Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gươm - Pdf 13

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Bớc vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhng cũng nhiều thách
thức, xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra sôi động và
cấp bách.
Trớc xu hớng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may đợc coi
là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất
nớc. Mục tiêu chiến lợc và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện đờng lối
của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc,
đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về mọi mặt, không
ngừng tăng cờng sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao
động- vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nớc, cùng xu thế mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới. Công ty may
Hồ Gơm là một doanh nghiệp nhà nớc đã đợc cổ phần hoá trực thuộc Tổng
Công ty mayViệt Nam đang đứng trớc những cơ hội và thách thức lớn lao
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển
đòi hỏi Công ty phải xác định đợc cho mình những phơng thức hoạt động,
những chính sách, những chiến lợc cạnh tranh đúng đắn
Nhận thức đợc tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh cũng
nh mong muốn đợc đóng góp những ý kiến để Công ty may Hộ Gơm đẩy
mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian thực tập tại Công ty
may Hồ Gơm, em quyết định lựa chọn đề tài Một số giải pháp nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gơm để làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đợc kết cấu gồm 3 ch-
ơng:
Chơng I: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực
canh tranh.
Chơng II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ
Gơm

bất cứ một hoạt động nào của con ngời cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh.
Ví nh các quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao
đổi, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía
mình, để chiếm lĩnh những thị trờng có nhiều lợi thế và con ngời cạnh tranh
nhau để vơn lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên, môn
nghiệp vụ để những ngời dới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thế trong quan hệ với các đối tác. Nh vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình
thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô,
từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội. Điều này xuất phát từ một
lẽ đơng nhiên nớc ta đã và đang bớc vào giai đoạn phát triển cao về mọi
lĩnh vực nh kinh tế, chính trị, văn hoá, mà bên cạnh đó cạnh tranh vốn là
một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trờng, nó không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi ngời, bởi tự do là nguồn gốc dẫn
tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng
hoá phát triển. Bởi vậy để giành đợc các điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thờng xuyên động não,
tích cực nhạy bén và năng động phải thờng xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng
dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ
tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã cũ
kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có phơng pháp tổ chức quản lý có
hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho ngời lao
động. Thực tế cho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thờng ở đó biểu hiện sự
trì trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi
quy luật vận động của nền kinh tế thị trờng. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển hàng hoá các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu
thị trờng, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh tranh
không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn
cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lợng sản phẩm và chất
lợng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ

giai đoạn mới, một bớc ngoặt lớn, nền kinh tế thị trờng đợc hình thành thì
vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối
với doanh nghiệp mà còn đối với ngời tiêu dùng cũng nh nền kinh tế quốc
dân nói chung.
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh, tế cạnh không chỉ là môi trờng và động lực của sự
phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng
suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã
hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã
hội thông qua sự xuất hiện của nhứng sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời
sống của con ngời ngày càng đợc nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn
hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự
phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng. Tuy nhiên bên
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại
những mặt hạn chế nh cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu
nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm ăn
vi phạm pháp luật nh trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép
những mặt hàng mà Nhà nớc và pháp luật nghiêm cấm.
2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trờng thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và
đứng vững. Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến
lợc cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lợc ở cả tầm vi mô và vĩ
mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để
giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh
nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu ngời tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh
chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng nh dịch vụ kèm theo với mức giá phù

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng đợc nâng cao
về chất lợng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho lợi ích
của ngời tiêu dùng và của doanh nghiệp thu đợc ngày càng nhiều hơn. Ngày
nay các sản phẩm đợc sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nớc
mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nớc ngoài. Qua những ý nghĩa trên ta thấy
rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh
tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và
đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng
xã hội. Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của
nhà nớc để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực nh
cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn
thị trờng.
Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh đợc phân loại theo các hình thức khác nhau:
3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh đợc chia thàn ba loại:
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh diễn
ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mình. Ngời bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn ngời
mua muốn mua với giá thấp nhng chất lợng vẫn đợc đảm bảo và mức giá
cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa ngời mua và ngời mua: Là cuộc cạnh tranh trên
cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trờng mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc
này hàng hóa trên thị trờng sẽ khan hiếm, ngời mua để đạt đợc nhu cầu
mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức
độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những ngời mua, kết quả là giá cả
hàng hoá sẽ tăng lên, những ngời bán sẽ thu đợc lợi nhuận lớn trong khi
những ngời mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lợng, nhng trờng hợp này
chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra

