Các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở phú yên - Pdf 13



Sở khoa học và công nghệ phú yên

________________________________________________

báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

các truyền thuyết, huyền thoại liên quan
đến di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh
ở phú yên chủ nhiệm đề tài: đào minh hiệp
đoàn việt hùng
Cơ quan chủ trì: hội liên hiệp văn học nghệ thuật phú yên

15
II.2-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp ở thế kỷ XIX
……….18
II.3-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ ở thế kỷ XX
19
III. Đặc điểm văn hoá vùng đất Phú Yên 22
III.1-Văn hóa ẩm thực
22
III.2-Trang phục 23
III.3-Nhà ở
23
III.4-Phong tục tập quán
24
III.5-Tín ngưỡng
24
III.6-Lễ hội
25
III.7-Tôn giáo
25
III.8-Văn nghệ dân gian, văn học
26
III.9-Nghệ thuật
27
III.10-Trò chơi dân gian
27
III.11-Di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng
28
.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC TRUYỀN THUYẾT

III.3.2-Chủ đề của các dị bản
41
III.3.3-Nội dung của các dị bản
41
IV. Truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên với mối quan hệ trong
khu vực Nam Trung bộ
……………………………………………………………………………………… 42
IV.1-Truyền thuyết ở Phú Yên với mối quan hệ trong khu vực
43
IV.2-Huyền thoại ở Phú Yên với mối quan hệ trong khu vực 44

Chương 3: TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI LIÊN QUAN ĐẾN
DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ DANH THẮNG Ở PHÚ YÊN
45
I. Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Sông Cầu
…………………………………… 45
1-Tiếng khóc trên đèo Cù Mông 49
2-Truyền thuyết gò Cà và vực Linh Thiêng
51
3-Huyền thoại về tên gọi đèo Cù Mông
52
4-Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc ở đầm Cù Mông
53
5-Tiên nữ ở bãi Tiên
55
6-Truyền thuyết về dấu chân Nguyễn Ánh ở vũng La
57
7-Bàn cờ ở gành Tướng
57
8-Truyền thuyết về hòn Bồ ở vũng Lắm

79
3-Núi Nhạn Sông Đà và chuyện xây tháp
81
4-Chuyện hai con rắn thần trên sông Đà Rằng
84
5-Huyền thoại Đá Bàn
85
6-Huyền thoại hang Hổ và hang Chùa
86
7-Long Thuỷ-chuyện rồng phun nước cứu dân
88
8-Huyền thoại về các hồn ma ở chợ Ma Liên
90
9-Truyền thuyết về ngôi chùa cổ trên hòn Chùa
91
IV. Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Đông Hoà 92
1-Truyền thuyết về núi Đá Bia 94
2-Truyền thuyết về hồ Hảo Sơn
97
3-Mũi Điện và huyền thoại về quả trứng vàng của Đông Hải Long Phi
97
4-Bàn cờ tiên ở Đập Hàn
101
5-Ngôi miếu thờ bà Trang ở làng Hảo Sơn
102
V. Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Tây Hoà 103
1-Huyền thoại vực Phun và sông Bánh Lái 104
2-Tiên nữ bàu Hương
107
3-Vườn chè trên núi Chúa

11-Suối Chồng Mâm
133
VIII. Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Đồng Xuân 134
1-Huyền thoại về sông Kỳ Lộ và chiếc đầu vua Lới 136
2-Ấm nước nóng của vợ Chi Lới và suối Triêm Đức
136

4
3-Huyền thoại trên núi La Hiên 137
IX. Truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Sông Hinh 138
1-Chuyện tình bên thác H’Ly 139
2-Huyền thoại về con lươn ở buôn Đức
141
3-Nàng H’Pia, H’Lúi và con voi rừng
142
4-Sự tích hang Cồ
144

Kết luận:
Ý NGHĨA VĂN HOÁ, XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC CỦA
CÁC TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI TRÊN VÙNG
ĐẤT PHÚ YÊN.
NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ KIẾN NGHỊ 146

Phụ lục 1: MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ, DÁNH THẮNG CHƯA
PHÁT HIỆN TRUYỀN THUYẾT, HUYỆN THOẠI
150
1-Vịnh Xuân Đài 150
2-Từ vũng Dông đến vũng Lắm
152

