Thực trạng hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá tinh thần các dân tộc thiểu số tây nguyên các chuyên đề nghiên cứu - Pdf 13


Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Báo cáo tổng kết
các chuyên đề nghiên cứu

Thực trạng hởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa-tinh thần
các dân tộc thiểu số tây nguyên

Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS nguyễn ngọc hòa 6963-1
28/8/2008hà nội 2008
ụ văn hoá tinh thần ở vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
ThS. Đoàn Tuấn Anh
66
6. Những giải pháp bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống nhằm
đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên
ThS. Trung Thị Thu Thuỷ

90
7. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá cồng chiêng trong đời sống
của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Nguyễn Thị Triều
116

3
8. Những giải pháp đa dạng hoá một số sản phẩm văn hoá tiêu
biểu nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên hiện nay
ThS. Lê Văn Liêm

133
9. Xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
PGS, TS. Nguyễn Văn Nam
147
10. Hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá tinh thần của đồng
bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai
TS. Nguyễn Thị Kim Vân
159

Là địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an
ninh vừa là vùng văn hoá đặc sắc của nước ta, từ khi đổi mới đến nay, đời
sống kinh tế, xã hội và văn hóa củ
a các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều
phát triển. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng có cơ hội nhiều hơn
trong việc hưởng thụ các thành tựu về kinh tế, văn hóa, đặc biệt là về giáo
dục, y tế cũng như sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới Tuy nhiên do điều
kiện lịch sử cũng như những hạn chế trong quá trình triển khai các chính sách
mà khoảng cách giàu nghèo vẫn chưa được rút ngắ
n, đặc biệt là khoảng cách
hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đời sống văn hóa ở một số nơi chưa thật sự
lành mạnh, chưa thật sự trở thành sức đề kháng mạnh mẽ trong quá trình giao
lưu và hội nhập; đồng bào các dân tộc thiểu số ít có cơ hội để sáng tạo ra các
sản phẩm, giá trị văn hoá mới. Lợi dụng một số hạn chế này, các th
ế lực thù
địch đã lấp vào khoảng trống văn hóa đó những yếu tố văn hóa ngoại lai,
không lành mạnh lôi kéo đồng bào xa rời truyền thống văn hóa dân tộc, thậm
chí kích động ly khai, gây ra bất ổn chính trị.

5
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thực trạng hưởng thụ và sáng
tạo các giá trị văn hóa tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên" để
đánh giá thực trạng hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian; phân tích những nguyên nhân, những
bài học kinh nghiệm đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tạo cơ hội nhiều
hơn cho việc hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá góp phần vào sự
nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cở sở ngày càng lành mạnh đồng thời tạo
ra sức mạnh, tinh thần gắn kết cộng đồng để đấu tranh chống lại âm mưu các
thế lực thù địch. Chính vì vậy mà việc triển khai đề tài sẽ mang ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.

Tất cả những công trình trên tuy mới chỉ khai thác ở m
ột số bình diện nhất
định nhưng là những cứ liệu quý giá để tiếp tục nghiên cứu văn hóa Tây
Nguyên. Kế thừa những công trình này, tác giả muốn khai thác kỹ hơn về quá
trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên với mong muốn nhận diện, đánh giá lại quá trình hưởng thụ và sáng tạo
văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có phong trào xây dự
ng đời
sống văn hóa cơ sở kể từ khi có Nghị quyết TƯ 5 (khoá VIII) đồng thời đề xuất
những giải pháp tiếp tục tạo cơ hội nhiều hơn trong việc hưởng thụ và sáng tạo
văn hóa ở Tây Nguyên hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở khảo sát, đánh giá, đề tài phân tích thực trạng sáng tạo và
hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần đồng thời xác
định rõ những thành tựu
và hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm trong quá trình nâng cao cơ hội
hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần ở Tây Nguyên trong
thời gian qua.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở Tây Nguyên
trong thời gian sắp đến.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai trên cơ sở phương pháp luận củ
a chủ nghĩa Mác -
Lênin, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngoài những phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứu lý luận văn
hóa, văn hóa học, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp,
thống kê, điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phỏng vấn, đối thoại, toạ đàm
đồng thời kế thừa kết quả các công trình có liên quan.


ững vấn đề đang đặt ra.
Chương III. Những định hướng và giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và
sáng tạo các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên .

