Thực trạng hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá tinh thần các dân tộc thiểu sô Tây Nguyên - Pdf 13


Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Báo cáo tổng kết đề tài

Thực trạng hởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa-tinh thần
các dân tộc thiểu số tây nguyên

Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS nguyễn ngọc hòa
6963
28/8/2008hà nội 2008

các giá trị văn hóa tinh thần
17
1.3. Xây dựng đời sống văn hóa để nâng cao cơ hội hưởng
thụ và sáng tạo giá trị văn hóa tinh thần của đồng bào
các dân tộc thiểu số hiện nay
25
1.3.1. Xây dựng đời sống văn hóa - một đòi hỏi thiết thực
hiệ
n nay
25
1.3.2. Diện mạo đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số
28
Chương
II: HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN
HÓA TINH THẦN Ở TÂY NGUYÊN - THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA
37
2.1. Khái quát về văn hóa và đời sống văn hóa Tây Nguyên
37
2.1.1. Hệ thống sử thi
38
2.1.2. Loại hình dân ca
39
2.1.3. Văn hóa cồng chiêng - "linh hồn" của đời sống văn
hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
39
2.1.4. Một số nhạc cụ dân tộc truyền thống
40
2.1.5. Làng nghề truyề
n thống

ẢI PHÁP NÂNG
CAO CƠ HỘI HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA Ở TÂY NGUYÊN
79
3.1. Những định hướng cơ bản
79
3.1.1. Một số dự báo về nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn
hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
79
3.1.2. Một số định hướng cơ bản về xây dựng đời sống văn
hóa nhằm nâng cao cơ hội và hưởng thụ
và sáng tạo
các giá trị văn hóa
83
3.2. Những giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên

85
3.2.1. Xây dựng, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu văn hóa nhằm
định hướng giá trị trong xây dựng đời sống văn hóa
86
3.2.2. Tăng cường các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng
nhu cầu văn hóa cho đồng bào các dân tộc thiểu số
89
3.2.3. Đa dạng hóa các sản phẩm văn hóa
93
3.2.4. Xây dựng và phát huy vai trò các thiết chế văn hoá cơ sở
98
3.2.5. Phát huy dân chủ trong quá trình hưởng thụ và sáng
tạo các giá trị

Đây là một quá trình lâu dài nhưng phải thật sự bền bỉ để đưa văn hóa thấm
sâu vào trong đời sống xã hội, tạo dựng nên môi trường văn hóa lành mạnh để
phát triển bền vững.
Là địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an
ninh vừa là vùng văn hoá đặc sắc của nước ta, từ khi đổi mới đến nay, đời
sống kinh tế, xã hội và văn hóa củ
a các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều
phát triển. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng có cơ hội nhiều hơn
trong việc hưởng thụ các thành tựu về kinh tế, văn hóa, đặc biệt là về giáo
dục, y tế cũng như sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới Tuy nhiên do điều
kiện lịch sử cũng như những hạn chế trong quá trình triển khai các chính sách
mà khoảng cách giàu nghèo vẫn chưa được rút ngắ
n, đặc biệt là khoảng cách
hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đời sống văn hóa ở một số nơi chưa thật sự
lành mạnh, chưa thật sự trở thành sức đề kháng mạnh mẽ trong quá trình giao
lưu và hội nhập; đồng bào các dân tộc thiểu số ít có cơ hội để sáng tạo ra các
sản phẩm, giá trị văn hoá mới. Lợi dụng một số hạn chế này, các th
ế lực thù
địch đã lấp vào khoảng trống văn hóa đó những yếu tố văn hóa ngoại lai,
không lành mạnh lôi kéo đồng bào xa rời truyền thống văn hóa dân tộc, thậm
chí kích động ly khai, gây ra bất ổn chính trị.

