Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gươm - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều
thách thức, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra
sôi động và cấp bách.
Trước xu hướng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may
được coi là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước. Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là góp phần
thực hiện đường lối của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp
CNH- HĐH đất nước, đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng
lên về mọi mặt, không ngừng tăng cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động- vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm.
Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, cùng xu thế mở cửa hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Công ty may Hồ Gươm là một doanh nghiệp nhà
nước đã được cổ phần hoá trực thuộc Tổng Công ty mayViệt Nam đang
đứng trước những cơ hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt. Để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi Công ty phải xác
định được cho mình những phương thức hoạt động, những chính sách,
những chiến lược cạnh tranh đúng đắn
Nhận thức được tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh
cũng như mong muốn được đóng góp những ý kiến để Công ty may Hộ
Gươm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian thực tập
tại Công ty may Hồ Gươm, em quyết định lựa chọn đề tài “ Một số giải
pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gươm” để
làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3
chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng
lực canh tranh.
Chương II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may
Hồ Gươm

hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của
con người cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh. Ví như các quốc gia cạnh
tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi, các doanh nghiệp
cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía mình, để chiếm lĩnh
những thị trường có nhiều lợi thế và con người cạnh tranh nhau để vươn
lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên, môn nghiệp vụ để
những người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế
trong quan hệ với các đối tác. Như vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình
thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ
mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội. Điều này xuất phát
từ một lẽ đương nhiên nước ta đã và đang bước vào giai đoạn phát triển
cao về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, mà bên cạnh đó cạnh
tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị
trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự
do là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy
sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển. Bởi vậy để giành được các điều
kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp
phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và năng động phải thường
xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ
sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc,
loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có
phương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ
chuyên môn, tay nghề cho người lao động. Thực tế cho thấy ở đâu thiếu
có sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trì trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh
nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh
tế thị trường. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng
hoá các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu,
thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng
năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng
loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm

(1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn,
nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và
có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối
với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung.
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh, tế cạnh không chỉ là môi trường và động lực của
sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng
năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan
hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các
doanh nghiệp. Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu
mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của nhứng sản phẩm mới. Điều đó
chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị,
về kinh tế và văn hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu
và rộng. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại
thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành
mạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn
đến có những manh mối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế,
lậu hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp
luật nghiêm cấm.
2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại
và đứng vững. Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những
chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi
mô và vĩ mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh
tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm
của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người
tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng,
kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng
cao về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp
cho lợi ích của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng
nhiều hơn. Ngày nay các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp
ứng nhu cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài.
Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất
cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo
ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội. Bởi vậy cạnh tranh là một
yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những
mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành
mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn thị trường.
Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức khác nhau:
3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh được chia thàn ba loại:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh
diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi
ích của mình. Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi
nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được
đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh
trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức
cầu. Lúc này hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt
được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao
hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người
mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được
lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất
lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và
xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá

giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu được là tối đa, còn độc quyền
mua tức là trên thị trường có ít người mua và nhiều người bán khi đó
khách hàng được coi là thượng đế, được chăm sóc tận tình và chu đáo nếu
không những người bán sẽ không lôi kéo được khách hàng về phìa mình.
Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào
thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với
nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến
người tiêu dùng. Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm
chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh.
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một
số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh
tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy mọi
doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không
chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những
đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Một sự thay đổi về giá của doanh
nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với các sản
phẩm của doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp tham gia thị trường
này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tư lớn. Do vậy việc
thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là rất khó.
3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại
sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh
nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá
nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất ngày
càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm
chí còn có thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh
tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các

sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu
dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như
trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay
nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Khi có cùng
một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả
mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá
cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của
sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ
điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và
lợi ích sản phẩm đem lại. Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng
không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong
những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức
thu nhập của mình. Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có
nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng
ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần
thiết. Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm
hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá
trình tiêu dùng và sau khi tiêu dùng. Hay nói cách khác nâng cao chất
lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã,
bền hơn và tốt hơn. Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ
thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang
nghiệp. Làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với
doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với
doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải
đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam.
Một khi chất lượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là
khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ
mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh

chính sách định giá thấp. Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến
lúc có thể để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng
tiêu thụ tiềm tàng. Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một
chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng
và mở rộng thị trường.
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán
sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà
lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ
hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ
chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá
cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoá khác. Doanh nghiệp thường
áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi
doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những
mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá.
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ
lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất
là nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần
phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.
4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh
đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng.
Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường
xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối
nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng. Từ đó có các
chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng
quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành
5 loại:

5. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở
đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ
một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị
trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận
cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật
và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu
cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con
người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn
cần “ăn ngon mặc đẹp”. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp
phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của
khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì
sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết,
nó giúp cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi
trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu
khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp
mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh
nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện
và là một yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực
thúc đẩy hát triển sản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng
hoá sản xuất ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh
tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty
làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại nó thúc đẩy
những Công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao. Do vậy, muốn tồn tại
và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng.

giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình
những mục tiêu khác nhau. Trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt
động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn khai thác thị
trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn
này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt. Còn ở
giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng
doanh thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được
coi là không cần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh
nghiệp và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất. Đến
giai đoạn gần như bão hoà thì mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là gây
dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện trách nhiệm đối
với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm tin cho của
khách hàng đối với doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp
cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá
tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm
đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh
tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng tăng. Chỉ có cạnh tranh thì
doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển.
II. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã
hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Tuy nhiên để
cạnh tranh được và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi
nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh
nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc
gia, hay một ngành, một công ty xí nghiệp.
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Phải nói rằng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng
rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao

nghệ trong nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài,
phát triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác.
Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc và kết
cấu hạ tầng khác.
Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và
các yếu tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực.
Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trình độ tay
nghề và năng suất lao động, độ linh hoạt của thị trường lao động, hiệu quả
của các chương trình xã hội , quan hệ lao động trong một ngành.
Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lượng, các thể
chế về pháp lý, các luật và văn bản pháp quy khác.
Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết
luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đã được sử dụng ở một
Quốc gia có thực sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế không. Chẳng
hạn những năm qua chính phủ Việt Nam đã đưa ra chủ trương khuyến khích
phát triển các loại hình doanh nghiệp hợp tác liên doanh, liên kết với nước
ngoài nhằm học hỏi kinh nghiệm chuyển giao công nghệ và tăng trưởng
kinh tế. Thế nhưng hiệu quả kinh tế đem lại không lấy gì làm chắc chắn.
+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất
Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về
năng lực cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao
sức sống của một đất nước. Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc
vào trình độ phát triển và tính năng động của các doanh nghiệp. Do đó khả
năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong
nền kinh tế quốc dân, giữ vai trò quyết định cơ bản cho phép các công ty
sáng tạo và duy trì và lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể. Với cách
nhìn nhận vấn đề như vậy M.Poter đã đưa ra một khuôn khổ các yếu tố tạo
nên lợi thế canh tranh của một quốc gia và Ông gọi đó là “khối lượng kim
cương các lợi thế cạnh tranh” bao gồm các nhóm được phân chia một cách
tương đối.

bớt hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện
cơ bản của lợi thế cạnh tranh
+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren
VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn
“Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”- 1991. Theo
các tác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được
thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong
nước và nước ngoài. Như vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá
khả năng cạnh tranh của công ty. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi
nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
càng cao. Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phán ánh năng lực
cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao. Tuy nhiên chúng chỉ là
những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ số thành phần khác nhau như:
- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất
các yếu tố sản xuất
- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu
và triển khai
- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt
- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các
nguồn lực.
Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng
cạnh tranh. Song bài viết này không nhằm mục đích phân tích ưu nhược
điểm của quan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan
niệm điển hình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhưng còn
nhiều tranh cãi về khái niệm được dễ dàng hơn.
2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể
dựa vào một số chỉ tiêu sau:
2.1. Thị phần
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc

đối thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu
của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được
những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của
chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt
được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đôí thủ.
2.2. Năng suất lao động
Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản
xuất kinh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi thông qua năng
suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và
trình độ công nghệ của doanh nghiệp.
2.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi
phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được coi là một chỉ
tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vì nếu
doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu
cao và chi phí thấp. Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể
đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ. Nếu lợi nhuận
cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan.
Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận =
Chỉ tiêu ny cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận
nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh
nghiệp thấp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.
Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp. Do đó
doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng
cạnh tranh. Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao tức là
Tổng lợi nhuận
Tổng doanh thu

khác và là cộng cụ để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trường mục
tiêu. Khi thiết kế nhãn hiệu doanh nghiệp phải xem xét đến các thành phần
gồm: đặt tên sản phẩm, xây dựng biểu tượng(logo), khẩu hiệu và hình ảnh
cho nhãn. Đồng thời phải có chiến lược về nhãn hiệu đối với sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Các giá trị tài sản nhãn hiệu: Tài sản nhãn hiệu là giá trị của một
nhãn hiệu của sản phẩm do uy tín của nhãn hiệu sản phẩm đó đem lại. Quản
trị giá trị nhãn là một trong các công việc mang tính chiến lược quan trọng
nhất, nó được xem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị cao.
Trong những năm gần đây, khi các nhãn hiệu sản phẩm của các doanh
nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, hình thức khuyến mại định
hướng vào gía là hình thức phổ biến được nhiều doanh nghiệp áp dụng, điều
này làm tổn thương nhiều doanh nghiệp.
2.5. Năng lực quản trị
Năng lực của nhà quản trị được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược,
hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp. Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi
về trình độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn
nhận và giải quyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả
năng thuyết phục để người khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự
nguyện và nhiệt tình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm
việc có tinh thần trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành
viên trong doanh nghiệp. Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người biết nhìn
xa trông rộng, vạch ra những chiến lược kinh doanh trong tương lai với cách
nhìn vĩ mô,hợp với xu hướng phát triển chung trong nền kinh tế thị trường.
Nhà quản trị chính là người cầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng
người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp.Họ là những
người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề
nhất. Họ chính là nhứng người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh
nghiệp. Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển
của doanh nghiệp.

thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng
nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng
hoá có được bảo đảm hay không. Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh
hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của
doanh nghiệp thương mại. Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc
cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ. Công nghệ tiên tiến không
những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ
mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật. Mặt
khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề
của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy
móc nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnhh tranh.
3.1.3 Nguồn nhân lực.
Con người là yếu tố quyết điịnh mọi thành bại của hoạt động kinh
doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển
nhân sự, xây dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh
nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản
như số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập
bình quân. năng lực của cán bộ quản lý.
Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao
nhất của doanh nghiệp. Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến
để sáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu
cầu con người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của
doanh nghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh.
Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú
ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao
động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị
trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những
người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là
những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status