Quản Lý Rừng Cộng Đồng ở Việt Nam:
Chính Sách và Thực Tiễn
Kỷ yếu hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng
Hà Nội, ngày 5/ 6/ 2009 ii
Tài liệu này được in với sự tài trợ của dự án học hỏi về quản trị rừng (FGLG) Việt Nam.
Dự án do Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED) và Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp
Cộng đồng cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (RECOFTC) điều phối.
Ủy ban Châu Âu và chính phủ Hà Lan hỗ trợ việc thực hiện dự án này. Tuy nhiên nội dung tài
liệu này hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của tác giả và trong bất kỳ hoàn c
ảnh nào nó không
phản ảnh vị trí của Ủy ban Châu Âu và các nhà tài trợ khác.
đại diện các cơ
quan quản lý nhà nước và các địa phương. Nhiều kinh nghiệm thực tiễn về
quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam và các nước trong khu vực đã được chia sẻ qua các bài
trình bày chung tại hội trường cũng như trong quá trình thảo luận nhóm.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự tham gia đóng góp ý kiến của các trình bày viên và các
đại biểu tham dự hội thảo. Xin cảm ơn sự đóng góp về mặt tài chính cũng như nhân lực của
các c
ơ quan tài trợ và các chương trình, dự án có liên quan.
BAN TỔ CHỨC iv
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT: LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM - CHÍNH SÁCH VÀ
THỰC TIỄN
Nguyễn Bá Ngãi, Phạm Đức Tuấn, Vũ Văn Triệu, và Nguyễn Quang Tân
QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, VẤN ĐỀ VÀ
GIẢI PHÁP
Nguyễn Bá Ngãi
MỘT SỐ QUẢ BƯỚC ĐẦU HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN CHƯƠNG TRÌNH THÍ
ĐIỂM LÂM NGHIỆP C
ỘNG ĐỒNG
Lê Thị Thưa
FGLG Dự án học hỏi về quản trị rừng
GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng (đất)
KTXH Kinh tế xã hội
LNCĐ Lâm nghiệp cộng đồng
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QLRCĐ Quản lý rừng cộng đồng
RDDL Dự án Phát triển Nông thôn Dak Lak
TFF Quỹ
Uỷ thác ngành Lâm nghiệp
UBND Ủy ban Nhân dân
1
TÓM TẮT: LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM - CHÍNH SÁCH
VÀ THỰC TIỄN
Nguyễn Bá Ngãi
1
, Phạm Đức Tuấn
2
, Vũ Văn Triệu
3
, và Nguyễn Quang Tân
4Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở
Việt Nam và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ
thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý rừng tư nhân. Trong thực tiễn, có
1
PGS. TS. Quyền Giám đốc Sở NN&PTNT Bắc Kạn
2
TS. Phó Cục Trưởng Cục Lâm Nghiệp Việt Nam
3
TS. Đại diện trưởng IUCN Việt Nam
4
TS. Quản lý dự án FGLG Việt Nam
2
Thực tiễn cũng cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình
LNCĐ chung mà cần có các loại hình LNCĐ khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
Nhiều vấn đề đang đặt ra cho quản lý rừng cộng đồng như địa vị pháp lý của cộng đồng dân
cư thôn trong quản lý rừng, các khía cạnh về quyền đầy đủ khi cộng đồ
ng tham gia quản lý
rừng, kế hoạch quản lý rừng, sử dụng thương mại sản phẩm từ rừng cộng đồng, cơ chế hưởng
lợi, tổ chức quản lý rừng. Đây là những vấn đề đã được trình bày và thảo luận sôi nổi trong
Hội thảo.
Về vấn đề xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng, trên c
ơ sở phân tích từ thực
tiễn Hội thảo đã đề xuất cơ chế chính sách liên quan như: Xác lập vị trí pháp lý của cộng đồng
khi tham gia quản lý rừng với tư cách là chủ rừng với đầy đủ quyền và nghĩa vụ như các chủ
rừng khác được quy định trong các bộ luật; Sự thừa nhận và thể chế hoá rừng do cộng đồng tự
công nhận từ lâu đờ
i; Những khía cạnh về chính sách cho phép mở rộng đối tượng rừng giao
cho cộng đồng quản lý như các khu rừng phòng hộ, vùng đệm các khu rừng đặc dụng.