có ít ngời mua và nhiều ngời bán khi đó khách hàng đợc coi là thợng đế, đ-
ợc chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những ngời bán sẽ không lôi
kéo đợc khách hàng về phìa mình. Trong thực tế có tình trạng độc quyền
xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền
hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát
triển sản xuất và làm tổn hại đến ngời tiêu dùng. Vì vậy phải có một đạo
luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà
kinh doanh.
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một
số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít ngời sản xuất. Lúc này cạnh
tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lợng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy mọi
doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ
phụ thuộc vào số lợng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ
cạnh tranh khác trên thị trờng. Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp
cũng sẽ gây ra những ảnh hởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của
doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp tham gia thị trờng này là những
ngời có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu t lớn. Do vậy việc thâm nhập vào thị
trờng của các đối thủ cạnh tranh thờng là rất khó.
3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại
sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu đợc lợi nhuận nh cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát
triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có
thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh
tế khác nhau nhằm đạt đợc lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh

phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng
xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu nh trớc kia giá
cả đợc coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhờng
chỗ cho tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm. Khi có cùng một loại sản phẩm,
chất lợng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn đợc nhu cầu của ngời
tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn. Nhất là trong nền kinh
tế thị trờng cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của ngời lao động
ngày càng đợc nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình,
cái mà họ cần là chất lợng và lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói rằng giá cả
là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá
cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho
phù hợp với mức thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và
của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo đợc hài hoà giữa chất l-
ợng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở
hiện tại và trong tơng lai thì nâng cao chất lợng sản phẩm là điều cần thiết.
Nâng cao chất lợng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay
đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu
dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất lợng sản phẩm
là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn.
Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu đợc ngày càng
tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp. Làm tăng lòng
tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm đợc coi là một vấn đề sống còn đối với doanh
nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đơng đầu đối
với các đối thủ cạnh tranh từ nớc ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lợng
hàng hoá dịch vụ không đợc bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với
doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị tr-
ờng dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác chất lợng thể
hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao

sau này chiếm đợc cả thị trờng rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng.
Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để
định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trờng.
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trờng: là ấn định giá bán sản
phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trờng hiện tại khi mà lần
đầu tiên ngời tiêu dùng cha biết chất lợng của nó nên cha có cơ hội để so
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh
vào tâm lý của ngời tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lợng
cao hơn các hàng hoá khác. Doanh nghiệp thờng áp dụng chính sách này
khi nhu cầu thị trờng lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong
thị trờng độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có
sự nhạy cảm về giá.
Nh vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ l-
ỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là
nghiên cứu xu hớng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng nh cần phải
xem xét các chiến lợc các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh
đắc lực bởi nó hạn chế đợc tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng. Để
hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp đợc diễn ra thông suốt, thờng xuyên và
đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các
đặc trng của thị trờng, của khách hàng. Từ đó có các chính sách phân phối
sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách
phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu
thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông thờng kênh phân
phối của doanh nghiệp đợc chia thành 5 loại:
+ Kênh ngắn: Ngời sản xuất => Ngời bán lẻ => Ngời tiêu dùng
+ Kênh cực ngắn: Ngời sản xuất => Ngời tiêu dùng

nền kinh tế thị trờng thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trờng muốn
doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh.
Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
nền kinh tế nớc ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con
ngời đợc nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con ngời không chỉ cần có nhu
cầu ăn chắc mặc bền nh trớc kia mà còn cần ăn ngon mặc đẹp. Để đáp
ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên
cứu thị trờng, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì
vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trờng: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi tr-
ờng kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách
hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt
nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của ngời tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp
nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có
khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một điều kiện và
là một yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc
đẩy hát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá
sản xuất ra nhiều, số lợng ngời cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn
kém hiệu quả, năng suất chất lợng thấp và ngợc lại nó thúc đẩy những Công
ty làm ăn tốt, năng suất chất lợng cao. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì
doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các doanh
nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của ngời
tiêu dùng nh sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lợng cao, giá cả phù

doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn khai thác thị trờng nhằm tăng
lợng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn này doanh nghiệp
thu hút đợc càng nhiều khách hàng càng tốt. Còn ở giai đoạn trởng thành và
phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh thu, tăng lợi nhuận
và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí đợc coi là không cần thiết, để lợi
nhuận thu đợc là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của khách
hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất. Đến giai đoạn gần nh bão hoà thì
mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là gây dựng lại hình ảnh đối với khách
hàng bằng cách thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nớc, đối với cộng đồng,
củng cố lại thêm niềm tin cho của khách hàng đối với doanh nghiệp. Để đạt
đợc các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì
doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phơng cách, biện pháp tối u để sáng
tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lợng cao hơn, cung ứng những dịch vụ
tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng tăng.
Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội
bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Tuy nhiên để cạnh
tranh đợc và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ
thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay
một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một
ngành, một công ty xí nghiệp.
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Phải nói rằng thuật ngữ khả năng cạnh tranh đợc sử dụng rộng rãi
trên các phơng tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp
hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh
doanh. Nhng cho đến nay vẫn cha có sự nhất trí cao trong các học giả và

triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác.
Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng nh giao thông liên lạc và kết
cấu hạ tầng khác.
Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và
các yếu tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực.
Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trình độ tay
nghề và năng suất lao động, độ linh hoạt của thị trờng lao động, hiệu quả của
các chơng trình xã hội , quan hệ lao động trong một ngành.
Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lợng, các thể
chế về pháp lý, các luật và văn bản pháp quy khác.
Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết
luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đã đợc sử dụng ở một Quốc
gia có thực sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế không. Chẳng hạn
những năm qua chính phủ Việt Nam đã đa ra chủ trơng khuyến khích phát
triển các loại hình doanh nghiệp hợp tác liên doanh, liên kết với nớc ngoài
nhằm học hỏi kinh nghiệm chuyển giao công nghệ và tăng trởng kinh tế. Thế
nhng hiệu quả kinh tế đem lại không lấy gì làm chắc chắn.
+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về
năng lực cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao sức
sống của một đất nớc. Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc vào trình
độ phát triển và tính năng động của các doanh nghiệp. Do đó khả năng cạnh
tranh của một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong nền kinh tế
quốc dân, giữ vai trò quyết định cơ bản cho phép các công ty sáng tạo và duy
trì và lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể. Với cách nhìn nhận vấn đề
nh vậy M.Poter đã đa ra một khuôn khổ các yếu tố tạo nên lợi thế canh tranh
của một quốc gia và Ông gọi đó là khối lợng kim cơng các lợi thế cạnh
tranh bao gồm các nhóm đợc phân chia một cách tơng đối.
- Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (thể hiện vị thế của một quốc

lợi thế cạnh tranh
+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren
VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn
Assessing the competiviveness of Canadas agrifood Industry- 1991. Theo
các tác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty đợc thể
hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trờng trong nớc và
nớc ngoài. Nh vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh
tranh của công ty. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần
càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao. Ngợc lại,
lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phán ánh năng lực cạnh tranh của công ty
bị hạn chế hoặc cha cao. Tuy nhiên chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao
gồm chỉ số thành phần khác nhau nh:
- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất các
yếu tố sản xuất
- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và
triển khai
- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lợng, sự khác biệt
- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các nguồn
lực.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng
cạnh tranh. Song bài viết này không nhằm mục đích phân tích u nhợc điểm
của quan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan niệm
điển hình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhng còn nhiều tranh
cãi về khái niệm đợc dễ dàng hơn.
2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Để đánh giá đợc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa
vào một số chỉ tiêu sau:
2.1. Thị phần
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu đợc khi bán hàng hoá hoặc