8
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ
ĐỂ NÂNG CAO CƠ HỘI HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN NAY

TS. Nguyễn Ngọc Hòa
1. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng đời sống văn hóa
Nếu như nói văn hóa là giá trị thì đời sống văn hóa chính là quá trình
hưởng thụ, trao đổi, chia xẻ những giá trị đó và sáng tạo ra các giá trị mới
trong từng môi trường văn hóa vốn đa dạng và phong phú. Chính vì vậy mà
xây dựng và phát triển văn hóa cơ sở không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong
việc tạo ra đời sống tinh th
ần cao đẹp, lành mạnh trong từng gia đình, làng
xóm, vùng miền mà còn phát huy được sức sáng tạo, nội lực cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là lĩnh vực nhạy cảm, tinh tế cho nên đặt
ra cho công tác lãnh đạo, quản lý văn hoá những nhiệm vụ, yêu cầu rất cao
của quá trình xây và chống trong văn hoá. Chính vì vậy mà Văn kiện Đại hội
lần thứ X khẳng định thêm vai trò của việc nâng cao đời sống văn hóa: “
Đẩy
mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành
mạnh”, “nâng cao chất lượng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng
lớp nhân dân”
1
. Để làm tốt được nhiệm vụ này không phải là điều dễ dàng,

chỉ tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, lành mạnh trong từng gia đình, cộng
đồng mà còn phát huy được tinh thần dân chủ và tính sáng tạo của nhân dân
trong quá trình CNH-HĐH đất nước.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta cần có kế hoạch
thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống
của nhân dân”.
Thực hiện di chúc của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
trọng vai trò của văn hóa, văn nghệ, thường xuyên chăm lo đời sống văn hóa,
đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động, đặc biệt là đồng bào các dân tộc
thiểu số đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình sáng
tạo ra những giá trị văn hóa mới.
Thứ hai là xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số được coi như
bướ
c khởi đầu có ý nghĩa nền tảng của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân
lao động trong việc sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa nghệ thuật,
từng bước tạo dựng lối sống văn minh, hiện đại.

10
Thứ ba là xây dựng đời sống văn hóa ở các dân tộc thiểu số không chỉ
tạo cơ hội hưởng thụ và sáng tạo mà còn là cuộc đấu tranh bền bỉ trên mặt
trận tư tưởng văn hóa nhằm khẳng định các giá trị dân chủ, tiến bộ của văn
hóa dân tộc và nhân loại đồng thời kiên quyết chống lại những hành vi thô
bạo, phi đạo đức, lai căng, cổ h
ủ lạc hậu, đi ngược lại thuần phong mỹ
tục…cũng như thường xuyên cảnh giác với âm mưu “diễn biến hòa bình” của
các phần tử phản động với ý định chia rẽ dân tộc. Bên cạnh đó xây dựng đời
sống văn hóa các dân tộc thiểu số cũng là để mở rộng giao lưu văn hóa trong
nước và với nước ngoài; vừa giữ gìn bản sắc các dân tộ
c thiểu số, vừa tiếp thu

văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Diện mạo đời sống văn hóa các dân t
ộc thiểu số
Có thể nói rằng, các dân tộc thiểu số Việt nam có một truyền thống văn
hoá vô cùng quí giá và đa dạng. Đây chính là nhân tố quan trọng để các dân
tộc thiểu số đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cải thiện và nâng cao
đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.
Thực tiễn hoạt
động văn hóa diễn ra ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
trong thời gian qua khá đa dạng và phong phú. Điều này thể hiện qua các
chương trình, kế hoạch đầu tư, phát huy di sản văn hóa cũng như phong trào xây
dựng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số của các địa phương trong cả nước.
Ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã
diễn ra nhiều hoạt động văn hóa cả
truyền thống lẫn hiện đại rất phong phú và
đa dạng. Những hoạt động này xuất phát từ nhu cầu văn hóa tinh thần đang
ngày càng gia tăng trên phạm vi cả nước đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu
số. Các liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn ở từng
vùng, từng khu vực, được mở rộng nhiều hơn, thậm chí đã giao lưu văn hóa với
quốc t
ế. Chúng ta cũng đã tổ chức tốt các lễ hội có tầm vóc quốc gia, quốc tế
nhằm bảo tồn và khai thác tốt các di sản văn hóa tiêu biểu góp phần đắc lực vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Nhiều hoạt động văn
hóa nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của nhiều vùng văn hóa trong cả nước, nhiều
quốc gia trong khu vực và thế giới; nhiề
u chương trình lễ hội văn hóa, du lịch
hấp dẫn, có tính cộng đồng được tổ chức công phu thu hút đông đảo người dân
và đồng bào thiểu số tham gia. Bên cạnh đó các dân tộc thiểu số luôn duy trì
ngày hội văn hóa các dân tộc nhằm kế thừa các giá trị văn hóa các dân tộc anh