Về vấn đề lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, Hội thảo thống nhất kế hoạch quản lý rừng
giữ vai trò hết sức quán trọng, là công cụ quan trọng bậc nhất để cộng đồng quả
ích từ rừng cộng đồng là rất cần thiết vì:
- Cộng đồng cùng tham gia quản lý rừng là một thực tiễn không thể phủ định, dù được thể
chế hóa hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây là đặc trưng cơ bản củ
a văn hoá
và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời. Do đó, việc thừa nhận cộng đồng là một
chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác quản lý rừng. Vấn đề này cần được nghiên
cứu và bổ sung vào các bộ luật để từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ
pháp nhân trong quản lý, bảo vệ, sử dụng và kinh doanh rừng.
- Sử dụng một phần rừ
ng cho mục đích chung của cộng đồng như cung cấp gỗ làm nhà, giữ
nguồn nước, đáp ứng nhu cầu tâm linh, v.v. phải được xem là một hình thức hưởng lợi của
cộng đồng cần được thể chế hoá một cách rõ ràng. Sử dụng rừng cho mục đích chung của
cộng đồng là rất cần thiết trong bối cảnh hiện tại và tương lai khi kinh tế hộ, kinh tế trang
trại, s
ản xuất hàng hóa phát triển có thể là những nguy cơ làm ảnh hưởng đến việc quản lý,
sử dụng và hưởng dụng tài sản chung của cả cộng đồng như đã xuất hiện ở nhiều nơi.
Thực tế ở nhiều nơi cho thấy cộng đồng hết đất công để dùng cho mục đích chung, không
có rừng để bảo vệ nguồn nước của cộng đồng, không có qu
ỹ công để thực hiện phúc lợi.
- Cần có đủ cơ sở pháp lý cho cộng đồng dân cư thôn có tư cách pháp nhân quản lý, sử dụng
lâm sản thương mại, nhất là đối với rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng quản lý.
Nhưng quy định về kỹ thuật trong phương án kinh doanh rừng của cộng đồng cũng cần
được sửa đổi sao cho phù hợp với điều kiện c
ủa cộng đồng.
Kết quả hội thảo là những khuyến cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp Việt
Nam trong quá trình hoạch định cơ chế và chính sách và quản lý phương thức quản lý rừng
cộng đồng ở Việt Nam.
4
QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM:
- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhưng chưa
được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao)
với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%. Đó là các khu rừng thiêng, rừ
ng ma, rừng
mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng.
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước
(Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ…) được các cộng đồng nhận
khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi
tắt là nhậ
n khoán với diện tích 902.662,7 ha tương đương 32,3% 5
Nguồn số liệu: Cục Lâm nghiệp -Tổng hợp báo cáo rừng cộng đồng của 37 tỉnh, thành phố-Tháng 3 năm 2008;
Phạm Xuân Phương- Tổng quan về chính sách giao đất giao rừng tại Việt Nam, thực trạng và định hướng trong
thời gian tới - Kỷ yếu Diến đàn Quốc gia về giao đất giao rừng tại Việt Nam, Hà Nội – 29/5/2008.
5
Nếu xét về vùng địa lý, vùng Tây Bắc có tỷ lệ rừng cộng đồng cao nhất với 1.893.300,9 ha,
chiếm 67,8% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý trên cả nước. Tiếp
đến là các vùng Đông Bắc 760.131,1 ha, vùng Tây Nguyên 62.422,3 ha và Bắc Trung Bộ
58.541,7 ha. Các vùng còn lại diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng chiếm một tỷ lệ
nhỏ. Một số tỉnh không có diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồ
ng quản lý bảo vệ.
Các loại rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều được 3 chủ thể
chính quản lý là cộng đồng dân cư thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích. Đối với
rừng do cộng đồng dân cư thôn và dòng tộc quản lý thường ở các vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và th
ị trường
kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp. Rừng do nhóm hộ hoặc nhóm sở thích tự cùng nhau
ủ dần được hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát
6
triển. Sự tiến triển của chính sách quản lý rừng cộng đồng được mô tả khái quát trong Bảng
I.1.
