Tiểu luận SO SÁNH PHẬT GIÁO PHẬT GIÁO Ở
TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN
tạp của Nho giáo và các tín
ngưỡng dân gian. Từ vua
chúa đến thần dân đều tin và
phụng thờ Phật Thích Ca và
Lão Tử trên cùng một bàn
thờ.
Thời kỳ phát triển:
- Từ Tam Quốc đến Tây
Tấn (thế kỷ thứ III đến thế
kỷ thứ IV T.L). sau khi nhà
Ðông Hán mất ngôi, nước
Tàu bị chia làm ba khối, tức
là thời Tam Quốc: Ngụy,
Thục, Ngô. Mặc dù phân
chia như thế, trong những
nước ấy, từ vua chúa đến
dân gian đều quy ngưỡng
theo đạo Phật, và mỗi nước
đều có những vị cao tăng từ
Tây Vức sang truyền đạo.
Đến đời Tây Tấn, Phật Giáo
Thời kì ba Vương quốc
(57 TCN – 668 CN):
Thách thức đầu tiên khi
Phật giáo mới du nhập vào
Hàn Quốc là tín ngưỡng
Tát-mãn giáo bản địa, tín
ngưỡng này đã giúp hợp
nhất những bộ lạc khác
Tiên) đã gởi một phái đoàn
truyền giáo đến Nhật. Phái
đoàn này đã được nhà vua
Nhật Bản tiếp đón một cách
nồng hậu.
Thời kỳ phát triển
(Heian/BìnhAn/794-1184):
-Triều đại Nara (710 -
794) qua sự ủng hộ Phật
Pháp của Hoàng đế Thánh
Võ (Shomu 701 - 756),
vị vua thứ 45 của Nhật
Bản) Phật Giáo đã trở thành
quốc giáo của đất nước Phù
Tang. Năm 741, vua Thánh
Võ đã ban hành một quốc
lệnh rằng mỗi làng và mỗi
tỉnh phải xây dựng một ngôi
chùa và dân chúng phải
thành tâm thọ trì Phật Pháp.
Trung hoa mới thấy được
cái vẽ rực rỡ của thời kỳ
sang Ấn Ðộ, tìm học đạo
với những bậc minh-sư, và
đi chu du khắp Ấn Ðộ. Sau
15 năm, Ngài trở về Trung
hoa, đem rất nhiều kinh tạng
bằng Phạm-Văn và tổ chức
cuộc phiên dịch sang Hán-
Văn có trên 1.500 quyển.
thỏa mãn sự khao khát
chung về một vùng đất hạnh
phúc, không có khổ đau và
khuyến khích người dân
đồng nhất quốc vương của
họ hay những vị anh hùng
dân tộc với vị thần Phật
giáo. Với sự giúp đỡ của
Phật giáo, Vương triều Silla
đã thành công trong việc
chuyển đổi từ chế độ thị tộc
sang nhà nước quân chủtập
quyền với tính thống nhất
quốc gia mạnh mẽ.
- Vương triều Silla đặc
biệt coi trọng và nghiên cứu
sâu những bộ kinh Phật Đại
thừa, như: Kinh Hoa
Nghiêm, Kinh Pháp.
- Phật học viện có ảnh
hưởng nhất trong Phật giáo
Hàn Quốc được ra đời với
(Sanron); Pháp Tướng
Tông (Hosso); Hoa Nghiêm
Tông(Kegon).
-Triều đại Heian (794 -
1185)được xem là thời
hoàng kim củaPhật giáo
Nhật;
- Thời kỳ Kiếm Thương
(Kamakura1185-1333): Đây
là thời kỳ khủng hoảng, vì cả
nước bị đe dọa trầm trọng
bởi tàn phá khốc liệt từ sự
phân hóa nội bộ và bạo lực
dưới những tổ chức quân sự
được thành lập năm 1185
của bộ tộc Minamoto, ngoại
ô Kyoto, đã làm cho việc tu
tập và nghiên cứu Phật Đà bị
khựng lại một lúc lâu. Tuy
nhiên, cuối cùng mọi việc
cũng đâu vào đấy và Phật
giáo vẫn tiếp tục công việc
của mình.Nhật Liên Tông
(Nichiren) và Tịnh Độ Tông
(Jodo) cũng lần lượt xuất
hiện và được truyền bá rộng
rãi trên toàn nước Nhật.
cứu Phật học và sự thành
lập các hội Phật Giáo khắp
trong nước.
Thời kỳ suy vi và chấn
hưng:
Một số triều đại vui chúa
hạ lệnh cấm Phật Giáo
truyền bá, từ đó tạo thành
trên lịch sử Phật giáo 2 chữ
“Pháp nạn”. Nỗi bậc nhất là
4 lần pháp nạn phát sinh vào
thời kỳ Bắc Ngụy Thái Võ
Ðế, Bắc Châu Võ Ðế,
Hàn bản). Đây là Bộ Kinh
Phật được thực hiện vào đầu
thế kỉ 13 trong suốt thời
gian diễn ra chiến tranh với
người Mông Cổ. Bộ Kinh
này bao gồm hơn 80.000
mộc bản. Đây là một công
trình quốc gia được tạo nên
không chỉ bởi công sức của
chính quyền mà còn toàn
thể dân chúng, là sự kết tinh
của một nền văn hóa dân tộc
bắt nguồn từ đức tin Phật
giáo.
