Thực tập công nhân
BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
Phần I
Nhiệm vụ được giao trong đợt thực tập
1. - Tìm hiểu cơ cấu bộ phận lãnh đạo, chỉ huy công trường bao gồm: số lượng, chức
năng, nhiệm vụ của từng người
- Các phòng ban: tài vụ, kĩ thuật, kế hoạch, vật tư………
- Nghiên cứu bản vẽ của công trình đang thực tập
2. Đi theo cán bộ kỹ thuật trực tiếp thi công ở công trường để theo dõi các công việc
mà kĩ sư, cán bộ kỹ thuật công trường giải quyết hàng ngày
3. Quan sát, kiểm tra, so sánh giữa thực tế biện pháp kĩ thuật và tổ chức thi
công so với lí thuyết đã học
4. Thực hành một số công tác thi công xây dựng đơn giản tại công trường dưới
sự chỉ đạo và theo dõi, hướng dẫn của cán bộ kĩ thuật công trường.
Phần II
Biện pháp an toàn lao động và vệ sinh môi trường
1. Mục đích:
Mục tiêu chính của đơn vị thi công công trình là phải đảm bảo tiến độ thi công,
tính mĩ thuật của công trình. Nhưng điều hết sức quan trọng là phải đảm bảo vệ sinh
môi trường và an toàn lao động.
An toàn lao động là một công tác rất quan trọng, nhằm nâng cao năng suất và
hiệu quả lao động, hạn chế rủi ro trên cơ sở đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động trong
sản xuất. Để thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, tất cả các cán bộ lãnh đạo quản
lí, cán bộ kĩ thuật, người sử dụng lao động và người lao động không những phải chấp
hành nghiêm chỉnh các chế độ, chính sách về bảo hộ lao động của Đảng và nhà nước,
các qui trình qui phạm, tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn lao động, an toàn phòng cháy
chữa cháy mà cần am hiểu những kiến thức khoa học về bảo hộ an toàn lao động
trong lĩnh vực xây dựng.
2. Công nhân làm việc trên công trường:
Do công trình có nhiều công tác thi công khác nhau, nên mỗi công việc cần có
các biện pháp an toàn lao động riêng. Trong công trường bố trí cán bộ kĩ thuật chịu
bao che kín.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 2
Thực tập công nhân
Quá trình thi công đảm bảo tránh nước thải, khói bụi độc hại ảnh hưởng đến
môi trường thi công. Công trường luôn đảm bảo thoáng và sạch sẽ.
Xe khi ra vào công trường phải được rửa sạch xe và lốp xe.
Cấm uống rượu trước và trong khi ra công trường , cấm vứt ném các dụng cụ
đồ nghề từ trên cao xuống
Cần có hành lang và hàng rào bảo vệ khi chiều cao > 2 m và phải có dây đeo
an toàn. Không nên thi công theo phương thẳng đứng cùng 1 lúc nhiều tổ thi công.
Không nên thi công trong điều kiện xấu về thời tiết.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 3
Thực tập công nhân
Phần III
Các công tác chuẩn bị và tiến hành xây dựng
Chương 1: Công tác nề
1. Xác định kiểm tra đường nằm ngang:
Dùng để xác định chiều sâu móng từ mặt đất thiên nhiên đến đáy hố đào, chiều
cao từng nhà, chiều cao cửa đi, cửa sổ
Trong công trình đường nằm ngang được đánh dấu bằng vạch sơn, thể hiện cốt
cao độ từ mốc chuẩn. Trên cốt 0.00 là (+) dưới là (-) các mốc cao độ phải được giữ
gìn cẩn thận suốt quá trình thi công. Bên ngoài nhà đóng cọc thép, bêtông hay gửi lên
công trình khác, trong nhà vạch lên tường, cột cách sàn 1m để xác định đường nằm
ngang dùng ống thuỷ bình bằng nhựa chất dẻo dài 15 đến 20m chứa đầy nước. Trong
thao tác phải giữ cho ống không gấp khúc, bẹp Hai đầu ống phải có 2 người cầm
giữ, một người đặt ống vào mức chuẩn, người kia vào chỗ cần vạch cao độ.