Khái niệm "Cộng đồng dân cư" đã được Luật đất đai năm 2003 định nghĩa và quy định là một
trong những Người sử dụng đất (Điều 9). Luật đất đai năm 2003 không quy định cộng đồng
dân cư được giao đất rừng sản xu
ất (Điều 75), đất rừng phòng hộ (Điều 76) và đất rừng đặc
dụng (Điều 77).
Bảng I.1: Tiến trình phát triển chính sách LNCĐ ở Việt Nam
6
Giai đoạn Diễn giải về phát triển chính sách
Trước năm
1954
+ Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng
Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống. Quản lý
rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống.
1954-1975
+ Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những
khu rừng theo truyền thống
Miền bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển
lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã
nông - lâm nghiệp). Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và LNCĐ, nhưng
về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồ
ng vùng cao quản lý rừng theo phong tục
truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ. Trong khi đó, ở miền
nam, giống thời kỳ trước năm 1954.
7
ngày ban hành Luật BV&PTR là chủ rừng hợp pháp.
1993-2002 + Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa
nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng.
Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng nhưng ở mức độ tự
phát hoặc mang tính chất thí điểm. Bộ NN&PTNT thành lập Tổ công tác Quốc gia về
LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội th
ảo quốc gia về LNCĐ.
Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến phát triển LNCĐ. Nhưng về cơ bản
LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng.
Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/CP năm 1994 và Nghị định 163/ CP năm
1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng. Luật
Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân c
ư là một chủ thể kinh tế có tư cách
pháp nhân.
Trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và của
ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995 về giáo khoán đất lâm
nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định
245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm c
ủa nhà nước của các cấp về rừng và
đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng
quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg năm
2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quyền
hưởng lợi và nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng.
Từ 2003
đến nay
+ Hình thành khung pháp lý cơ bản cho lâm nghiệp cộng đồng
Theo Luật Đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc
công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất. Luật
BV&PTR mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư
Về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn c
ũng được quy định trong Luật BV&PTR,
thể hiện ở một số điểm rõ ràng là: Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung được quy định: Không
được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng,
tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là
rừng trồng, giá trị quyền sử dụng rừng được giao.
Như vậy, đến nay Việt Nam đ
ã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho quản lý rừng cộng
đồng, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đất đai năm 2003, Luật BV&PTR năm
2004 và các văn bản chính sách khác. Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn
bản sau đây:
- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp nhân đầy đủ
hoặc không đầy đủ tuỳ theo từ
ng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng rừng được
giao hay nhận khoán.
- Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp
ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành như: Khu rừng hiện cộng đồng
dân cư thôn đang quản lý sử dụng có hiệu quả; Khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trự
c
tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng; Khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không
thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để
phục vụ lợi ích của cộng đồng.
- Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của
pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với th
ời hạn
giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích
công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; Được sản xuất lâm nghiệp- nông
nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích
rừng được giao; Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước
để
Tiêu chí Theo pháp luật về đất đai Theo pháp luật bảo vệ và phát triển rừng
Hình thức giao Nhà nước giao đất rừng
phòng hộ không thu tiền sử
dụng đất
- Nhà nước giao rừng sản xuất. rừng phòng hộ
không thu tiền sử dụng đất.
Yêu cầu:
- Diện tích rừng giao cho cộng đồng phải nằm
trong phương án giao rừng của UBND xã đã
được UBND huyện phê duyệt.
- Rừng giao cho cộng đồng phải nằm trong phạm
vi xã.
Hạn mức Không quy định Không quy định
Thời hạn Ổn định, lâu dài - Rừng sản xuất: 50 năm – có gia hạn
- Rừng phòng hộ: ổn định lâu dài
Tình trạng
rừng
Không phân biệt
Các quyền - Các quyền chung
- Không được phân chia rừng cho các thành viên
trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển
nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn
kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản
xuất là rừng trồng, giá trị quyền sử dụng rừng
được giao. 7
Hiện nay những văn bản này đã hết hiệu lực thi hành.
STT Hình thức
quản lý
Nguồn gốc hình
thành
Hiên trạng và
quy mô
Mục đích quản lý, sử dụng
Bản Huổi Cáy, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên - Cộng đồng đồng bào H’Mông
1 Cộng đồng
quản lý theo
truyền thống
Bản tự công nhận
từ lâu đời.