5
LỜI GIỚI THIỆU Phú Yên là một tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung bộ, phía đông giáp biển Đông,
phía tây giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắc Lắc, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía bắc giáp
tỉnh Bình Định. Diện tích tự nhiên là 5.045km2 với dân số 803.846 người (năm 2000),
gồm nhiều tộc người như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng, Dao trong đó phần lớn là
người Kinh.
Kể từ năm 1597, khi Lương Văn Chánh đưa dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận
Quảng đến Trấn Biên kh
ẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp và lập nên phủ Phú Yên vào
năm 1611 thì Phú Yên thực sự có tên gọi chính thức.
Với một vị trí chiến lược quan trọng, vào thế kỷ 18 Phú Yên là nơi đối đầu quyết
liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn, nơi đã ghi chiến công vang dội của Nguyễn Huệ
vào tháng 7-1775, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên,
Phiên Trấn và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp.
Từ thế kỷ XIX trở về sau này, trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp,
Phú Yên đã phát huy hào khí của ông cha ngày trước, hưởng ứng phong trào Cần Vương
do Lê thành Phương lãnh đạo và cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân, đập tan
chiến dịch Atlante của thực dân Pháp, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ của
cả nước. Trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, phong trào đồng khởi Hoà
Thịnh của Phú Yên cùng vớ
i nhiều chiến công vang dội khác đã tô đậm thêm truyền thống
chống ngoại xâm vẻ vang của tỉnh, kết thúc bằng cuộc tổng tiến công nổi dậy giải phóng
tỉnh Phú Yên 1-4-1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hoá, như bộ trường ca

u
công sức để sưu tầm, ghi chép, nghiên cứu và mô tả một cách trung thực và chính xác
nhất những cảnh đẹp ấy cùng nội dung câu chuyện, với mong muốn không bỏ hoài những
kho báu mà thiên nhiên và cha ông đã để lại.

Tuy Hoà, tháng 11 năm 2006
Nhân kỷ niệm 395 năm Phú Yên (1611-2006)

Lời cảm ơn

Các tác giả công trình chân thành cảm ơn:

Các Ông (Bà): Trần Sĩ Huệ, Ka Sô Liễng, Nguyễn Định, Nguyễn Đình Chúc, Ngô
Sao Kim, Dương Thái Nhơn, Tấn Lộc, Nguyễn Đích, Nguyễn Vinh, Nguyễn Điệm, Trần
Văn Bương, Hà Thị Thỉ, Nguyễn Trọng, Nguyễn Bá Quát, Nguyễn Hốc, Đào Thị Kiết,
Đoàn Thị Minh, Phan Sưu, thầy Ba Nghiêu (Tường Quang), Nguyễn Hoanh, Nguyễn
Hoang, Võ Thại, Đỗ Thạnh, Nguyễn Hốc, Nguyễn Công, Đ
oàn Tợ, Đoàn Trở, Nguyễn
Hoạt, Đào Chuyên, Đào Thị Kiết, Mô Lô YChoi, H’Lao, M’Bưck cùng các cụ ông cụ bà…

Và các nghệ sĩ nhiếp ảnh: Dương Thanh Xuân, Trần Quỳ, Lê Ngọc Minh, Võ Anh
Cường, Ngọc Ánh, Nguyên Lưu, Thế lập, Phong Phú…

Đã cung cấp tư liệu và ảnh cho chúng tôi để thực hiện công trình này.