Chú ý:
ống nhỏ nước bị dính ướt nên bề mặt thường lõm xuống do đó phải thống nhất
cách vạch. Khi di chuyển cần bịt kín ống không cho nước thoát ra ngoài, ở nơi cần
vạch mốc cao độ ống được di chuyển lên xuống sau khi nước ngưng dao động thì mới
Thường bằng gỗ sản xuất theo kích thước từng bộ phận công trình. Khi tháo
không dùng cho bộ phận cùng loại.
Ván khuôn móng: Thường bằng tấm gỗ riêng lẻ liên kết thành mảng.
Ván khuôn tường: Dùng cho tường bể thang máy. Chiều cao lớn, kết cấu
mỏng, ổn định kém, thường bằng gỗ hoặc kim loại, có cấu tạo dạng mảng liên kết
bằng các nẹp.
Ván khuôn cột: Cấu tạo gồm 4 hay nhiều mảng ghép lại với nhau bằng nẹp
gỗ. Sau đó dùng gông giữ ổn định, số lượng được thiết kế theo chiều cao cột, tiết
diện, chiều dày ván. Phía chân cột có chừa cửa để vệ sinh, đầu cột chừa để ghép dầm.
Khi chiều cao lớn hơn 2,5m để cửa đổ bêtông.
Ván khuôn sàn, dầm: Để đổ bêtông toàn khối. Dầm gồm 3 mảng ghép lại,
dầm lớn hơn 60cm dùng thép giằng chống phình. Sàn ghép thành mảng đặt trên hệ xà
gồ bằng gỗ hay kim loại. Xà gồ được đỡ bằng hệ cột chống, số lượng xà, cột chống
được tính toán cho thuận lợi, với các hệ cột quá chiều cao phải có hệ giằng.
Ván khuôn luân chuyển:
Số lượng tấm ít, nối ít. Sau khi tháo nguyên hình mang đi công trình khác thi
công. Sử dụng ván khuôn luân chuyển phải có cột chống và dầm luân chuyển.
Trọng lượng một tấm không được vượt quá 70 Kg.
Cột chống tạo cơ sở lắp dựng ván khuôn. Cột chống phải ổn định, nhẹ, dễ thao
tác.
Cấu tạo gồm 3 phần: đầu cột, thân cột, chân cột.
Kiểm tra về tim cốt, cao độ, hình dáng, kích thước, khe hở, độ ổn định, an toàn lao
động.
Ván khuôn di động:
Giống ván khuôn luân chuyển nhưng sử dụng theo chu kì sang vị trí kế tiếp của
một công trình. Có ván khuôn di động lên cao và ván khuôn di đông theo phương
ngang.
3. Cột chống và sàn thao tác:
Cột chống và sàn thao tác cần ổn định, nhẹ, dễ di chuyển và tháo lắp. Phải
dùng được nhiều lần tăng giảm chiều cao dễ dàng. An toàn trong thi công, có thể
Tháo theo nguyên tắc cái nào lắp sau tháo trước.
Ván khuôn không chịu lực tháo trước chịu lực
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 6
Thực tập công nhân
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 7
Thực tập công nhân
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 8
Thực tập công nhân
Chương 3 : công tác thép.
1. Sản phẩm công tác cốt thép:
Thép thanh : l = 6 ÷ 11,7 m
Lưới thép.
Khung phẳng không gian.
Bản mã.
Thép trong bêtông cốt thép có nhiều loại, nhiều hình thức.
2. Gia cường cốt thép:
Gia cường cốt thép là hình thức làm cho thép tăng khả năng chịu lực. Kéo thép
trước để tăng cường khả năng chịu lực (phương pháp ứng suất trước).
Nguyên lí:
Khi cho thanh thép chịu cường độ vượt quá giới hạn chảy, ta sẽ được thanh
thép mới có cường độ lớn hơn thanh thép cũ.