chế văn hóa đóng vai trò quan tr
ọng. Chính vì vậy mà Thừa Thiên-Huế có
phong trào xây dựng nhà rông văn hóa( riêng huyện Nam Đông có tới 22 nhà
rông, huyện A Lưới có 9 nhà rông). Tỉnh Kon Tum, một tỉnh miền núi còn
gặp nhiều khó khăn nhưng nhân dân đã đóng góp kinh phí xây dựng và nâng
cấp 347 nhà rông văn hóa, khôi phục 530 đội cồng chiêng. Tỉnh Phú Yên xây
dựng 50 nhà rông cho các dân tộc thiểu số ở 3 huyện miền núi. Tỉnh Quảng
Nam tích cực xây dựng hàng chục nhà gươl cho đồng bào Cơ Tu…

13
Xây dựng môi trường văn hóa cũng là một trong những tiêu chí quan trọng
nhất để đánh giá chất lượng sống trong từng cộng đồng dân cư bởi lẽ nhu cầu
văn hóa, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa đều vận động trong một không
gian cụ thể. Trong hơn 5 năm triển khai phong trào, kết quả cho thấy nhiều địa
phương đã đạt trên 70% gia đình
đạt chuẩn văn hóa, (trung bình cả nước là
73,39% năm 2005), trên 40% làng xóm, khu phố đạt chuẩn văn hóa (trung bình
cả nước là 53,4%) nhiều cơ quan đơn vị đạt 100% gia đình văn hóa. Toàn tỉnh
Phú Yên đã có 76% gia đình đạt chuẩn văn hóa, có 385 thôn, buôn đạt danh hiệu
văn hóa, 91 thôn buôn miền núi đạt tiêu chuẩn văn hóa; Đăk Lăk có 75,4% số hộ
đạt danh hiệu gia đình văn hóa, trong đó hộ đồng bào thiểu số chiếm 30%.
Nhiều địa ph
ương đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác phòng
chống tệ nạn, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh. Ở Tây Nguyên nhiều
cơ quan đơn vị, doanh nghiệp kết nghĩa với từng buôn làng, để chia xẻ
những khó khăn với đồng bào thiểu số; tỉnh Thừa Thiên - Huế phân công 104
cơ quan, đơn vị giúp đỡ 52 xã đặc biệt khó khăn và xã nghèo… Điều này
minh chứng cho tinh thần tiên phong, cách mạng nhưng r
ất nghĩa tình của
cán bộ và nhân dân trong kháng chiến cũng như trong thời kỳ CNH, HĐH .

thi các dân tộc thiểu số. Mặc dù tình trạng chảy máu cồng chiêng vẫn diễn ra
nhưng ĐăkLăk vẫn còn giữ được 3.825 bộ, tổng cộng 25.488 cái. Tỉnh Kon
Tum còn giữ được 265 nhà rông và 1853 bộ cồng chiêng. Trong tháng 11 n
ăm
2007 vừa qua, tỉnh Đăk Lăk đã tổ chức thành công Festival Cồng chiêng Tây
Nguyên mang tầm quốc tế bằng nguồn vốn xã hội hóa hơn 15 tỷ đồng, đã thu
hút nhiều người quan tâm cả trong và ngoài nước. Nhiều giá trị văn hoá phi
vật thể của dân tộc B’râu, R’măm đã được kịp thời sưu tầm và lưu giữ.
Nhìn chung, những thành tựu trong sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa
tinh thầ
n cho đồng bào các dân tộc thiểu số đã minh chứng cho đường lối và
chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, do những điều kiện
khách quan về địa hình, khí hậu, lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, cũng như
những nhân tố chủ quan về lãnh đạo quản lý, cơ chế đãi ngộ mà vẫn còn nhiều
vấn đặt ra trong công tác xây dựng đời sống văn hóa. Chênh lệch trong đời
số
ng văn hóa ở nông thôn và miền núi vẫn còn khá xa so với miền xuôi, các đô
thị. Cơ hội hưởng thụ các thành tựu kinh tế xã hội, các giá trị văn hóa cũng như
tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa không nhiều, có nơi “đói” về văn hoá.
Theo điều tra sự chênh lệch này rất đáng quan tâm: nếu như chênh lệch về kinh
tế chỉ gấp 15 lần thì văn hóa gấp 100 lần. Điều này thể hi
ện ở chỗ “ việc xây

15
dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái,
xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo
ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu
kém, đặc biệt là đối với các sản phẩm văn hóa hiện đại. Đấu tranh ngă
n ngừa
văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều yếu kém, bất cập”.

