mua sắm, những người bán hàng dù không niêm
yết giá bằng USD nhưng khi khách ngoại quốc hỏi họ vẫn phải nói giá bằng USD
bởi vì theo họ những người khách ngoại quốc không biết đúng giá trị của VND nên
khi xem hàng không biết đắt hay rẻ. Các công ty kinh doanh máy tính và linh kiện
máy tính cũng là một trong số những “đối tượng” vi phạm quy định niêm yết giá
nhiều nhất. Theo họ máy tính chủ yếu được nhập về từ nước ngoài bằng USD nên
bán ra bằng ngoại tệ thì tiện hơn. Hơn nữa niêm yết bằng ngoại tệ con số trên bảng
giá ít hơn, nếu ghi giá bằng VND khách hàng rất dễ bị ngợp trước các con số quá
nhiều. Ngoài ra các khách sạn vẫn niêm yết giá phòng và thực đơn bằng USD.
Thứ hai là đôla hóa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay trong các NHTM.
Mức độ đôla hóa này được đo lường bằng tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi
và tỷ lệ tín dụng bằng ngoại tệ trên tổng tín dụng trong hệ thống NHTM. Nhìn vào
thực tế quá trình đôla hóa ở VN, ta thấy từ năm 2001 trở về trước, đồng USD liên
tục tăng giá so với VND, đồng thời lãi suất USD trên thị trường tiền tệ quốc tế tăng
rất cao, giữa năm 2000 lên tới 6.5%/năm dẫn tới sự tăng lãi suất huy động USD của
USD năm 2000 lên 8.85 tỷ USD năm 2005. Số liệu mới nhất của Thời báo Sài
Gòn: tính đến hết năm 2006, tổng nguồn vốn huy động của NHTM và tổ chức tín
dụng khác trên địa bàn thành phố HCM đạt 259,705 tỷ tăng 37.5% so với cuối năm
2005 trong đó vốn huy động ngoại tệ đạt 85,675 tỷ chiếm 32.99% tăng 43% so với
năm 2005 và vốn huy động nội tệ đạt 174.030 tỷ chiếm 67.01% tăng 35% so với
năm 2005. Như vậy có thể nói mức độ đôla hóa nguồn vốn huy động và dư nợ cho
vay trong hệ thống NHTM ở VN hiện đang ở mức khá cao.
Thứ ba, hoạt động mua bán, trao đổi ngoại tệ diễn ra một cách tự do và công
khai trên thị trường ngầm (thị trường phi chính thức, thị trường chợ đen).
Trong Thông tư số 33/NH-TT ngày 15/3/1989 về hướng dẫn thi hành Điều lệ
quản lý ngoại hối đã nêu rõ: “Việc lưu thông ngoại tệ trong nước chỉ được thực hiện
thông qua ngân hàng và các tổ chức kinh doanh, dịch vụ được phép thu ngoại tệ.