Rừng tự nhiên 81
ha
Bảo vệ nguồn nước. lấy gỗ làm
nhà, các lâm sản khác tiêu dùng
hàng ngày.
Thôn Cài, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình- Cộng đồng đồng bào Mường
2 Nhóm hộ gia
đình
Xã hợp đồng sử
dụng rừng
Rừng tự nhiên,
rừng trồng, 31 ha
Phủ xanh đất trống, lấy gỗ, tre
nứa bán ra thị trường
Thôn Páng, xã Phú Thanh, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa-Cộng đồng đồng bào Thái
3 Cộng đồng
quản lý
cùng quản lý rừng là phổ biến. Đây là những mô hình QLRCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế của
người dân thể hiện rất rõ trong trường hợp của các đồng bào H’Mông ở Mùn Chung (Điện
Biên), Thái đen ở Mường Lựm (Yên Châu, Sơn La), Dao ở Cao Bằng. Ngược lại, những cộng
đồng gần vùng phát triển, nơi kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa đang hình thành và phát
triển thì có nhiều hình thức cộ
ng đồng quản lý rừng khác nhau như lý rừng của cả thôn bản,
nhóm hộ, dòng họ. Đây là những mô hình QLRCĐ đang tiếp cận tới sản xuất hàng hóa thể
hiện khá rõ trong trường hợp của các đồng bào Mường ở Vũ Lâm (Hoà Bình), đồng bào Thái
ở Phú Thanh (Thanh Hóa).
Kết quả nghiên cứu, khảo sát đều cho thấy rằng, các mô hình quản lý rừng cộng đồng được tự
hình thành và phát triển, hình thức và nội dung quản lý chưa th
ống nhất mà thường dựa vào
khả năng hiểu biết và tự quản của cộng đồng. Tuy nhiên, các mô hình hiện tại lại cho thấy hai
nội dung quan trọng trong quản lý rừng cộng đồng là thiết lập một hệ thống tổ chức của cộng
đồng cho quản lý rừng và xây dựng hương ước mà cộng đồng dựa vào đó để tự quản lý, điều
tiết lợi ích.
Nghĩa vụ và quyền hưởng lợi theo quy định hiện hành của nhà nước chưa được phổ biến rõ
ràng và áp dụng vào đối tượng rừng cộng đồng. Cơ chế hưởng lợi theo Quyết định 178 chưa
được người dân biết. Trách nhiệm và lợi ích đều do cộng đồng tự quy định và thực hiện. Vấn
đề này rất rõ trong trường hợp của xã Mùn Chung - Điện Biên. ở hầu hết các cộ
ng đồng đều
có quy định riêng về hưởng lợi từ rừng cộng đồng. Những quy định này được cộng đồng xây
dựng dựa vào lợi ích của cộng đồng và cá nhân trong cộng đồng.
Thực tiễn từ các mô hình quản lý rừng cộng đồng đều cho thấy cộng đồng quản lý rừng bằng 3
công cụ quản lý cơ bản sau:
(1) Hình thành tổ chức quản lý, điều hành củ
a cộng đồng dựa trên nguyên tắc dân
bầu và tín nhiệm của cộng đồng đối với già làng, trưởng bản;
(2) Xây dựng quy ước quản lý rừng của cộng đồng dựa vào luật lệ của làng (hương
uớc), nhu cầu hiện tại và phù hợp với quy định của pháp luật ;
trường ở từng vùng, đó là QLRCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế và tiếp cận tới sản xuất hàng
hóa;
- Mô hình quản lý rừng c
ộng đồng theo các giai đoạn và các bước cụ thể được xác lập có thể
vận dụng vào các điều kiện cụ thể của từng xã và cộng đồng nhưng phải đảm bảo 3 điều
kiện cơ bản là: có cơ chế phối hợp của các nhóm chủ thể, thực hiện tốt 3 công cụ quản lý
và triển khai các giải pháp hỗ trợ phát triển quản lý rừng c
ộng đồng.