16
việc xây dựng đời sống văn hóa gặp nhiều thuận lợi, cơ hội hưởng thụ và sáng
tạo các giá trị văn hóa ngày càng nhiều hơn.
Thứ ba là bệnh hình thức, chạy theo chỉ tiêu đề ra vẫn còn như một áp
lực cho nên tính bền vững và chất lượng xây dựng phong trào không cao .
Mặt khác một số nơi lại buông lỏng để cho cái “cũ mà xấu” được phục hồi
trong tang ma, cướ
i xin, lễ hội. Đánh giá về điều này nhiều địa phương đã
thẳng thắn cho rằng: cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa phát triển chưa thật sâu rộng, có nơi còn hình thức, việc công nhận danh
hiệu đơn vị văn hóa có trường hợp còn mang tính hình thức; phong trào xây
dựng đời sống văn hóa ở cơ sở phát triển không đồng đều, chưa b
ền vững.
Thứ tư là các thiết chế văn hóa (cả truyền thống lẫn hiện đại) chưa phát
huy được yêu cầu đề ra cho việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa của người dân
vùng các dân tộc thiểu số. Một số thiết chế văn hóa truyền thống, đặc biệt là
của các dân tộc thiểu số đã dần dần đánh mất chức năng vốn có của mình do
m
ột số nơi đã duy ý chí quá sức để biến nó thành các thiết chế chính trị một
cách khiên cưỡng và máy móc. Bên cạnh đó việc phủ sóng chưa đầy đủ, tạo
những vùng lõm ở một số huyện miền núi cũng như quản lý chưa chặt chẽ các
thiết bị thu hình nhập lậu qua các cửa khẩu đã tiếp tay cho người dân miền núi
(Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) sử dụng nhữ
ng sản phẩm văn hóa đồi trụy,
độc hại.
Suy cho cùng thì việc nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo các giá trị
văn hóa tinh thần cũng đồng nghĩa với việc xây dựng đời sống văn hóa ngày
càng lành mạnh, tốt đẹp. Cùng với cả nước, các địa phương vùng miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang tích cực triển khai những nhiệm vụ văn
hóa quan trọng, có tính chiến lượ

sắc về giá trị to lớn của di sản cũng như ý nghĩa nền tảng, lâu dài của việc xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở để họ tự giác bảo tồn, khai thác tốt di sản văn hóa
góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân. Hàng năm
cần xúc tiến việc tổng kết thực tiễn để đề xuất, nhân rộng những điển hình về

xã hội hóa các hoạt động văn hóa, mô hình thiết chế văn hóa, thông tin ở cơ sở.
Bốn là xây dựng và khai thác tốt các thiết chế văn hóa cơ sở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số. Đây là giải pháp thiết thực nhằm tận dụng có hiệu quả
các thiết chế văn hóa truyền thống cũng như hiện đại để thỏa mãn nhu cầu
hưởng thụ và sáng tạo văn hóa c
ủa nhân dân. Việc xây dựng các thiết chế văn

18
hóa phải dựa trên tính đặc thù của địa phương, tránh rập khuôn, bình quân và
phải xuất phát từ nhu cầu văn hóa thật sự của nhân dân. Cần đầu tư và tập
trung nhiều hơn cho thiết chế văn hóa miền núi, nông thôn và các dân tộc
thiểu số. Các thiết chế văn hóa phải có bản sắc riêng tùy thuộc vào phong tục,
tập quán của cộng đồng dân cư đang sinh sống, tránh tình trạng xây dựng một
cách sơ
sài, đồng phục.
Năm là tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp tục triển khai phong trào Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa cả bề rộng lẫn chiều sâu. Tiếp tục kiện toàn,
củng cố Ban chỉ đạo các cấp để nâng cao năng lực chỉ đạo, tổ chứ
c thực hiện
phong trào cũng như phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc, các sở, ban
ngành để phong trào ngày càng đi vào chiều sâu, tránh tình trạng hoạt động
hình thức, thời vụ. Đầu tư nguồn lực nhiều hơn cho vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.
Sáu là tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, nâng cao hiệu