Gia cường nguội cốt thép có nhiều cách bằng cách kéo, dập, chuốt dễ áp dụng
có hiệu quả, có thể tăng cường độ từ 1,7 đến 1,8 lần. Nhưng thường chỉ tăng độ bền
30%, độ giãn dài khi đó là 3 đến 8% làm tăng độ bám với bêtông lên 2 lần. Thường
áp dụng với nhóm A
1
và A
2
.
3. Gia công nắn thẳng, cắt uốn:
Đá có kích thước 1x2, 4x6, 2x4, mạt đá. Kích thước của đá được xác định theo
kích thước lỗ mắt sàng mà đá lọt qua.
Nước dùng cho công tác trộn bêtông phải là nước không cứng, nước máy càng
tốt, độ PH
tb
= 6 ÷ 7,5.
2. Thành phần cấp phối:
Cần xác định chính xác khối lượng bêtông sử dụng, mác bêtông để từ đó xác
định thành phần cấp phối nguyên liệu.
Độ sụt BT : đối với móng cọc khoan nhồi là 14 ÷ 16 cm
đối với dùng bơm là 8 ÷ 20 cm
Thời gian trộn + vận chuyển +đổ BT fải < 2h ; nếu quá 2h thì fải tăng 15% ÷ 20% xm
3. Trộn bêtông:
Trộn đều, đảm bảo thời gian, đảm bảo độ sụt.
Trình tự trộn bêtông bằng máy:
Cho máy quay không vài vòng trước khi trộn, mẻ đầu tiên cho nước trước sau
cho nguyên liệu, các mẻ sau cho nguyên kiệu trước sau đó cho nước. Công suất của
máy được xác định theo công thức:
P=
2
1
1000
K
VnK
(m
3
/giờ)
K
1
: Hệ số ảnh hưởng của BT, thường là K
Kiểm tra nghiệm thu cốt thép.
Hệ thống sàn thao tác phải đảm bảo an toàn chắc chắn và ổn định.
Đối với ván khuôn gỗ nhất thiết phải tưới nước (giảm ma sát giữa bêtông và
ván khuôn, tránh sự mất nước của bêtông). Với ván khuôn thép cần quét một lớp dầu,
tránh dính bêtông vào ván khuôn.
Kiểm tra khối lượng bêtông, tránh việc phải dừng thi công do thiếu bêtông
hoặc lượng bêtông thừa ảnh hưởng đến tính kinh tế.
Nguyên tắc đổ bêtông:
Chiều cao đổ không vượt quá 2,5 m, tránh phân tầng khi rơi tự do.
Đổ từ trên xuống. Sàn thao tác phải cao hơn kết cấu cần đổ. Khi đó tránh sự va
chạm vào cốt thép và ván khuôn dẫn đến sự sai lệch.
Đổ từ xa về gần vị trí cấp bêtông, tránh sự trùng đường đi lại trong quá trình
vận chuyển bêtông.
Các khối lớn cần phải đổ làm nhiều lớp, tuỳ theo loại đầm.
Mạch ngừng trong đổ bêtông toàn khối phải được bố trí ở nơi có lực cắt nhỏ,
nơi chuyển từ phương dọc sang phương ngang hoặc nơi có thay đổi tiết diện
Đầm bêtông:
Đảm bảo cho bêtông đặc chắc, tạo sự đồng nhất trong toàn khối bêtông.
Độ sụt của bêtông lớn hơn 6 cm, để đảm bảo mác thiết kế cần phải tăng 10 đến
15% so với định mức.
Tuỳ theo khối lượng để chọn cách đầm thủ công hay đầm máy. Đầm máy ta có
loại đầm dùi, đầm bàm, đầm cạnh (thường dùng vữa bêtông khô hơn phương pháp
đầm thủ công).
Đầm dùi: Đưa đầm vuông góc với bề mặt cần đầm. Nếu đổ nhiều lớp thì đầu đầm
phải đâm xuống lớp đầu từ 5 đến 10 cm đảm bảo sự liên kết giữa các lớp. Thời gian
đầm từ 5 đến 60 giây. Chiều dày lớp không lớn hơn chiều dài đầm. Khoảng cách 2 vị
trí đầm liên tiếp nhỏ hơn 2r
0
r
trước khi xây phải được sàng, rửa sạch bằng các dụng cụ rửa. Để kiểm tra cát
theo phương pháp thủ công ta nắm chặt một nắm cát lên tay sau đó bỏ ra nếu tay
sạch không có cát dính chứng tỏ cát khô và sạch.