5
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thực trạng hưởng thụ và sáng
tạo các giá trị văn hóa tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên" để
đánh giá thực trạng hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian; phân tích những nguyên nhân, những
bài học kinh nghiệm đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tạo cơ hội nhiều

n cho việc hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá góp phần vào sự

6
"Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Kon Tum", "Mấy suy nghĩ về bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Tây Nguyên", "Giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên" của TS. Nguyễn Ngọc Hoà; "Về vấn đề xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở" của TS. Nguyễn Hữu Thức
Tất cả những công trình trên tuy mới chỉ khai thác ở mộ
t số bình diện nhất
định nhưng là những cứ liệu quý giá để tiếp tục nghiên cứu văn hóa Tây
Nguyên. Kế thừa những công trình này, tác giả muốn khai thác kỹ hơn về quá
trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên với mong muốn nhận diện, đánh giá lại quá trình hưởng thụ và sáng tạo
văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có phong trào xây dựng
đời
sống văn hóa cơ sở kể từ khi có Nghị quyết TW V (khoá VIII) đồng thời đề
xuất những giải pháp tiếp tục tạo cơ hội nhiều hơn trong việc hưởng thụ và sáng
tạo văn hóa ở Tây Nguyên hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở khảo sát, đánh giá, đề tài phân tích thực trạng sáng tạo và
hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần đồng thời xác định rõ nhữ
ng thành tựu
và hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm trong quá trình nâng cao cơ hội
hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần ở Tây Nguyên trong
thời gian qua.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở Tây Nguyên
trong thời gian sắp đến.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai trên cơ sở phương pháp luận của chủ ngh
ĩa Mác -
Lênin, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu đề tài gồm có 3 chương như sau:
Chương I. Hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa - những vấn đề lý
luận và thực tiễn.
Chương II. Hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên -
thực trạng và những v
ấn đề đang đặt ra.
Chương III. Những định hướng và giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và
sáng tạo các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên .

8
CHƯƠNG I

HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Bản chất của hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là lĩnh vực vô cùng rộng lớn và sự thẩm thấu của văn hóa trong
đời sống xã hội đã nói đến chức năng, vai trò to lớn của văn hóa trong lịch sử.
Năm 1871 định nghĩa đầu tiên của E. Tylor về văn hóa được xem như là cột
mốc đánh dấu sự sinh thành củ
a một ngành học. Cách tiếp cận của Tylor xem
văn hóa như là những gì mà con người làm ra với tư cách là một thành viên
của xã hội. Sau này các định nghĩa theo thời gian mà trở nên nhiều hơn.
Nhiều nhà nghiên cứu đã thống kê hiện nay văn hóa đã có gần 1000 định
nghĩa. Trên Google hiện nay có khoảng 9.390.000 tài liệu đề cập đến vấn đề
này trong đó có gần 500 định nghĩa về văn hóa
1
.

culture hàm nghĩa là sự vun trồng, chăm bón, trau dồi. Ban đầu là vun trồng
chăm bón cây cối, về sau là vun trồng con người, xây dựng nhân cách con
người. Từ đây chúng ta càng thấm thía với câu nói của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: Vì lợ
i ích 10 năm thì ta phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì ta phải
trồng người. Như vậy, trồng người là văn hóa và nhiệm vụ trồng người không
phải một sớm một chiều mà phải lâu dài, kiên trì và bền bỉ, không được nôn
nóng, vội vàng.
Bản chất của văn hóa về cơ bản là như vậy, tuy nhiên trong thực tiễn
sinh động, văn hóa phong phú và đa dạng hơn nhiều. Điều đầu tiên mà ai
c
ũng có thể nhìn thấy là không ai sinh ra đã có văn hóa mà luôn có một môi
trường văn hóa luôn chờ sẵn. Văn hóa không phải từ trên trời rơi xuống mà là
một quá trình. Quá trình đó bao gồm rất nhiều hoạt động từ sáng tạo, truyền
bá, gìn giữ cũng như chia sẻ và chuyển giao các giá trị văn hóa. Tất cả các
hoạt động đó nhằm đảm bảo nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn
hóa của con ng
ười; tất cả vì con người với tư cách là động lực đồng thời cũng
là mục tiêu của sự phát triển.
1.1.2. Con người - chủ thể sáng tạo ra văn hóa
Khi nói về văn hóa, phần lớn các nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những
hoạt động của con người, một hoạt động có ý thức, được hướng dẫn bởi tư
duy. Con người được thừa nhận như một
động vật xã hội, động vật bậc cao
khi năng lực thể hiện bản chất người bằng những sản phẩm văn hóa. Chính vì
10
vậy mà khi nghiên cứu văn hóa chúng ta không được tách rời con người, bởi