n của đồng bào được cải thiện về nhiều mặt, đặc biệt là
sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” và Nghị
quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc. Những thành tựu này
đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển Tây Nguyên. Tuy vậy, bên cạnh
những thành công to lớn đó trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở
rộng giao lư
u, hội nhập quốc tế, việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng xuất hiện những tồn
tại, bất cập mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ tạo ra những nguy cơ, thách
thức cho chính sự phát triển bền vững của vùng. Tây Nguyên vẫn là nơi tỷ lệ
đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước; mức số
ng còn thấp
so với nhiều vùng. Chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp, việc
chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn
nhiều khó khăn; một số tập quán lạc hậu, hiện tượng mê tín, dị đoan có xu
hướng phát triển; một số truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên đang bị mai một; mứ
c hưởng thụ văn hóa của đồng bào
còn thấp,… Nói chung, trong phát triển các vùng DTTS ở Tây Nguyên chưa
có sự cân xứng, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã
hội, giữa sự thỏa mãn các nhu cầu vật chất với thỏa mãn các nhu cầu văn

20
hóa tinh thần mà lẽ ra chúng cần được phát triển cân xứng hơn nhằm tạo ra
sự hài hòa, ổn định trong phát triển.
Tuy nhiên, một hệ thống giải pháp đồng bộ khả thi phát triển đời sống
văn hóa tinh thần ở Tây Nguyên cần có sự nhận thức một cách đầy đủ, toàn
diện và đúng đắn thực trạng đời sống văn hóa tinh thần các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên, trong đó, việ

Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của cá nhân và do đó
nó thúc đẩy sản xuất và toàn xã hội phát triển. Nhu cầu càng cấp bách thì khả
năng chi phối hoạt động của con người càng cao. Quản lý, kiểm soát được
nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân. Trong trường hợp
này, trình độ nhận thức có sự chi phối nhất định đối với nhu cầu: nh
ận thức
sâu rộng sẽ có khả năng điều khiển sự thỏa mãn nhu cầu một cách hợp lý. Vì
vậy, nắm bắt nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch
định chính sách cũng như thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của cơ quan, đơn vị, cộng đồng, quốc gia, nhằm tiến tới thỏa mãn ngày
càng tốt hơn các nhu cầ
u.
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhu cầu văn hóa là một dạng
đặc biệt của nhu cầu thể hiện những đòi hỏi tất yếu của con người về mặt văn
hóa trong hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa. Chẳng hạn như: nhu cầu
xem phim, đọc sách, báo, nhu cầu sáng tạo các tác phẩm văn hóa nghệ
thuật,v.v Nhu cầu văn hóa là nhu cầu mang tính người, nảy sinh, phát triển
trong đ
iều kiện con người đã thỏa mãn ở một chừng mực nhất định các nhu
cầu cơ bản như ăn, mặc, ở. Mặt khác, nhu cầu này còn xuất phát từ nội tâm
con người, từ quá trình hoàn thiện phẩm chất, nâng cao trình độ thẩm mỹ và
văn hóa chung của con người.
Thị hiếu văn hóa (hay thị hiếu thẩm mỹ) là khả năng của con người đánh
giá về mặ
t văn hóa, thẩm mỹ những hiện tượng của hiện thực cũng như những
tác phẩm văn hóa nghệ thuật Khó có thể đưa ra được một cách tiếp cận vấn
đề thị hiếu dựa theo những tiêu chuẩn cứng nhắc. Nhưng, mọi người đều nhận
thấy rằng thị hiếu văn hóa được quy định bởi những điều kiện xã hội và l
ịch
sử cụ thể. Thị hiếu đó có liên quan chặt chẽ với một nhân tố mà chúng ta gọi

hiện đại củ
a nhân loại,… ngày càng thâm nhập sâu rộng hơn vào đời sống của
đồng bào DTTS, nhất là vào giới trẻ, tạo nên những thay đổi tích cực trong
nhu cầu, thị hiếu văn hóa của họ. Nhiều người trong số họ, dưới tác động của
những cái mới tích cực đã nâng cao trình độ nhận thức nói riêng, trình độ cảm
nhận văn hóa nói chung. Nhìn chung, họ nhanh nhạy hơn trong nhận thức,
nắm bắt cái mới, cái tích cực và m
ở rộng hơn tầm nhìn, thế giới quan, nhân
sinh quan của mình. Có thể nói, chính sách “đổi mới” “mở cửa” đến được với
người dân thì bên cạnh những tiện nghi cuộc sống do sự phát triển kinh tế
mang lại nó cũng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần hết sức quan trọng. Và