Nước dùng để trộn vữa phải là nước mềm (nước máy là tốt nhất).
3. Chuẩn bị máy móc dụng cụ:
Công tác trộn vữa có thể thực hiện bằng máy hoặc thủ công bằng tay.
Trộn bằng máy:
Nhất thiết phải có máy trộn, chọn loại máy trộn có công suất đáp ứng nhu cầu thi
công, phù hợp với địa hình thi công. (thường là loại máy trộn có dung tích 250l
hoặc 20 m
3
/ ca). Cần phải tạo một sân nền vững chắc bằng phẳng cho máy làm
việc để vữa trộn có hiệu quả cao nhất.
Cần chuẩn bị hộc để đóng cát, đây là dụng cụ xác định chính xác lượng cấp phối
giữa các thành phần vật liệu. Hộc có thể đóng bằng gỗ hoặc dùng các dụng cụ
tương tự có bán sẵn nhưng cần phải xác định thể tích trước khi thi công đảm bảo
đủ lượng vật liệu không thừa không thiếu.
Trộn thủ công:
Chuẩn bị mặt bằng phẳng sạch sẽ chắc chắn, không bị thấm nước. Đong bằng
hộc hoặc thúng để đo thể tích cát và ximăng. Đầu tiên dàn cát phẳng đổ ximăng lên
trên trộn cho hỗn hợp khô đồng màu mới cho nước. Thao tác trộn phải đều tay,
thời gian đông kết của vữa là sau 1 giờ. Chất lượng vữa phụ thuộc yếu tố độ dẻo,
phân tầng, thời gian đông cứng, độ co ngót, dính kết Vữa ximăng pha thêm vôi
gọi là vữa tam hợp tăng tính linh động, có thể tăng thêm cát mịn không tăng nước
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 14
Thực tập công nhân
hoặc có thể dùng thêm 5% xà phòng: 50g xà phòng, 1 lít nước cho một bao ximăng
50 Kg.
Chú ý:
Khi vận chuyển vữa có thể phân tầng các phân tử mịn cát và ximăng tách rời
thích trước khi thi công.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 15
Thực tập công nhân
Chương 7 : công tác xây.
1. Dụng cụ:
Dụng cụ thích hợp sẽ cho năng suất caoXây thủ công phải có dao xây (loại dao
1 lưỡi, 2 lưỡi) hoặc bay. Ngoài ra phải có thước gỗ, thước nhôm kích thước 1,2 đến 2
m, nivô, dọi, dây để xác định sự cân bằng của khối xây.
2. Vật liệu:
Gạch xây dùng trong công tác xây cần đúng cường độ như trong thiết kế qui
định. Với những công trình quan trọng xác định cường độ gạch trên thí nghiệm.ngoài
ra còn có thể quan sát bằng mắt, gạch tốt là gạch đồng đều màu sắc không phân lớp,
vuông vắn, không cong vênh.
Xi măng đen mác 200, 250, 300, 400. Xác định qua nén mẫu thí nghiệm hình
lập phương. Ximăng không vón cục, thời hạn quá 3 tháng không nên sử dụng.
Cát không có tạp chất sét, á sét. Kiểm tra cát bằng cách nắm cát khô cho chảy
xuống tay không bẩn là cát sạch.
3. Yêu cầu khối xây:
Khối xây phải bền chắc, mặt xây phải ngang bằng, từng lớp xây phải ngang
bằng, thành xây phải thẳng đứng không lồi lõm, cong vênh, vặn vỏ đỗ, góc xây 90
o
.
Trụ vuông 4 mặt, không trùng mạch ở mạch đứng độ dày mạch vừa phải từ 8 đến 12
mm, mạch đứng so le 1/4 viên gạch
4. Kĩ thuật xây:
Kiểm tra vật liệu cát phải sạch, gạch cần nhúng qua nước tránh hiện tượng
gạch hút nước trong vữa khi xây.