phục, nhà cửa, công trình, đường sá; để thỏa mãn nhu cầu tinh thần con người
“sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, văn học nghệ thuật”, đó là những lý tưởng về thẩm mỹ, đạo đức,
chính trị, tôn giáo. Như vậy, về thực chất hoạt động của con người lan rộng ra

1
A A Radughin 2004, Văn hóa học, những bài giảng, Viện Văn hóa thông tin

11
tất cả các kênh của văn hóa vật chất cũng như tinh thần, thẩm thấu toàn bộ
trong đời sống xã hội.
Sự sáng tạo của con người không chỉ thể hiện ở việc làm ra các sản
phẩm văn hóa cụ thể mà còn biết văn hóa hóa, biểu tượng hóa những gì đã có
trong tự nhiên. Sáng tạo đó thể hiện năng lực bậc cao của con người trong quá
trình tìm kiếm và cải biế
n hiện thực ở chiều cạnh cao hơn, thẩm mỹ hơn.
Chúng ta có thể xem vịnh Hạ Long hay Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên
nhiên vì nó là sản phẩm của tạo hóa nhưng không có thể không thừa nhận
những gì con người đã “tô điểm” cho nó, khoác lên nó chiếc áo thẩm mỹ,
thậm chí là chiếc áo tín ngưỡng, tôn giáo linh thiêng. Con người đã sáng tạo
ra cái đẹp bằng cách như vậy, cho nên con người luôn đứng ở vị trí trung tâm
của sự sáng tạo, cho dù
ở lĩnh vực nào, nghệ thuật hay đạo đức, khoa học hay
tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán
1.1.3. Con người - sản phẩm của văn hóa
Con người là khởi đầu của sự sáng tạo ra văn hóa nhưng suy cho cùng
bản chất ấy lại mang tính xã hội và chịu sự chi phối của không gian và thời
gian. Từ khi ra đời với tư cách là “thiên nhiên thứ ai” văn hóa không dừng lại
như một sản phẩm thụ độ

văn hóa. Sự vận động các giá trị trong môi trường văn hóa đã làm sinh động
đời sống văn hóa đồng thời bộc lộ khá rõ tính tương đối của các giá trị. Để có
được văn hóa, con người phải được trao truyền, chia xẻ những giá tr
ị. Các
thiết chế văn hóa của mỗi cộng đồng phải phát huy tối đa chức năng của mình
để làm cho văn hóa thẩm thấu vào từng ngõ ngách của đời sống văn hóa. Mỗi
cá nhân trong cộng đồng được quyền tiếp xúc và hưởng thụ các giá trị với tư
cách là một thành viên của cộng đồng đó. Ngược lại sự thua thiệt về cơ hội
hưởng thụ các giá trị
nói đến sự bất bình đẳng về văn hóa.Đây là vấn đề luôn
luôn được các nhà lãnh đạo, quản lý quan tâm khi xây dựng những chính sách
văn hóa phù hợp với từng cộng đồng văn hóa cụ thể.
Có thể nói rằng, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo hay là sản
phẩm của văn hóa cũng đều nằm trong cấu trúc toàn vẹn của nó. Con người
được hiểu như là khởi đầu với t
ư cách là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nhưng
đồng thời là kết quả của sự phát triển văn hóa; vừa là mục tiêu vừa là động
lực của văn hóa. Khi nói con người là động lực của sự phát triển chúng ta đề
cập đến năng lực sáng tạo, nhưng khi nói con người là mục tiêu, chúng ta phải
nhìn nhận ở mức độ hưởng thụ các giá trị văn hóa mà loài người đã tạo ra.
Đây c
ũng là cơ sở để đánh giá chất lượng sống hay chỉ số phát triển của con