23
chúng tác động hết sức mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của đồng bào làm thay
đổi mạnh mẽ nhận thức, lối sống cũng như nhu cầu, thị hiếu hưởng thụ, sáng
tạo văn hóa của họ,… Kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa càng phát triển
tác động của chúng vào đời sống văn hóa và nhu cầu thị hiếu văn hóa của
đồng bào càng càng mạnh mẽ. C
ũng nhờ “đổi mới” mà đồng bào DTTS Tây
Nguyên nói chung, lớp trẻ nói riêng đạt được trình độ học vấn, trình độ nhận
thức cao hơn các thế hệ trước, tỏ ra nhanh nhạy hơn trong tiếp nhận những cái
mới, những cái hiện đại, cái tiện nghi trong cuộc sống.
Với những thành tựu kinh tế mang lại, thị hiếu văn hóa của đồng bào
cũng đang biến đổi. Nếu như tr
ước đây, họ tiêu dùng chủ yếu là các sản
phẩm, vật dụng do họ tự làm ra thì nay họ phụ thuộc nhiều hơn, phản ứng một
cách lựa chọn hơn các sản phẩm của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, sản
xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài vào. Do thu nhập và mức sống của
một bộ phận đồng bào tăng lên nhiều so vớ
i trước nên nhiều hộ gia đình đã

Vì vậy, mặc dù trình độ học vấn của nhiều thanh, thiếu niên dân tộc được
nâng lên cao hơn nhiề
u so với trước nhưng hiện nay vấn đề tạo nguồn cán bộ
DTTS cho hệ thống chính trị trong vùng đang gặp những khó nhăn.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, tăng cường giao lưu, giao
thương với bên ngoài và đa dạng hóa thành phần dân tộc do di cư, nền văn
hóa truyền thống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên nói chung, hệ giá trị
văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên nói riêng đang đứng
trước nguy cơ bị xâm hại và tàn lụi. Cùng với điều đó, nhu cầu hưởng thụ,
sáng tạo các giá trị văn hóa truyền thống cũng đang bị giảm sút nhanh hơn.
Văn hóa truyền thống Tây Nguyên mà cốt lõi là các giá trị văn hóa truyền
thống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên đang mất dần đi những cơ sở kinh
tế - xã hội mà nhờ chúng nền vă
n hóa này được nảy sinh, nuôi dưỡng. phát
triển. Trước hết, đó là sự giảm sút nhanh chóng của rừng Tây Nguyên do sự
khai thác và phá hoại quá mức của con người. Trước đây, nói tới Tây Nguyên
là người ta nghĩ tới những cánh rừng đại ngàn mênh mông với tán lá che
không thể nhìn thấy mặt trời, thì nay muốn thấy rừng phải đi rất xa và quả là
rất khó nếu muốn tìm đến loại rừng nguyên sinh “đại ngàn” như đã nói trên.
Nền v
ăn hóa các dân tộc bản địa Tây Nguyên vốn gắn bó chặt chẽ với rừng
(nên còn được gọi là nền “văn hóa rừng”), nên khi rừng không còn thì cơ sở
tự nhiên của nền văn hóa đó cũng không còn tồn tại, và lẽ dĩ nhiên nó sẽ suy
yếu đi, dễ bị tấn công, lấn át, thậm chí là bóp chết bởi các nền văn hóa bên
ngoài. Rừng đã lùi xa khỏi các buôn làng đồng bào DTTS và thay vào đấy là

25
những cánh đồng cà phê, cao su, tiêu, điều, ruộng lúa, ruộng ngô,… mênh
mông, với những phương thức canh tác hiện đại,… Nói cách khác, cùng với

tộc thường sống xen kẽ bên cạnh nhau theo kiểu “cài răng lược” hoặc “da
beo” và giữa các dân tộc, nhất là người Kinh và các dân tộc còn lại luôn có sự
giao lưu, gắn bó lâu đời trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm và xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status