Để đánh giá đợc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối
thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tơng đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của
công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết đợc những
mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của chỉ tiêu
này là đơn giản, dễ hiểu nhng nhợc điểm của nó là khó nắm bắt đợc chính
xác số liệu cụ thể và sát thực của đôí thủ.
2.2. Năng suất lao động
Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả sản
xuất kinh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi thông qua năng suất
lao động ta có thể đánh giá đợc trình độ quản lý, trình độ lao động và trình
độ công nghệ của doanh nghiệp.
2.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi
phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận đợc coi là một chỉ tiêu
tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vì nếu doanh
nghiệp thu đợc lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi
phí thấp. Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá đợc
khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ. Nếu lợi nhuận cao thì khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp cao và đợc đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp rất khả quan.
Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tỷ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu ny cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu đợc bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận
nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp
thấp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cha đạt hiệu quả cao. Đã có quá
nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trờng của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp
phải không ngừng mở rộng thị trờng để nâng cao khả năng cạnh tranh. Nhằm
mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận

giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh khác và là
cộng cụ để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trờng mục tiêu. Khi thiết
kế nhãn hiệu doanh nghiệp phải xem xét đến các thành phần gồm: đặt tên sản
phẩm, xây dựng biểu tợng(logo), khẩu hiệu và hình ảnh cho nhãn. Đồng thời
phải có chiến lợc về nhãn hiệu đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
- Các giá trị tài sản nhãn hiệu: Tài sản nhãn hiệu là giá trị của một
nhãn hiệu của sản phẩm do uy tín của nhãn hiệu sản phẩm đó đem lại. Quản
trị giá trị nhãn là một trong các công việc mang tính chiến lợc quan trọng
nhất, nó đợc xem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị cao. Trong
những năm gần đây, khi các nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp cạnh
tranh mạnh mẽ trên thị trờng, hình thức khuyến mại định hớng vào gía là hình
thức phổ biến đợc nhiều doanh nghiệp áp dụng, điều này làm tổn thơng nhiều
doanh nghiệp.
2.5. Năng lực quản trị
Năng lực của nhà quản trị đợc thể hiện ở việc đa ra các chiến lợc, hoạch
định hớng đi cho doanh nghiệp. Nhà quản trị giỏi phải là ngời giỏi về trình độ,
giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải
quyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục
để ngời khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệt
tình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dới làm việc có tinh thần
trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanh
nghiệp. Ngoài ra nhà quản trị còn phải là ngời biết nhìn xa trông rộng, vạch ra
những chiến lợc kinh doanh trong tơng lai với cách nhìn vĩ mô,hợp với xu h-
ớng phát triển chung trong nền kinh tế thị trờng. Nhà quản trị chính là ngời
cầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng ngời đứng mũi chịu sào trong mỗi
bớc đi của doanh nghiệp.Họ là những ngời có quyền lực cao nhất và trách
nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất. Họ chính là nhứng ngời xác định h-
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ớng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp. Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vai trò
chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp.

hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay
về vốn, giảm bớt đợc khâu kiểm tra về chất lợng hàng hoá có đợc bảo đảm hay
không. Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hởng đến giá thành của sản
phẩm và nh vậy sẽ ảnh hởng đến giá bán của doanh nghiệp thơng mại. Ngày
nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa
các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công
nghệ. Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất l-
ợng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho
từng ngành sản xuất kỹ thuật. Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trờng nh hiện
nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ
công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành đợc u thế trong cạnhh
tranh.
3.1.3 Nguồn nhân lực.
Con ngời là yếu tố quyết điịnh mọi thành bại của hoạt động kinh doanh.
Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con ngời phát triển nhân sự,
xây dụng môi trờng văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp. Đồng
thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản nh số lợng lao
động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân. năng lực
của cán bộ quản lý.
Con ngời là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất
của doanh nghiệp. Bởi chỉ có con ngời mới có đầu óc và sáng kiến để sáng
tạo ra sản phẩm, chỉ có con ngời mới biết và khơi dậy đợc nhu cầu con ngời,
chỉ có con ngời mới tạo đợc uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất
những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh. Vậy muốn nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả
mọi ngời trong doanh nghiệp, từ những ngời lao động bậc thấp đến nhà quản
trị cấp cao nhất, bởi mỗi ngời đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Những ngời lãnh đạo chính là những ng-
ời cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những ngời đứng mũi chịu sào trong
mỗi bớc đi của doanh nghiệp, là những ngời có quyền lực cao nhất và trách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status