13
người trong mỗi cộng đồng, quốc gia một cách cụ thể. Tuy nhiên, để hiểu một
cách đúng đắn vấn đề này, chúng ta phải bắt đầu từ nhu cầu văn hóa tinh thần,
trong đó nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng.
Như vậy, hưởng thụ và sáng tạo văn hoá là một quá trình vận động và
biến đổi của các hoạt động vă

trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”. Nhu cầu là một phạm
trù mang tính lịch sử. Mức độ và phương thức thỏa mãn nhu cầu về cơ bản
phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Nhu cầu của các tầng lớp, nhóm,
cộng đồng được hình thành tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh (kinh tế, xã hội,
tự nhiên) của họ cũng như tùy thuộc vào những
đặc trưng về nhân khẩu,
chủng tộc, dân tộc Nhu cầu được phân thành nhiều loại: Xét về mặt chủ thể,
có nhu cầu cá nhân, nhu cầu tập thể, nhu cầu xã hội; xét về mặt hoạt động, có
nhu cầu lao động, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu trao đổi, nhu cầu giải trí,v,v ;
xét về mặt đối tượng, có nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần; xét về mặt chức
năng, có nhu cầu chính, nhu c
ầu phụ; xét về mặt đạo lý, có nhu cầu hợp lý,
nhu cầu không hợp lý,v.v
Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của cá nhân và do đó
nó thúc đẩy sản xuất để xã hội phát triển. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng
chi phối hoạt động của con người càng cao. Quản lý, kiểm soát được nhu cầu
đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân. Trong trường hợp này,
trình độ nh
ận thức có sự chi phối nhất định đối với nhu cầu: nhận thức sâu
rộng sẽ có khả năng điều khiển sự thỏa mãn nhu cầu một cách hợp lý. Vì vậy,
nắm bắt nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định
chính sách cũng như thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội của cơ quan, đơn vị, cộ
ng đồng, quốc gia, nhằm tiến tới thỏa mãn ngày
càng tốt hơn các nhu cầu văn hóa.
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhu cầu văn hóa là một dạng
đặc biệt của nhu cầu thể hiện những đòi hỏi tất yếu của con người về mặt văn
hóa trong hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa. Chẳng hạn như: nhu cầu
xem phim, đọc sách, báo, nhu cầu sáng tạo các tác phẩm v
ăn hóa nghệ

ải thông qua hoạt động văn hóa.
Con người sống không thể không hoạt động thực tiễn và một trong nhiều hoạt
động quan trọng của thực tiễn có hoạt động văn hóa được xem như là hoạt
động ở tầng bậc cao. Nhà nghiên cứu văn hóa Đoàn Văn Chúc, trong tác
phẩm Xã hội học văn hóa cho rằng, dù ở bất cứ thời đại nào thì con người
cũng dùng thời gian của mình vào 4 loại hoạt
động chủ yếu: Đó là hoạt động
lao động sản xuất để đảm bảo sự sống; hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân
trong đời sống xã hội; hoạt động duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân và
những hoạt động thuộc đời sống tinh thần
1
. Cho dù có nhiều cách tiếp cận về

1
Đoàn Văn Chúc, Xã hội học văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, 1997, tr 224

16
cách phân chia này nhưng nhìn chung mọi hoạt động của con người về cơ bản
là để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, trong đó hoạt động văn hóa có ý
nghĩa vô cùng quan trọng.
Thực tế cho thấy hoạt động văn hoá chính là quá trình sản xuất (sáng
tạo) và tiêu dùng, tiêu thụ (hưởng thụ) những sản phẩm (giá trị) văn hóa đáp
ứng nhu cầu văn hóa của con người. Đó là một chuỗi những ho
ạt động như
sản xuất, sáng tạo, truyền bá, chia sẻ, lưu giữ, hưởng thụ văn hóa…Chính vì
vậy mà muốn tạo cơ hội cho việc sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa
tinh thần thì không gì hơn là phải tăng cường các hoạt động văn hóa. Cũng
thông qua bức tranh hoạt động văn hóa chúng ta mới có thể đánh giá được đời
sống văn hóa phong phú hay nghèo nàn, đa dạng, độc đáo hay ng
ưng đọng,