Vữa xây phải dẻo đủ mác thiết kế. Công trình quan trọng phải có mẫu thí
nghiệm mác vữa. Không nên xây kèm nhiều gạch vỡ < 20% cho tường 330 và < 30%
cho tường 450. Xây tường để mỏ giật, bất đắc dĩ mới để mỏ nanh và mỏ hốc. Không
vữa mới.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 17
Thực tập công nhân
Trát trần:
Trước khi trát bổ xung những chỗ rỗ trên mặt trần bằng vữa ximăng cát không
dùng vữa vôi. Mặt trần sạch tưới nước ẩm sau 2 giờ mới trát.
Trát vòm cũng phải tưới nước trát 2 mặt trước, trát vòm sau.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 18
Thực tập công nhân
3. Kiểm tra:
Dùng thước tầm áp lên bề mặt tường tại những vị trí bất kì để xác định độ bằng
phẳng của tường.
Chương 9 : Công tác láng.
1. Láng nền :
Thường láng trên bề mặt bê tông gạch vỡ, sỏi, đá, bêtông.
Trước khi láng phải kiểm tra bề mặt cần láng về độ dốc, độ phẳng, vệ sinh bề
mặt. Tưới ẩm cho mặt lót, căn cứ vào độ cao dùng nivô làm mốc cữ (hay các cốt cao
độ đã đánh sẵn trên tường). Lấy độ dốc thoát nước, làm mốc láng giống mốc trát.
Dụng cụ láng giống dụng cụ trát nhưng thước cán và bàn xoa to hơn. Dùng trang để
cán vữa, láng từ góc ra giữa từ trong ra ngoài, xoa lùi từ trong ra, chỗ hút nước nhiều
xoa trước. Phải có ván lót chân tránh dẫm lên mặt vữa.
2. Láng mái :
Láng mái giống láng nền, cần cắt khe co giãn. Láng xong che đậy kĩ tránh mưa.
Tưới ẩm mặt láng 3, 4 ngày chống nứt mặt. Bề mặt không cần xoa nhẵn, nhưng
không được gồ ghề đúng độ dốc mái.
3. Kiểm tra công tác láng, trát:
Kiểm tra độ dính bám của vữa, dùng phương pháp gõ và nghe.
Bề mặt tường không được lồi lõm không có vệt nứt.
Dựa theo tiêu chuẩn.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 19
Cần ngâm gạch vào nước trong một giờ. Dùng nivô dọi đắp mốc thẳng đứng và
ngang, căng dây chuẩn để ốp, ốp từ dưới lên từ trái qua phải. Trát phẳng dùng nước
ximăng quét đều lên và dán gạch vào tường bằng tay, gõ nhẹ bằng búa gỗ.
Cố gắng không cắt gạch theo phương thẳng đứng, ốp từ trên xuống dưới.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 21
Thực tập công nhân
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 22
Thực tập công nhân
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 23
Thực tập công nhân
4. Kiểm tra công tác lát ốp:
Mặt lát:
Màu sắc hoa văn phải đúng.
Gạch không nứt mép, xước, bẩn.
Mạch phải đầy ximăng.
Gạch lát phải liên kết chắc với nền.
Chiều dày vữa lát nhỏ hơn 15mm. Dùng thước 3m để kiểm tra phẳng.
Mặt ốp:
Bề mặt gạch sạch không xước, nứt.
Chiều dày mạch không quá 2mm.
Mạch thẳng bề mặt phẳng.
Sinh viên : Nguyễn Thị Huyền Trang - Lớp: XDD47-ĐH1 Trang : 24
Thực tập công nhân
Chương 11 - Hạng mục đầm nèn sân tenis.
.1 Công tác đào đất.
+ đào là hạ cao trình mặt đất tự nhiên đến cao trình thiết kế.
+ để thi công đào có thể sử dụng biện pháp đào thủ công hoặc bằng máy móc.
Trên công trường sân tenis của khu VDL dùng cả 2 phương pháp đào, máy dùng đào
đất là loại máy đào gầu nghịch.
.2 Công tác san đất.