Một số vấn đề trong quản lý rừng cộng đồng
Địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn chưa thực sự rõ ràng
Mặc dù Luật đất đai 2003, Luật BV&PTR 2004 và một số văn bản khác của Nhà nước quy
định cộng đồng dân cư thôn thuộc đối tượng giao đất, giao rừng, có quyền quản lý và sử dụng
rừng nhưng địa vị pháp lý của cộng đồng vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng. Bộ Luật dân sự 2005
quy định một t
ổ chức được công nhận là một pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: Được cơ
quan có thẩm quyền thành lập hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản; tham
gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Cộng đồng dân cư thôn chưa hội đủ các điều kiện
trên nên không phải là một pháp nhân. Nếu giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, khi có xẩy
ra tranh chấp dân sự với ch
ủ thể khác hoặc có vi phạm pháp luật thì cơ quan pháp luật không
thể giải quyết được.
Vấn đề ở đây là trong khi địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn chưa rõ ràng cho giao đất,
giao rừng và quản lý rừng nhưng lại thiếu những nghiên cứu bổ sung vào các luật có liên quan.
13
Những điểm thiếu trong cơ chế chính sách
Về cơ bản, Việt Nam có khung pháp lý cho thực thi phương thức quản lý rừng cộng đồng
nhưng còn thiếu cơ chế chính sách liên quan đến quyền hưởng lợi rừng, đó là sự thiếu hụt
những quy định hiện hành về hưởng lợi, nhất là hưởng lợi gỗ trong giao rừng tự nhiên cho
đang vận dụng những quy định về hưởng lợi và nghĩa vụ từ những quy định cho đối tượng là
hộ gia đình, cá nhân và tổ chức; chưa có quy định rõ ràng v
ề khai thác gỗ thương mại khi cộng
đồng được giao và quản lý rừng tự nhiên; những quy định về thủ tục hành chính cũng chưa
rõ; những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật khá phức tạp và cộng đồng khó có thể tiếp cận.
Những thiếu hụt và chưa đầy đủ nêu trên đã và đang làm hạn chế cộng đồng tham gia quản lý
rừng. 10
Bảo Huy - Quản lý rừng và hưởng lợi trong giao đất giao rừng – Nghiên cứu điểm tại Tây Nguyên - Kỷ yếu
Diến đàn Quốc gia về giao đất giao rừng tại Việt Nam, Hà Nội – 29/5/2008 14
Những vấn đề về kỹ thuật trong quản lý rừng cộng đồng
Trong chu trình quản lý rừng cộng đồng, lập kế hoạch quản lý rừng 5 năm và hàng năm là
bước tiếp theo sau giao đất, giao rừng. Đây là bước hết sức quan trọng, được xem là phương
án kinh doanh rừng, thậm chí cần phải được thừa nhận như phương án điều chế rừng cộng
đồng đố
i với những khu rừng tự nhiên giao cho cộng đồng. Kinh nghiệm từ Chương trình thí
điểm Lâm nghiệp cộng đồng tại 40 xã của 10 tỉnh, Dự án ETSP, Dự án Phát triển nông thôn ở
Dak Lak (RDDL) và một số dự án khác cho thấy việc lập kế hoạch quản lý rừng 5 năm vấp
phải hai vấn đề quan trọng sau:
Một là, quy trình quy phạm lâm sinh hiện tại không phù hợp để áp dụng trong điều kiện cộng
đồ
ng dân tộc thiểu số:
Có những sự khác biệt giữa kỹ thuật lâm sinh truyền thống và kỹ thuật lâm sinh áp dụng
cho rừng cộng đồng. Kỹ thuật lâm sinh truyền thống thường áp dụng đối với các lâm
trường quốc doanh, các công ty lâm nghiệp; trong khi đó kỹ thuật lâm sinh cho quản lý
rừng)
Chặt chọn từng cây theo cỡ kính, loài,
cường độ nhỏ (Dựa vào mô hình rừng
ổn định trong 5 năm, tiêu chuẩn lựa
chọn cây chặt, cây chừa)
Tần số, luân kỳ khai
thác
Không thường xuyên ("Chặt" và
"Chờ"), trên 20 – 30 năm
Thường xuyên hàng năm ở các địa
điểm khác nhau và trở lại khai thác
11
Bộ Lâm nghiệp (1993), Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 1993.
12
Bảo Huy (2006), Hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh đơn giản cho rừng tự nhiên Việt Nam, Dự án ETSP, Bộ
NN&PTNT - 2006
15
theo định kỳ 5 năm.
