SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY VÀ HỌC SINH HỌC
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, hỗ trợ của Quý Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp và cả các em học
sinh. Do đó, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến :
BGH trường THPT Trấn Biên – Biên Hòa – Đồng Nai đã
động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện chuyên đề này.
Quí Thầy Cô trong tổ Hóa – Sinh, các bạn đồng nghiệp ở
trường THPT Trấn Biên đã góp ý, giúp đỡ tôi hoàn thành
chuyên đề.
Các em học sinh đã tham gia tích cực.
Do thời gian hạn chế nên trong trình bày chắc chắn không
* Tổ chức họat động nhóm trong dạy học Sinh học.
* Sử dụng phiếu học tập trong dạy học Sinh học. Đề tài:
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC SINH HỌC.
A. TRÌNH BÀY ĐỀ TÀI.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết. Bản chất
của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập,
sáng tạo của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh chưa biết cách học, mà chỉ học thuộc lòng,
học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm,
hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau.
Với đặc trưng riêng của môn Sinh học: môn học nghiên cứu đối tượng sống bao gồm:
nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo, các quá trình sinh lí, hóa sinh, các mối quan hệ giữa các
tổ chức sống với nhau và với môi trường, sự vận động của thế giới sống qua không gian
và thời gian, thì phương pháp chuyển tải bằng sơ đồ thường mang lại hiệu quả cao.
Trong giảng dạy GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung
cách trình bày giống như cách của GV, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu
của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in
đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc
sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy- học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc,
hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả
HS tham gia xây dựng bài một cách hào hứng, giúp học sinh học tập một cách chủ động,
tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não, …
Việc ứng dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn
- Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến
khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức, sử dụng nhiều loại hình kiểm
tra thích hợp. III. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
1. Thuận lợi:
Giáo dục ngày càng được xã hội quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất, đổi mới về nội
dung và phương pháp giảng dạy, đổi từ cách dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học
theo “phương pháp dạy – học tích cực”.
Bản thân được học tập đầy đủ các khóa tập huấn thay SGK, tham dự chuyên đề do Sở
GD – ĐT tỉnh Đồng Nai tổ chức nhằm giúp cho GV tiếp cận tốt phương pháp mới. Tôi
cũng cố gắng tìm đọc, sưu tầm nhiều tài liệu tham khảo.
Bên cạnh đó là sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Ban Giám Hiệu nhà trường, quý đồng
nghiệp và các em HS trong qúa trình thực hiện đề tài.
2. Khó khăn:
Đa số HS không có một mục tiêu rõ ràng trong học tập, trong từng môn học, mục tiêu
trong tương lai thấp. HS chấp nhận điểm số mình có được mà không nỗ lực cải thiện vươn
lên.
Khi đặt mục tiêu học tập thì đa số HS không có một kế hoạch nào cụ thể về những
công việc, mức độ công việc, thời gian thực hiện công việc để đạt được mục tiêu đó, đa số
HS theo lối suy nghĩ “đến đâu hay đến đó”, chính điều này lại hình thành thói quen làm
việc không có kế hoạch của các em sau này.
HS chưa có ý thức đọc bài trước ở nhà.
Ở trường học học sinh chỉ được dạy “ học cái gì ” chứ không được dạy “ học như thế
nào? ”.
IV. NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
1. Những bất lợi của việc ghi chú kiểu truyền thống:
3. Ưu điểm của BĐTD:
- Kiến thức được trình bày cô đọng tổng quát, các nội dung được hệ thống liện kết với
nhau, sử dụng hình ảnh, màu sắc sinh động, toàn bộ ý của sơ đồ có thể "nhìn thấy"
phát huy tối đa tiềm năng tư duy, ghi nhớ của bộ não, giúp HS hiểu và nhớ lâu bài học, hỗ
trợ hiệu quả các phương pháp dạy học.
- Tiết kiệm thới gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa.
- BĐTD là sơ đồ mở, việc thiết kế không yêu cầu khắt khe chi tiết như bản đồ địa lý, có
thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ 1 kiểu khác nhau Kích thích hứng thú
học tập và khả năng sáng tạo của HS.