tập sách nói trên là những tài liệ
u rất quan trọng, dày hàng trăm trang, được viết bằng một
giọng văn chính luận hoặc báo chí, rất phù hợp cho những đối tượng nghiên cứu chuyên
sâu, nhưng không phù hợp với bạn đọc bình dân, hoặc khách tham quan, du lịch, các nhà
đầu tư chỉ ghé qua tỉnh vài ngày.
Như vậy, để phục vụ cho các đối tượng nói trên, góp phần giúp cho họ có điều kiện
tìm hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, xã hội của một vùng
đất, bên cạnh các tài liệu, các công
trình nghiên cứu quy mô rất cần có những ấn phẩm ngắn gọn, dễ hiểu và hấp dẫn người
đọc là các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh
thắng. Đặc biệt là đối với công tác du lịch, khi giới thiệu với du khách về một di tích lịch
sử, danh thắng nào đó, bên cạnh các tư liệu chính thống có trong chính sử (thường là rất
ngắn gọ
n), các hướng dẫn viên còn kể cho các du khách nghe các câu chuyện kể dân gian
có liên quan đến di tích đó và thông thường các câu chuyện dân gian này lại rất hấp dẫn
du khách. Chẳng hạn như núi Đá Bia, người dân Phú Yên không thể hình dung nổi núi Đá
Bia lại không có câu chuyện vua Lê Thánh Tông khắc bia lên vách núi, mặc dù giờ đây
theo các nhà khoa học đó chỉ là một truyền thuyết.
Các câu chuyện dân gian này có thể được in thành sách bỏ túi, hoặc thành các tờ
gấp-mỗi tờ gấp liên quan đến một di tích hay một đi
ểm danh thắng. Ngoài ra để phục vụ
cho công tác nghiên cứu hay quảng bá du lịch, các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại
nói trên có thể được xuất bản dưới dạng đĩa VCD. Ngoài phần nội dung và ảnh nghệ thuật
như trong bản thảo có thể bổ sung thêm hình ảnh các sinh hoạt văn hóa, lễ hội và các làn
điệu dân ca, các điệu hò, bài hát…liên quan đến điểm di tích. Sách và đĩa VCD có thể
dùng làm quà tặng rất có ý nghĩa cho du khách.
Nh
ư đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những câu chuyện kể dân
gian dưới hình thức truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử danh
thắng Phú Yên.

tác quản lý du lịch thường cho in những tập sách bỏ túi, hay tờ gấp, tờ bướm với những
truyền thuyết, huyền thoại kèm theo những bức ảnh màu để t
ặng cho du khách. Những ấn
phẩm đó thường được các du khách mang về và lưu truyền cho nhiều người khác đọc.
Các bộ sách hoặc tờ gấp này được viết bằng một giọng văn giản dị nhưng hấp dẫn,
sinh động, đặc biệt bao giờ cũng kèm theo một bộ ảnh nghệ thuật minh họa để thu hút
người đọc, thường được các Công ty Du lịch mua để phát cho khách hoặc bán lẻ trong các
qu
ầy sách báo, văn hóa phẩm.

Trong nước:
Ở Việt Nam, một số tỉnh cũng đã bắt đầu thực hiện công việc này để thu hút khách
du lịch mà điển hình là tỉnh Long An. Năm 2004 Sở Văn hóa-TT tỉnh Long An phối hợp
với Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh đã cho xuất bản bộ
sách bỏ túi bằng 2 thứ tiếng Anh và Việt giới thiệu ngắn gọ
n và súc tính về các di tích lịch
sử và danh thắng của địa phương, dĩ nhiên bao gồm cả các huyền thoại, truyền thuyết và
dã sử. Đó là các tập sách bỏ túi: “Chùa Tôn Thạnh”, “Đồn Rạch Cát”, “Nhà Trăm Cột”,
“Đám Lá Tối Trời”, “Lăng Nguyễn Huỳnh Đức”, “Vàm Nhựt Tảo”…Ở An Giang thì có
các tờ gấp về “Đền Bà Chúa Xứ”…Đây là những ấn phẩm có nội dung tương tư như công
trình “Các truyền thuy
ết, huyền thoại liên quan đến di tích lịch sử và danh thắng ở Phú

9
Yên”. Tuy nhiên các ấn phẩm này mới chỉ là những tờ gấp còn khá sơ sài, hình thức in ấn
chưa đẹp, chỉ kể lại một số câu chuyện truyền thuyết huyền thoại, nhằm phục vụ kịp thời
cho công tác quảng bá du lịch, chưa phải là một công trình nghiên cứu quy mô và đầy đủ.
Ở Phú Yên, cho đến nay đã có một số ấn phẩm về các câu chuyện cổ do nhà nghiên
cứu văn nghệ dân gian Ngô Sao Kim sư
u tầm, như “Truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên”

-Kết luận: Ý nghĩa văn hoá, xã hội và giáo dục của các truyền thuyế
t và huyền thoại
trên vùng đất Phú Yên.
-Phụ lục.
Kết quả của đề tài, ngoài phần bản thảo, còn có thêm bộ ảnh màu nghệ thuật chụp
các di tích lịch sử và danh thắng được đề cập đến, một đĩa CD về đề tài được thể hiện như
một trang VEB nhằm phục vụ cho công tác quảng bá du lịch.

III- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục đích của đề tài là tổ chức sưu tầm và nghiên cứu một cách có hệ thống các
truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng trên đất Phú
Yên. Sau đó, nội dung của đề tài có thể được xuất bản dưới hình thức ấn phẩm (sách cẩm

10
nang) và đĩa VCD, có nội dung hấp dẫn và lôi cuốn người đọc, người xem, phục vụ một
cách thiết thực và có hiệu quả cho công tác quảng bá về lịch sử, văn hóa và du lịch.
-Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là sưu tầm, tuyển chọn, phân loại và viết lại các câu
chuyện truyền thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử và danh thắng Phú
Yên dưới dạng văn học dân gian.
-Trong đề tài cũ
ng nêu những nét khái quát về đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hoá
vùng đất Phú Yên, nhằm giúp cho người đọc có một cái nhìn tương đối đầy đủ về vùng
đất Phú Yên trước khi tiếp cận với các truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến di tích
lịch sử và danh thắng Phú Yên. Đề tài cũng đề cập đến cơ sở lý luận để xác định các
truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên, giúp cho người đọ
c hiểu sâu thêm về các truyền
thuyết, huyền thoại ở Phú Yên và mối quan hệ của chúng trong khu vực Nam Trung bộ.

IV- ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

công trình này để in thành những tờ gấp, tờ rơi, có kích thước bằng 01 tờ A4 hoặc 1/2 tờ
A4 (gấp lại), chỉ viết về một điểm di tích. Nội dung của tờ gấp gồm: Những đặc điểm cơ
bản của di tích, lịch sử hình thành, những huyền thoại, truyền thuyết, cùng với những t
ấm
ảnh màu về di tích hoặc lễ hội có liên quan đến di tích. 11
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

IV.1-Cách tiếp cận:
Để sưu tầm được các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại cần phải thống kê các
di tích lịch sử danh thắng. Tiến hành điền dã tại các địa phương, tìm hiểu qua các bậc cao
tuổi hoặc những người am hiểu về văn nghệ dân gian, ghi chép các câu chuyện truyền
thuyết, huyền thoại có liên quan đến các di tích lịch sử danh thắng. Viết lại các câu
chuyện bằng thể loại v
ăn học dân gian, kèm theo các tấm ảnh nghệ thuật.

IV.2- Phương pháp nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp luận nghiên cứu văn học (chủ yếu là văn học dân gian),
phương pháp thống kê, phân loại, so sánh, đối chiếu để xử lý các tư liệu đã thu thập được.
Khái quát đặc điểm, diện mạo các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên. So sánh, đối
chiếu các truyền thuyết, huyền thoại ở Phú Yên vớ
i các dị bản trong khu vực và cả nước
(nếu có).

IV.3- Các bước nghiên cứu:
1-Tiến hành điền dã, sưu tầm, thu thập các tư liệu về các truyền thuyết, huyền thoại.
2-Tuyển chọn trong số các truyền thuyết, huyền thoại đã sưu tầm được có liên quan
đến các di tích lịch sử, danh thắng. Phân biệt chúng với các câu chuyện cổ tích thông

IV.5-Tiêu chí tuyển chọn:
Tiêu chí để tuyển chọn các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại không giới hạn
về đề tài, nhưng phải có nội dung tư tưởng tiến bộ, có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch
sử, đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, con người, ca ngợi cái đẹp, phê phán cái xấu,
cái ác, hướng con người vươn tới Chân-Thiện-Mỹ, phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh
t
ế xã hội của tỉnh, nhất là công tác văn hóa, du lịch và giáo dục-đào tạo. Đặc biệt thận
trọng với những câu chuyện có nội dung nhạy cảm về mặt chính trị như tôn giáo, sắc
tộc Trong quá trình viết lại phải luôn tôn trọng chủ đề tư tưởng của câu chuyện, nhưng
có thể xử lý các chi tiết nhằm tránh các vấn đề nhạy cảm chính trị.

IV.6-Xác định quy mô các di tích danh thắng:

Ngoài 13 di tích cấp quốc gia đã được Bộ Văn hóa-TT xếp hạng có các câu chuyện
truyền thuyết, huyền thoại, đề tài sẽ đề cập đến tất cả các di tích lịch sử và danh thắng trên
địa bàn Phú Yên từ cấp xã, phường trở lên nếu các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại
đó có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa, có ý nghĩa giáo dục và có thể phục vụ cho các hoạt
động văn hóa và du l
ịch.