Nghiêm cấm việc mua, bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trường ngầm”. Như vậy thị
trường ngầm là thị trường diễn ra hoạt động trao đổi, mua bán ngoại tệ không được
pháp luật công nhận. Sở dĩ sự tồn tại của thị trường ngầm làm tăng tình trạng đôla
hóa ở VN vì: NHNN luôn khuyến khích người dân bán ngoại tệ cho NHTM đồng
thời pháp luật VN có một số quy định hạn chế đối với những đối tượng được mua
ngoại tệ tại các NHTM nhằm hạn chế việc sử dụng rộng rãi ngoại tệ trên lãnh thổ
VN, nhưng do tỷ giá ở các NHTM luôn thấp hơn tỷ giá trên thị trường ngầm nên để
có lợi người dân đem ngoại tệ bán trên thị trường ngầm, bên cạnh đó những đối
tượng không đáp ứng được yêu cầu của các NHTM thì tiến hành giao dịch trên thị
trường ngầm, từ đó ngoại tệ được cung ra công chúng nằm ngoài sự kiểm soát của
NHNN. Ở VN, thị trường chính thức là các điểm giao dịch của hệ thống ngân hàng,
cửa hàng vàng bạc của các Doanh nghiệp Nhà nước. Còn thị trường ngầm tồn tại
dưới những hình thức sau: các cửa hàng kinh doanh vàng bạc đá quý đồng thời
kinh doanh mua bán ngoại tệ tiền mặt; Chuyển tiền kiều hối, chuyển tiền qua biên
giới không thông qua hệ thống ngân hàng dưới nhiều hình thức khác nhau; Các sạp
đổi tiền dọc biên giới nơi các hoạt động buôn lậu diễn ra; Các hoạt động mua bán
khác trong dân cư. Phương thức giao dịch mua bán chủ yếu trên thị trường ngầm là
phương thức trao tay. Đồng tiền giao dịch chủ yếu là USD, ngoài ra còn một số
hướng cầu lớn hơn cung trong khi tỷ giá mua của các NHTM đã tăng kịch trần và
họ không thể tự động điều chỉnh tăng tỷ giá. Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự tồn
tại của thị trường ngầm là: mặc dù thị trường ngoại hối chính thức đã hình thành
nhưng còn kém phát triển chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về giao dịch, kinh
doanh ngoại tệ của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là đối với các tầng lớp dân cư, các
doanh nghiệp tư nhân. Chính vì vậy để có ngoại tệ tất yếu họ phải giao dịch trên thị
trường ngầm.
Ngoài ra chừng nào các hoạt động kinh tế ngầm còn phát triển, thì chừng đó
nhu cầu ngoại tệ và các giao dịch về ngoại tệ trên thị trường ngầm còn tồn tại và
phát triển. Hoạt động kinh tế ngầm là các giao dịch bằng tiền mặt và không có hóa
đơn. Những giao dịch này được thực hiện không có sự kiểm soát của Nhà nước và
nhằm trốn thuế hoặc tránh để các cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện. Trong khi
đó theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối: “Người cư trú, người không cư trú có
trách nhiệm xuất trình các chứng từ theo quy định của tổ chức tín dụng khi mua,
chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ các giao dịch vãng lai và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các loại giấy tờ, chứng từ đã xuất trình
cho tổ chức tín dụng được phép”. Theo quy định này những giao dịch liên quan đến
ngoại tệ phục vụ cho các hoạt động kinh tế ngầm không thể được thực hiện qua các
tổ chức tín dụng. Tất yếu họ phải giao dịch trên thị trường ngầm để tránh sự kiểm
soát của các tổ chức tín dụng.
2.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÔLA HÓA Ở VIỆT NAM
Đôla hóa ở VN là hiện tượng USD được sử dụng rộng rãi, được công chúng
nắm giữ trong tích lũy, trong thanh toán thậm chí trong cả việc niêm yết, thông báo
giá cả hàng hóa, dịch vụ. Có thể đưa ra một số nguyên nhân dẫn tới tình trạng đôla
hóa ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất trong một thời gian dài tỷ lệ lạm phát của VND ở mức cao đã dẫn
đến sự mất lòng tin của công chúng đối với VND. Lạm phát là sự gia tăng mức giá
chung trong nền kinh tế. Lạm phát làm xói mòn giá trị thực tế của đồng tiền dẫn tới
chí phí trong việc sử dụng đồng tiền đó trong giao dịch cao, theo thời gian để mua
được cùng một đơn vị hàng hóa, dịch vụ người dân phải bỏ ra một lượng tiền nhiều
chung trong nền kinh tế.
Giai đoạn 95-04: Hiện tượng giảm lạm phát tương ứng 12.7% năm 1995
xuống 0.1% năm 1999 và hiện tượng giảm phát -0.6% năm 2000. Lạm phát tái xuất
0.8% năm 2001 và lên tới 9.5% năm 2004. Có một số nguyên nhân giải thích cho
tỷ lệ lạm phát cao vào năm 2004 là: VN chịu ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, giá
dầu trên thế giới tăng…tạo ra cú sốc về cung, lạm phát ở đây là lạm phát chi phí
đẩy. Tuy nhiên nếu nhìn vào những nước có cùng hoàn cảnh như nước ta: cũng