Tuy nhiên sản phẩm văn hóa cao nhất, đặc biệt nhất chính là con người.
Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, không chỉ lưu giữ văn hóa mà
còn là sản phẩm văn hóa. Một nghệ nhân trong bất cứ loại hình văn hóa nào
cũng là sản phẩm văn hóa vô cùng quý giá, bởi lẽ mất nghệ nhân thì mọi hoạt
động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa không còn ý nghĩa.
Điều này lại hết sức
có ý nghĩa với văn hóa dân gian, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Tất cả những thành tố trên, từ nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa để
thỏa mãn nhu cầu đến sáng tạo các sản phẩm văn hóa đều gắn với một không
gian văn hóa nhất định. Chính vì vậy mà trong cùng một thời điểm việc
hưởng thụ và sáng tạo các giá tr
ị văn hóa không giống nhau. Chẳng hạn, nếu
như hiện nay ở các đô thị lớn, internet đã trở thành một nhu cầu văn hóa lớn,
đã hình thành một lớp cư dân mạng, thì ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào
các dân tộc thiểu số những phương tiện tối thiểu như báo chí, truyền hình vẫn
còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy mà việc xác định đúng nhu cầu hưởng
thụ và sáng tạo văn hóa trong từ
ng thời điểm, từng địa bàn cụ thể là hết sức
quan trọng trong quá trình nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân
hiện nay.
1.2.2. Sự đa dạng trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị
văn hóa tinh thần
Hưởng thụ văn hoá là khái niệm chỉ quá trình tiêu dùng các sản phẩm
của các loại hình nghệ thuật (văn học, sân khấu, múa, âm nhạc, kiến trúc, mỹ
thuật), sản phẩm của truyề
n thông (sách báo, phát thanh, truyền hình, mạng
internet ), các sản phẩm du lịch văn hoá, thể dục thể thao. Hưởng thụ các sản

18
phẩm văn hoá là quá trình chủ thể tác động vào các tác phẩm nghệ thuật và

1
.
Một đặc điểm quan trọng nữa là sự thay đổi về phương thức quản lý
kinh tế, xã hội và văn hóa trong thời gian gần đây đã làm thay đổi nhanh

1
Phạm Tùng Thư, Nhu cầu và xu thế tiêu dùng văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 12/2004

19
chóng cách thức thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong mọi tầng lớp dân
cư. Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thu nhập của người dân.
Chính vì vậy mà sự đa dạng về nhu cầu văn hóa cũng như mức độ hưởng thụ
và sáng tạo văn hóa là hết sức phong phú và sinh động, thậm chí là phức tạp.
Có thể thấy rằng trong những năm đổi mới v
ừa qua, cùng với sự cải
thiện nhanh của đời sống vật chất, nhu cầu, thị hiếu văn hóa của mọi tầng lớp
dân cư trong xã hội ở nước ta cũng đã có nhiều thay đổi, thậm chí là phong
phú và phức tạp. Cũng từ thực tế này mà hệ thống nhu cầu tiêu dùng, hưởng
thụ văn hóa của người dân biến đổi một cách nhanh chóng, phong phú và
phản ảnh ở nhiều c
ấp độ khác nhau. Trên thực tế ngày nay, mọi người dân nói
chung không chỉ có xu hướng thỏa mãn trực tiếp nhu cầu có tính chất vật chất
trong ăn, mặc, ở, mà còn hướng đến sự cảm thụ văn hóa, nghĩa là đòi hỏi cái
đẹp trong các sản phẩm văn hóa. Chẳng hạn, một chiếc áo không còn thuần
túy là để mặc che thân mà người tiêu dùng, hưởng thụ tìm thấy trong đó
những giá trị văn hóa, thậm chí là những biể
u tượng văn hóa; một tờ báo
không chỉ tồn tại như là sản phẩm cung cấp thông tin mà còn phải đẹp, phải
“bắt mắt”, phải mang những biểu tượng văn hóa và bản sắc
Sự đa dạng trong hưởng thụ và sáng tạo văn hóa là một quy luật tất yếu