- Tới cuối triều đại
Goryeo Phật giáo đã phải
Ðường Võ Tông và Ngũ
Ðại Hậu Châu Thế Tông.
Sau cuộc đàn áp dã man
dưới triều đại vua Võ Tôn
vào năm 845. Cả Thiên Thai
Tông và Hoa Nghiêm Tông
đều bị tàn lụi vì sự đơn độc
của hai tông phái này. Thiền
và Tịnh Độ tông với nhiều
tín đồ, được sống sót, phục
hồi và tìm lại chỗ đứng
trong xã hội Khổng Mạnh.
Triều đại nhà Nguyên
(1215-1368):Mật giáo của
Phật giáo Tây Tạng được
giới thiệu đến miền Bắc
Trung Hoa nơi được sự đở
đầu của hoàng gia sau khi
Mông cổ xâm lăng TH.
Phật giáotiếp tục phát
triển, nhất là Mật tông của
Tây Tạng được hoàng gia
bảo trợ nên có nhiều ưu thế
hơn. Các hoàng đế Thuận
Trị, Khang Hy, Ung Chính,
Càn Long là những ông vua
hết lòng hộ trì Phật pháp và
bảo trợ nhiều công trình
Phật sự để đời như cho khắc
Thời kỳ cận đại
-Nhật Bản thôn tính Hàn
Quốc vào năm 1910 và thực
hiện có hệ thống chính sách
Nhật hoá nền văn hoá Hàn
Quốc
-Các nhà sư Hàn Quốc
được ủng hộ kết hôn, từ bỏ
truyền thống sống độc thân,
như các nhà sư Tân Tăng
Nhật Bản đã và đang làm.
-Sau khi Hàn Quốc được
giải phóng khỏi ách thống trị
Nhật Bản năm 1945, những
nhà tu hành còn độc thân của
Hàn Quốc muốn xua đuổi
những nhà sư đã kết hôn ra
khỏi cộng đồng Phật giáo.
Sau vài thập kỉ đấu tranh gay
gắt, hai phe phái Jogye và
Nhật bản trợ giúp để phục
hồi.
Taego, tiêu biểu cho hai chủ
gian, Phật giáo chỉ phụ
thuộc cho nên tinh thần Phật
giáo có vẻ bạc nhược.
- Phật giáo Hàn Quốc là
hợp nhất các quan điểm
khác nhau kết thành một hệ
thống tư tưởng. - Phật giáo là nền tảng tư
tưởng của giai cấp thống trị
trong quá khứ; đóng vai trò
là tôn giáo phổ biến trong
quần chúng nhân dân.
- Phật giáo Nhật Bản phát
huy đặc chất của Đại thừa,
coi nhẹ phần ẩn dật mà
thiên trọng phần hoạt động,
Nhật Bản.
2.2.5. Tông phái chính:
TRUNG QUỐC HÀN QUỐC NHẬT BẢN
Thiền Tông: là một tông
phái đặc biệt và thành tựu
nhất của Phật giáo Trung
Hoa.
Tại Trung Hoa lúc đầu
thiền bị ảnh hưởng mạnh
mẽ của đạo Lão và Khổng.
Thiền chỉ độc lập và nổi
tiếng từ thế kỷ thứ bảy, tức
phải đợi đến đời tổ Huệ
Năng (Hiu Neng, 638-713,
tổ thứ sáu) thì tông này mới
được truyền bá rộng rãi và
đã trở thành một tông phái
chính cho tới ngày nay.
Thiền (ch’an) là pháp môn
huấn luyện tâm linh nhắm
đến việc trực nghiệm thực
tại của vạn hữu, còn gọi là
tâm hay Phật tánh, hiện hữu
ở mọi chúng sanh. Theo
Thiền tông, thực tại này là
vô ngã (sùnya), không thể
diễn đạt bằng ngôn ngữ, và
cũng không thể nhận thức
đều có mặt tại Nhật, bao
gồm Thiền Tông, Tịnh Độ
Tông, Thiên Thai Tông,
Chân Ngôn Tông, Nhật
Liên Tông
Thiền được giới thiệu đến
Nhật vào khoảng thế kỷ thứ
9 từ Trung Hoa qua hai
Thiền phái Lâm tế và Tào
Động, cả hai phái này đều
ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng
cửa Lục Tổ Huệ Năng ở thế
kỷ thứ 8. Hiện nay ở Nhật
có ba Thiền phái như sau :
*Thiền Lâm Tế (Rinzai
Sect):thường la hét, quát
mắng, đánh đập hoặc áp
dụng hình thức “công án”
để khai thị đệ tử.Do công
khai sáng của thiền sư
người Nhật Vinh Tây
(Eisai, 1141-1215).Ngài đã
tìm đường đến Trung Hoa
để học đạo trong hai lần,