- Phương tiện thiết kế bản đồ tư duy khá đơn giản, dễ tìm, kinh tế: giấy, bìa, bảng phụ, bút
chì màu, phấn màu hoặc dùng phần mếm có thể vận dụng với bất kì điều kiện cơ sở vật
chất nào của các trường hiện nay - Phát triển năng khiếu hội họa, sở thích mỗi người, được tự do chọn màu sắc, đường nét,
tự sáng tác nên những BĐTD, thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày của từng cá nhân nên
cáng yêu quý vá trân trọng “ tác phẩm trí tuệ” của mình.
- Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.
- Sử dụng BĐTD trong dạy học nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng
của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể
giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. BĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được
giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn. HS có thể tương
tác với bạn học của mình và với GV.
- Qua hoạt động thuyết trình BĐTD vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa là một
cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn,
mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh nước ta hiện
nay.
- Mặt khác, dạy học bằng BĐTD giúp học sinh không nhàm chán về bài học mà luôn sôi
nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học. Phương pháp này đặc biệt có ích trong việc củng
cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực cho học sinh, nhất là những
tạo cảm giác vui vẻ, sống động làm tăng khả năng sáng tạo của người dùng.
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình ảnh chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2: Vẽ các nhánh chính( cấp 1) đến hình ảnh trung tâm và vẽ thêm các tiêu đề
phụ:
* Quy tắc:
+ Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn
+ Tiêu đề phụ được vẽ gắn liền với trung tâm
+ Được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật
+ Chỉ tận dụng các tứ khóa và hình ảnh trên mỗi nhánh. Mỗi từ/ảnh nên đứng độc lập và
được nằm trên mỗi nhánh.
- Bước 3: Nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba
đến nhánh cấp hai, bằng các đường kẻ và thêm các chi tiết hỗ trợ.
* Quy tắc:
+. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ
não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng.
+ Luôn để các nhánh của BĐTD gấp khúc tự nhiên làm cho BĐTD cuốn hút và không bị
nhàm chán.
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Các nhánh của 1 ý nên tỏa ra từ 1 điểm và có cùng 1 màu
+ Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
- Bước 4: Có thể thêm nhiều hình ảnh giúp các ý quan trọng thêm nổi bật và lưu vào
trí nhớ tốt hơn
*** Khái quát các bước vẽ BĐTD bằng phần mềm : B1. Mở phần mềm Bản đồ tư duy
B2. Bắt đầu xây dựng một Bản đồ tư duy mới
B3. Thêm các chủ đề lớn nhỏ
B4. Thêm nhánh và sắp xếp nhánh
- Trước khi vẽ BĐTD phải đọc thông tin trong từng đọan và thu thập các từ khóa bằng
cách gạch chân, lọai bỏ những từ không mang nội dung, để có thể nhớ được nội dung tài
liệu đã đọc giúp trí não làm việc tốt hơn là bước chuẩn bị lập BĐTD.
- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh hay tên chủ đề và triển khai ra.
- Sử dụng màu sắc, hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong BĐTD một cách phù hợp
- Nên chọn loại bút có nét thanh nhỏ, dễ nhìn, màu mực đừng quá đậm. Không nhất thiết
phải dùng giấy to thì mới thể hiện các nhánh được rõ ràng. Giấy tập học sinh có những
đường kẻ giúp canh được vị trí của các nhánh vì vậy càng dễ vẽ hơn. Ngoài ra cũng dễ
dàng bảo quản và mang theo lên trường ôn bài. Nếu khéo léo có thể tóm tắt một bài học
dài 3, 4 trang trên một trang giấy học trò.
- Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Tuy nhiên, bạn cũng không cần
phải sử dụng quá nhiều màu sắc. Bạn có thể chỉ cần dùng một hai màu nếu thích và muốn
tiết kiệm thời gian.
- Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, hãy thử gạch chéo,
đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó? . Rất mới mẻ và tốn ít thời gian.
- Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại, cuốn hút.
- Sử dụng những từ ngữ cô đọng thể hiện thông tin. Nếu trên mỗi nhánh bạn viết đầy đủ
cả câu thì như vậy bạn sẽ dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não. Vì vậy, hãy
nhớ trên mỗi nhánh chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, sẽ viết rất nhanh và khi đọc
lại, não sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi
nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ.
- BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu các nhóm HS có chung 1 kiểu BĐTD. Gv chỉ
nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét, màu sắc và hình thức(
nếu cần)
- Có thể vẽ chung trên một cuốn vở hoặc để thành các trang giấy rời, rồi kẹp thành một
tập. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang giấy giúp các em dễ ôn tập,
xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ BĐTD của bài đó ra là các em nhanh chóng ôn lại
kiến thức một cách dễ dàng
- Nên thường xuyên sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc nhóm và hệ thống kiến thức đã học
BẢN ĐÒ TƯ DUY THEO BÀI
Bài 1: Gen , Mã di truyền và quá trình nhân đội ADN- SGK Sinh học 12 cơ bản).
BẢN ĐÒ TƯ DUY THEO CHƯƠNG
4. Các dạng biến dị (Ôn tập chương I, Phần V- Sinh học 12 cơ bản)
BÀI GIẢNG MINH HỌA
Kết hợp BĐTD với các phương pháp dạy học khác để lĩnh
hội kiến thức mới.
PHẦN V- DI TRUYỀN HỌC
Chương I: CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ
Bài 1: GEN, MÃ DI TRUYỀN VÀ QUÁ TRÌNH NHÂN ĐÔI ADN
- Thuyết trình - giảng giải.
- Thảo luận nhóm.
- Ứng dụng bản đồ tư duy.( Gv dạy tới đâu vẽ BĐTD đến đó)
IV. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY-HỌC: 1. Ổn định lớp: Ổn định lớp, kiểm tra sỉ số.
2. Kiểm tra bài cũ: không kiểm tra( bài đầu tiên).
3. Bài mới:
Hoạt động của GV và HS Nội dung kiến thức cơ bản
* HỌAT ĐỘNG I : Tìm hiểu khái niệm gen
GV: Yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm gen đã
được học ở lớp 9
(?) Nêu khái niệm gen ? Cho VD?
(?) Kể tên 1 số lọai gen?
* HỌAT ĐỘNG II: Tìm hiểu về mã di truyền.
GV : dẫn dắt khái niệm mã di truyền: TTDT
được lưu trữ trong ADN dưới dạng mật mã là
các nu gọi là mã DT và gen qui định cấu trúc
protein. Vậy mã DT là gì?
HS: trả lời.
GV yêu cầu HS quan sát bảng 1/ 8 sgk và giới
thiệu khái quát bảng mã DT.
(?) Mã di truyền là mã bộ mấy ?
HS: là mã bộ 3.
(?) Thế nào là mã bộ 3? Có tất cả bao nhiêu mã
bộ 3?
HS: giải thích và trả lời
GV: nhận xét, bổ sung.
(?) Tại sao mã di truyền là mã bộ ba ?
- Mã di truyền là mã bộ ba
- Có tất cả 4
3
= 64 bộ ba, trong đó:
+ có 3 bộ kết thúc (không mã hóa aa.):
UAA, UAG, UGA->qui định tín hiệu kết
thúc quá trình dịch mã.
+ 1 bộ mở đầu: AUG:
* khởi đầu dịch mã.
* mã hóa aa mở đầu:
- metionin (SV nhân thực)
- foocmin metionin (SV nhân sơ).
2. Đặc điểm của mã di truyền:
- Mã di truyền được đọc từ 1 điểm xác
định và liên tục trên từng bộ ba nuclêôtit
theo chiều 5’- 3’ trên mARN.
- Mã di truyền có tính phổ biến.
- Mã di truyền có tính đặc hiệu.
- Mã di truyền có tính thoái hóa.
III. QÚA TRÌNH NHÂN ĐÔI
AND(tái bản AND).
1. Vị trí, thời gian
- Vị trí: trong nhân tế bào tại các NST
- Thời gian:diễn ra ở pha S(Kì trung
gian) của chu kì tế bào, gđoạn chuẩn bị
cho phân bào.
2. Cơ chế.
Bước 1: Tháo xoắn ADN.
Bước 2: Tổng hợp các mạch ADN mới.
Bước 3: Hai phân tử ADN mới được tạo
thành.
* Các nguyên tắc trong nhân đôi
ADN:
- NTBS
- Nguyên tắc bán bảo toàn
3. Ý nghĩa
Truyền thông tin di truyền trong hệ gen
từ tế bào này sang tế bào khác, từ thế hệ
này sang thế hệ khác, đảm bảo cho sự
sống được duy trì liên tục, mỗi loài có
một bộ gen đặc trưng và tương đối ổn
định.
4. Củng cố:
3. Chiều di chuyển của enzim ADN- polymeraza trên mạch khuôn? 4. Chiều tổng hợp mạch ADN mới?