luật tất yếu của quá trình cung - cầu, trong tính quy luật giữa kinh tế với văn
hóa, chính trị với văn hóa, của quy luật kế thừa và giao lưu văn hóa cũng như
tâm lý tiêu dùng có tính lịch sử trong đờ
i sống văn hóa.
Tuy nhiên, khẳng định sự đa dạng và sinh động trong hưởng thụ, tiêu
dùng và sáng tạo trong đời sống văn hóa không đồng nghĩa với việc cổ súy
cho thái độ bàng quan với những hoạt động văn hóa mà quan trọng là để có
cơ sở khoa học cho việc dự báo xu hướng biến đổi trong hưởng thụ và sáng
tạo văn hóa của mọi tầng lớp dân cư, từ đó tìm ra nhữ
ng định hướng và giải
pháp tạo cơ hội hưởng thụ và nâng cao sức sáng tạo văn hóa một cách lành
mạnh và công bằng. Theo đánh giá của chúng tôi, hiện nay, quá trình hưởng
thụ, tiêu dùng và sáng tạo văn hóa có mấy xu hướng cơ bản sau:
Một là xu hướng hiện đại hóa trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn
hóa. Đây là xu hướng đang nổi trội trong thực tế hiện nay bởi quá trình toàn
cầu hóa kinh tế và sự hội nh
ập đang diễn ra một cách mạnh mẽ. Các sản
phẩm, thành tựu văn hóa hiện đại như điện ảnh, truyền thông đang ngày càng
có chỗ đứng quan trọng trong đời sống văn hóa của mọi tầng lớp dân cư, đặc

21
biệi là lớp trẻ. Hiện tượng Bi Rain, ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc biểu diễn ở sân
vận động Quân khu 7 đã thu hút một lượng lớn khán giả trẻ với giá vé rất cao
vừa qua là một ví dụ về nhu cầu hưởng thụ văn hóa hiện nay. Ngày lễ Tình
yêu 14/2 vốn có gốc gác từ phương Tây nhưng nó đã trở thành nhu cầu phổ
biến ở Việt Nam, thậm chí ở những nước theo đạo H
ồi. Hay như Nôel vốn là
một ngày lễ của Thiên chúa giáo, chủ yếu ở phương Tây, nhưng ngày nay nó
đã trở thành một lễ hội của đa số người dân, kể cả những người không theo
đạo hay khác đạo…

của họ từ vật chất đến tinh thần, từ kinh tế đến văn hóa. Kinh tế thị trường,
sản xuất hàng hóa trong quá trình m
ở rộng giao thương, giao lưu đã mang đến
nhiều cái mới, cái lạ, tạo nên nhiều đổi thay trong đời sống văn hóa của nhân
dân, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số. Những biến đổi này đã thay đổi
nhu cầu cũng như thị hiếu văn hóa ở một mức độ nào đó trong từng vùng
miền cụ thể.
Trước hết là các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà
nước, các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ, những tri thức tiến bộ,
hiện đại của nhân loại,… ngày càng thâm nhập sâu rộng hơn vào đời sống
của mọi người dân, nhất là vào giới trẻ, tạo nên những thay đổi tích cực
trong nhu cầu, thị hiếu văn hóa của họ. Nhiều người trong số họ, dưới tác
động của những cái mới tích cự
c đã nâng cao trình độ nhận thức nói riêng,
trình độ cảm nhận văn hóa nói chung. Nhìn chung, họ nhanh nhạy hơn trong
nhận thức, nắm bắt cái mới, cái tích cực và mở rộng hơn tầm nhìn, thế giới
quan, nhân sinh quan của mình. Có thể nói, chính sách “đổi mới”, “mở cửa”
đến được với người dân thì bên cạnh những tiện nghi cuộc sống do sự phát
triển kinh tế mang lại nó cũng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thầ
n hết sức
quan trọng. Chính sự thay đổi này đã tác động hết sức mạnh mẽ đến đời
sống văn hóa của đồng bào làm thay đổi mạnh mẽ nhận thức, lối sống cũng
như nhu cầu, thị hiếu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của họ…Kinh tế thị
trường và sản xuất hàng hóa càng phát triển tác động của chúng vào đời
sống văn hóa và nhu cầu th
ị hiếu văn hóa của đồng bào càng càng mạnh mẽ.
Cũng nhờ “đổi mới” mà mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nói chung, lớp trẻ
nói riêng đạt được trình độ học vấn, trình độ nhận thức cao hơn các thế hệ
trước, tỏ ra nhanh nhạy hơn trong tiếp nhận những cái mới, những cái hiện

