1
Viện tư vấn phát triển KT-XH nông thôn và miền núi
----------------------
DỰ ÁN XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP
LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG SẢN PHẨM 2
BÁO CÁO CHÍNH
THỰC HIỆN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
Ở VIỆT NAM
5. Những khó khăn trở ngại khi thực hiện quản lý rừng bền v
ững………. 12
6. Bài học kinh nghiêm…………………………………………………... 13
7. Một số kiến nghị…………………………………………………….. 14
8. Viến cảnh………………………………………………………………. 17
Phụ biểu 1. Các chính sách và hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến quản lý
rừng bền vững
19 3
BÁO CÁO
THỰC HIỆN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
Ở VIỆT NAM Tóm tắt
Báo cáo này là một phần kết quả trong khuôn khổ hoạt động của Thỏa
thuận hỗ trợ nhỏ của FAO cho Viện Tư vấn phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
và miền núi (CISDOMA) để nghiên cứu xây dựng Phương pháp quản lý rừng bền
vững đáp ứng mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Báo cáo cung cấp đầu vào
cho quá trình xây dựng Phương pháp này.
Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững”
ở Việ
t nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20.
Từ đó đến nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong
các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt nam. Mặt khác, việc
chuyển đổi từ quản lý rừng truyền thống sang quản lý rừng bền vững hiện nay
4
Tổng trữ lượng gỗ là 813,3 triệu m
3
(rừng tự nhiên chiếm 94%) và khoảng 8,5
tỷ cây tre, nứa. Tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ
yếu tập trung ở 3 vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc.
Tuy diện tích rừng có tăng nhưng chất lượng rừng tự nhiên cũng như rừng
trồng còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và phòng hộ. Hiện trạng diện tích
đất chưa sử dụng toàn quốc còn 6,76 tri
ệu ha, trong đó đất trống đồi núi trọc là
6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước; chủ yếu là đất thoái hóa. Đây là
nguồn tài nguyên tiềm năng nhưng đồng thời cũng là thách thức cho phát triển sản
xuất lâm nghiệp.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn vừa qua đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, đặc biệt công tác bảo vệ và phát triển rừng trên ph
ạm vi toàn
quốc đã ngăn chặn được tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng, diện tích
rừng tăng từ 9,30 triệu ha năm 1995 lên 11,31 triệu ha năm 2000 và 12,61 triệu ha
năm 2005 (bình quân tăng 0,3 triệu ha/năm). Hiện nay bình quân mỗi năm trồng
mới được khoảng 200.000 ha rừng. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt khoảng
2.000.000 m
3
/năm để cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng lâm sản xuất khẩu
và tiêu dùng trong nước.
Hoạt động sản xuất của ngành lâm nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền
lâm nghiệp quốc doanh, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền lâm nghiệp
xã hội hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế của nền
kinh tế sản xuấ
t hàng hoá. Do đó, ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực tạo việc
làm, cải thiện đời sống cho gần 25% dân số của Việt Nam sống trên địa bàn rừng
đẩy các hoạt động thực tiễn để quản lý rừng được bền vững.
1. Nhận thức về quản lý rừng bền vững
Trong khi khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử dụng từ những
năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá lượng gỗ mà
rừ
ng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì ở Việt Nam
mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản lý, kinh
doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần khai thác
tiếp theo. Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện 7/1989)
là Phương án điều chế r
ừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp của
chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) để phát triển
Phương thức điều chế rừng ở Việt Nam. Nhiệm vụ chính là xây dựng một mẫu
phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế và đưa ra những đề xuất
cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà.
Cho đến nay, ngành lâm nghi
ệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”,
coi nó như một công cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý rừng của các
chủ rừng. Nghĩa là, tất cả các chủ rừng cho đến nay đều quản lý rừng theo cách lập
phương án điều chế được thực hiện theo những quy định tại Quyết định
40/2005/QĐ-BNN, ngày 7/7/2005 của Bộ NN-PTNT về Quy chế
khai thác gỗ và
lâm sản khác.