Công nghệ sử dụng Dây chuyền khai thác, vận xuất,
vận chuyển chủ yếu là máy móc
cơ giới
Sử dụng dụng cụ đơn giản của địa
phương, chủ yếu vận xuất bằng thủ
công, gia súc
Tác động đến môi
trường
kiện của cộng đồng các đồng bào dân tộc. Trong th
ực tế việc giao đất giao do rừng cán
bộ kỹ thuật tự điều tra đánh giá tài nguyên rừng và ấn định những kết quả này cho cộng
đồng, dẫn đến cộng đồng không hiểu họ sẽ quản lý các số liệu tài nguyên đó như thế nào
hoặc sẽ gây nghi ngờ vì họ không tin vào phương pháp.
Hai là, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng chưa được thừa nhận và thể ch
ế hoá như một
phương án kinh doanh rừng hay phương án điều chế rừng cộng đồng:
Hiện tại ở một số nơi bản kế hoạch quản lý rừng cộng đồng 5 năm do UBND huyện phê duyệt,
bản kế hoạch quản lý rừng cộng đồng hàng năm do UBND xã phê duyệt. Các bản kế hoạch
này mới được thừa nhận như là kế hoạch quản lý rừ
ng mục đích sử dụng rừng nội bộ, phi
thương mại. Khai thác gỗ từ rừng tự nhiên của cộng đồng cho mục đích thương mại chưa được
thừa nhận, kế hoạch khai thác gỗ từ rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý chưa được đưa vào
“hạn ngạch” hàng năm của các địa phương. Bản kế hoạch quản lý rừng cộng
đồng không
được xem là phương án kinh doanh hay phương án điều chế rừng tự nhiên của cộng đồng,
16
trong khi thực tế chỉ ra rằng sự cần thiết phải được xem nó như một phương án điều chế rừng
cho rừng cộng đồng như được giải thích trên.
Một số kiến nghị và giải pháp thúc đẩy quản lý rừng cộng đồng
Từ phân tích thực trạng và vấn đề đang tồn tại cho quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam, để
giải quyết các vấn đề và thúc đẩy quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam có hiệu quả hơn, một số
kiến nghị và giải pháp được đề xuất như sau:
Kiến nghị về chính sách cho quản lý rừng cộng đồng
▪ Phân nhóm cộng đồng cho qu
ản lý rừng
Mỗi cộng đồng có các điều kiện khác nhau về tự nhiên và kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến
của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc Việt Nam. Bộ NN&PTNT 2005 17
▪ Quy hoạch rừng và đất
Cần rà soát và điều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, trong đó có cả
quy hoạch của từng cộng đồng theo hướng:
- Quy hoạch diện tích rừng cung cấp gỗ cho làm nhà, cung cấp các lâm sản thiết yếu
khác cho cộng đồng trên cơ sở tính nhu cầu gỗ và lâm sản khác tối thiểu hàng năm
mà cộng đồng cần. Trong trường h
ợp còn ít rừng tự nhiên thì quy hoạch diện tích
đất lâm nghiệp để cộng đồng trồng rừng gỗ củi;
- Quy hoạch diện tích rừng bảo vệ nguồn nước và rừng thiêng của cộng đồng;
- Quy hoạch diện tích rừng cộng đồng cho sản xuất, kinh doanh thương mại;
- Quy hoạch diện tích đất nương rẫy tối thiểu mà cộng đồng cần để có th
ể đảm bảo
nhu cầu lương thực tối thiểu.
▪ Giao rừng cho cộng đồng:
- UBND huyện ra quyết định giao rừng cho các cộng đồng dân cư thôn. Như vậy có
thể tách việc giao đất lâm nghiệp bằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(Bìa đỏ) và giao rừng bằng Quyết định của Chủ tịch UBND huyện cho phép cộng
đồng dân cư thôn nh
ận rừng mà chưa cần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong
lúc này là phù hợp Luật đất đai và Luật BV&PTR.
- giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn và nhóm hộ tập trung vào các đối tượng rừng
chủ yếu sau:
Đối với cộng đồng dân cư thôn thuộc nhóm II:
o Rừng do cộng đồng tự công nhận từ lâu đời.
o Rừng cung cấp gỗ làm nhà ở với m
ức gỗ cần dùng tối thiểu của cộng đồng
quy định cho đối tượng rừng này đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Cộng đồng cùng với xã và kiểm lâm địa bàn có trách nhiệm xây dựng phương án
quản lý và sử dụng cho từng đối tượng rừng trên, xây dựng hương ước quy định rõ
loại và số lượng lâm sản được phép khai thác hàng năm sao cho không ảnh hưởng
đến sinh trưởng, phát triển và chức năng của rừng.
- Các sản phẩm khai thác từ rừng chỉ được phục vụ tiêu dùng trong cộng đồng, không
được lưu thông trên thị trường, không được mua bán trong cộng đồng.
- Khai thác lâm sản theo kế hoạch do cộ
ng đồng xây dựng, báo UBND xã, kiểm lâm
địa bàn giám sát theo dõi.
- Nhà nước không đầu tư đối với đối tượng rừng này, cộng đồng tự đầu tư cho gây
trồng, quản lý bảo vệ.
Đối với rừng tự nhiên có trữ lượng là rừng sản xuất giao cho cộng đồng:
- Cộng đồng cùng với xã và kiểm lâm địa bàn có trách nhiệm xây dựng phương án
quản lý (Phương án điều chế rừng c
ộng đồng) và sử dụng rừng được giao và được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Chủ tịch UBND huyện ra quyết định giao quyền
sử dụng rừng.
- Cơ chế hưởng lợi theo phương án điều chế rừng và kế hoạch khai thác hàng năm.
Cộng đồng được quyền sử dụng rừng là rừng non, phục hồi, rừng nghèo kiệt:
- Cộng đồng dân c
ư thôn được nhà nước đầu tư để thực hiện các biện pháp chăm sóc,
quản lý bảo vệ, phòng chống các tác động phá hoại rừng, phòng chống cháy rừng.
Mức đầu tư và hưởng lợi theo suất đầu tư hiện hành của nhà nuớc. Thời gian đầu tư
19
và hưởng lợi được tính từ thời điểm giao rừng cho đến thời điểm rừng sang trạng
thái rừng có trữ lượng. Sau đó, sẽ áp dụng cơ chế hưởng lợi như đối với rừng tự
nhiên có trữ lượng là rừng sản xuất giao cho cộng đồng.
(Khoán rừng) cho cộng đồng. Dựa vào kết quả thống kê tài nguyên rừng để xác định tỷ lệ
hưởng lợi từ rừng và để đánh giá kết quả quản lý rừng. Mặc dù nhiều nơi đã thử nghiệp
mọt số phương pháp cộng đồng đánh giá tài nguyên rừng nhưng nhìn chung chưa phù
hợp, khả năng áp dụng thấp cho nên Nhà nước cần nghiên cứu, tổng kết để dưa ra phương
pháp phù hợp để địa phương dễ dàng áp dụng.
20
▪ Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và tổ chức cộng đồng
Bài học kinh nghiệm ở nhiều nơi khác cho thấy 2 điều kiện quan trọng để quản lý rừng
cộng đồng thành công là: thứ nhất, điều kiện cần là lãnh đạo cộng đồng mạnh, rừng bắt
buộc phải bảo vệ để chống xâm hại, ý chí và nguyện vọng củ
a dân làng; thứ hai, điều kiện
đủ là nhận rừng phải là cơ hội giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân làng, hệ
thống chính trị trong xã, thôn phải mạnh và có ý thức cao về bảo vệ rừng. Cả hai điều kiện
trên là bài học kinh nghiệm đều liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và tổ chức của
cộng đồng.
▪ Tổng kết kinh nghiệm và tạo kiến thức m
ới cho phát triển LNCĐ
Tại mỗi địa phương, tiến hành thống kê, đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng để làm
cơ sở quy hoạch rừng cộng đồng, hợp lý hóa các diện tích rừng do cộng đồng đang quản
lý và sử dụng theo chính sách mới về đất đai và rừng.
Một số nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng trong nhữ
ng năm
qua là rất đáng quý, song đây mới chỉ là bước đầu. Còn rất nhiều vấn đề liên quan chưa
được giải quyết và nhiều kết quả nghiên cứu trước đây cần được kiểm chứng cho nên việc
nghiên cứu, xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng cần được coi trọng và tiếp tục thực
hiện.