chính trị, văn hóa, xã hội. Và lẽ đương nhiên, trong bố
i cảnh đó những nhu
cầu, thị hiếu văn hóa gắn với những sinh hoạt văn hóa truyền thống không
còn sức hút đối với họ như trước. Các nhu cầu chính trị - xã hội một thời
thiêng liêng như “lý tưởng cách mạng”, phấn đấu đứng vào hàng ngũ Đảng,
Đoàn, cũng như sự tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội trở
nên mờ nhạt, thiếu vắng trong một b
ộ phận đáng kể những người này. Vì vậy,
mặc dù trình độ học vấn của nhiều thanh, thiếu niên được nâng lên cao hơn

24
nhiều so với trước nhưng hiện nay vấn đề tạo nguồn cán bộ cho hệ thống
chính trị đang gặp những khó khăn.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, tăng cường giao lưu, giao
thương với bên ngoài và đa dạng hóa thành phần dân tộc do di cư, nền văn
hóa truyền thống của các dân tộc bản địa, hệ giá trị văn hóa truyền thống các
dân tộc thiể
u số đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại và tàn lụi. Cùng với điều
đó, nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo các giá trị văn hóa truyền thống cũng đang bị
giảm sút nhanh hơn. Văn hóa truyền thống mà cốt lõi là các giá trị văn hóa
truyền thống đang mất dần đi những cơ sở kinh tế - xã hội mà nhờ chúng nền
văn hóa này được nảy sinh, nuôi dưỡng và phát triể
n. Trước hết, đó là sự
giảm sút nhanh chóng của rừng do sự khai thác và phá hoại quá mức của con
người. Chẳng hạn như trước đây, nói tới Tây Nguyên là người ta nghĩ tới
những cánh rừng đại ngàn mênh mông với tán lá che không thể nhìn thấy mặt
trời, thì nay muốn thấy rừng phải đi rất xa và quả là rất khó nếu muốn tìm đến
loại rừng nguyên sinh “đại ngàn” như đã nói trên. Nền văn hóa các dân tộ
c
bản địa Tây Nguyên vốn gắn bó chặt chẽ với rừng (nên còn được gọi là nền

trong từng môi trường văn hóa vốn đa dạng và phong phú. Chính vì vậy mà
xây dựng và phát triển văn hóa cơ sở không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong
việc tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, lành mạnh trong từng gia đình, làng
xóm, vùng miền mà còn phát huy được sức sáng tạo, nội lực cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là lĩnh vực nhạy cảm, tinh tế cho nên đặt
ra cho công tác lãnh đạo, quản lý văn hoá những nhiệm vụ, yêu cầu rấ
t cao
của quá trình xây và chống trong văn hoá. Chính vì vậy mà Văn kiện Đại hội
lần thứ X khẳng định thêm vai trò của việc nâng cao đời sống văn hóa: “ Đẩy
mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành
mạnh”, “nâng cao chất lượng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng c
ủa các tầng
lớp nhân dân”
1
. Để làm tốt được nhiệm vụ này không phải là điều dễ dàng,
đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc trong đó có 53 dân tộc thiểu số sống chủ
yếu ở vùng miền núi. Do những điều kiện lịch sử nhất định mà đời sống văn
hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số
có nhiều khoảng cách so với
miền xuôi, đặc biệt là chênh lệch khá xa về mức hưởng thụ và sáng tạo văn hóa

1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006, tr 213, 214.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status