Mặc dù khái niệm quản lý rừng bền vững đã có từ những năm cuối thập kỷ
80 của thế kỷ 20 và không ngừng phát triển nhưng đến nay đối với cán bộ lâm
nghiệp khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động của quản
lý rừng bền vững. Thật vậy, một kết quả điều tra mớ
i đây của ORGUT cho thấy:
có 85% số người được phỏng vấn trả lời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền
vững. Nhưng khi hỏi tiếp theo là: Những hoạt động chính để tiến tới quản lý rừng
ế hiện nay cho thấy: Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là
những khái niệm rất mới mẻ, chưa có tiền lệ và chưa có thực tế nên chưa hề có
kinh nghiệm. Thậm chí đang có sự tranh cãi về những điểm khác nhau của hai
khái niệm này; nhiều người cho rằng: Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng là tiêu
chuẩn quản lý rừng bền vững; khi một đơn vị
được cấp chứng chỉ rừng thì có
nghĩa là ở đơn vị đó đạt quản lý rừng bền vững. Đây là những vấn đề cần được
tiếp tục thảo luận trên các diễn đàn lâm nghiệp.
2. Các chính sách liên quan đến quản lý rừng bền vững
Các chính sách cam kết của Chính Phủ là nhân tố quan trọng để quản lý
rừng bền vững. Các chính sách liên quan đến quản lý rừng bề
n vững được hiểu là
những chính sách điều tiết, chi phối trực tiếp và có tác động đến việc quản lý và sử
dụng nguồn tài nguyên rừng và đất rừng một cách bền vững. Cho đến nay đã có 25
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý rừng bền vững. Trong đó, số
văn bản thuộc các cấp ban hành là: Quốc hội: 3, Chính phủ: 7, Thủ tướng Chính
phủ: 5, Bộ NN-PTNT: 10 (Chi tiế
t xem Phụ biểu 1). Các đạo luật lâm nghiệp và
Chiến lược lâm nghiệp quốc gia thể hiện cam kết thực hiện quản lý rừng bền vững.
Các vấn đề về Quản lý rừng bền vững là một yếu tố chủ chốt trong các
chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam. Điều này được thể
hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
- Luật bả
o vệ và phát triển rừng, năm 2004: Việc sửa đổi Luật Bảo vệ và
phát triển rừng năm 2004 dựa trên quan điểm áp dụng quản lý rừng bền vững với
tất cả các khu rừng ở Việt Nam. Đây là đạo luật quan trọng nhất về lâm nghiệp.
Trong đó tại Điều 9 đã quy định các hoạt động để đảm bảo quản lý rừng bền v
ững:
Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh
tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển
hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng và 3,63 triệu
ha rừng tự nhiên. Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng s
ản xuất có chứng
chỉ rừng.
3. Những tồn tại của các chính sách hiện nay
- Như trên đã nêu, mặc dù Việt Nam đã có định hướng rõ ràng về quản lý
rừng bền vững được thể hiện trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Chiến lược
lâm nghiệp quốc gia. Nhưng các chính sách cụ thể dưới các đạo luật này (Nghị
định, Quyết định, Thông tư ...) lại chưa có hướng d
ẫn đầy đủ, nhất là chưa đưa ra
các tiêu chuẩn để đánh giá rừng được quản lý bền vững nhằm đảm bảo mọi tác
động đối với rừng đạt được sự bền vững.
- Chính sách, thể chế, trình độ, năng lực của Việt nam vẫn chưa phù hợp
với tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng của Hội đồng quản trị rừ
ng thế giới (FSC), cần
nâng cấp, sửa đổi, thay thế.
- Các chính sách bảo tồn rừng của Việt Nam mới chỉ chú trọng vào rừng
đặc dụng mà ít quan tâm tới sản xuất là chưa phù hợp với tiêu chuẩn số 9 của FSC
về các khu rừng có giá trị bảo tồn cao.
8
- Chưa có chính sách đào tạo, giáo dục và phổ cập về quản lý rừng bền
vững cho học sinh, sinh viên. Nên cán bộ sau khi tốt nghiệp đại học lâm nghiệp
hoặc các chuyên ngành liên quan chưa được giới thiệu về quản lý rừng bền vững
và chứng chỉ rừng, chưa biết lập kế hoạch quản lý rừng bền vững, chưa biết xây
dựng cơ sở dữ liệu, công tác giám sát và đ
ánh giá….
- Thực tế cho thấy, tại các cơ quan lâm nghiệp ở trung ương và địa phương
phần lớn (68%) số người được phỏng vấn cho rằng khung chính sách hiện nay
chưa phù hợp với yêu cầu của quản lý rừng bền vững; chỉ có rất ít (32%) số người
4.1.1. Tuyên truyền, tập huấn đào tạo về quản lý rừng bền vững: Ở Việt Nam,
công tác tuyên truyền về quản lý rừng bền vững bắt đầu được tiến hành từ đầu
năm 1998 chủ yếu do Tổ công tác quốc gia thực hiệ
n với sự hỗ trợ của các tổ chức
như: Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính (REFAS) của GTZ,