IV.7-Xác định giới hạn thời gian, không gian của các truyền thuyết, huyền thoại:
-Thời gian: Qua kết quả điền dã sơ bộ, các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại
chủ yếu liên quan đến các thời kỳ từ khi vua Lê Thánh Tông đưa quân vào vùng đất Phú
Yên (1471) đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1954). Có một vài chuyện liên quan đến
dân tộc Chăm. Do đó mốc thời gian nghiên cứu của đề tài sẽ giớ
i hạn từ thời tiền sơ sử và
thời kỳ vương quốc Chăm, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1954).
-Không gian: Chỉ nghiên cứu các truyền thuyết, huyền thoại trên vùng đất Phú Yên
và có liên quan đến các di tích lịch sử, danh thắng.


Đông, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía bắc
giáp tỉnh Bình Định, có diện tích tự nhiên là 5.045 km2 với dân số 803.846 người người,
phần lớn là người Kinh và các tộc người khác như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng,
Dao Trong tổng số 30 tộc người
đang sinh sống ở Phú Yên, thì tộc người Việt, Chăm,
Êđê, Bana, Hoa là những cư dân sinh sống lâu đời trên đất Phú Yên. Về địa hình, nhìn
vào bản đồ địa lý người ta có cảm giác Phú Yên như một chiếc quạt khổng lồ lưng tựa
vào phía rừng núi đại ngàn mặt quay ra biển bao la. Núi non chiếm phần lớn diện tích,
đồng bằng chỉ là một lõm nan nhỏ nhờ phù sa hai con sông Ba và sông Cái bồi lắng,
nhưng lại đóng vai trò quan trọng về
mặt nông nghiệp trong đời sống cư dân.

I.2-Địa hình tỉnh Phú Yên

Cả ba mặt của Phú Yên đều là núi, phía Bắc có dãy Cù Mông, phía Nam là dãy Đại
Lãnh, phía Tây là mạn sườn Đông của dãy Trường Sơn. Núi ở Phú Yên, những ngọn cao
nhất tập trung ở phía tây huyện Đồng Xuân (núi Chư Treng-1.238m, núi La Hiên-
1.318m), ở tây nam huyện Tuy Hòa (hòn Dù-1.470m, hòn Chúa-1.310m) và phía nam
huyện Sông Hinh (núi Chư Ninh-1.636m), các núi còn lại nhìn chung không cao, dao
động từ 300-600m. Ở trong nội thị thành phố tuy Hòa có một núi tuy không cao nhưng rất
nổi tiế
ng vì nằm ngay bên bờ sông Ba, có Tháp Nhạn cổ kính, phong cảnh trữ tình, đó là
núi Nhạn. Do địa hình có nhiều núi đồi nên ở Phú Yên cũng lắm đèo dốc. Dọc theo quốc
lộ 1A có các đèo dốc tương đối dài và hiểm trở, nằm trên địa bàn các huyện:
-Huyện Sông Cầu: Đèo Cù Mông, nằm trên dãy núi Cù Mông, có độ cao 245m, là
điểm phân ranh giữa Phú Yên và Bình Định; Đèo Tùy Luật (xã Xuân Cảnh); Đèo Nại (xã
Xuân Phương); Dốc Găng (phía nam thị trấn Sông Cầu); D
ốc Quýt (xã Xuân Thọ 1); Dốc
Gành Đỏ (còn gọi là dốc Xuân Đài, xã Xuân Thọ 2).
-Huyện Tuy An: Dốc Vườn Xoài (còn gọi là dốc Đá Trắng xã An Dân); đèo Tam

Tum) cao 1.500m và đổ ra cửa Đà Diễn (thành phố Tuy Hòa), dài 360km, phần chảy
trong tỉnh dài 90m. Sông Ba (sông Đà Rằng), cùng với núi Nhạn từ lâu đã tạo nên một
thành ngữ “Núi Nhạn sông Đà” để nói về thành phố Tuy Hòa, hay rộng hơn là nói về Phú
Yên. Sông lớn thứ 2 là sông Kỳ Lộ, còn gọi là sông La Hiên ở thượng nguồn và sông Cái
ở hạ lưu, bắt ngu
ồn từ dãy núi cao 1.000m ở Gia Lai và Bình Định, đổ ra cửa biển Tiên
Châu ở Tuy An, có chiều dài 120km, phần chảy trong tỉnh là 76km. Ngoài 2 sông lớn là
sông Ba và sông Kỳ Lộ, trên địa bàn tỉnh còn có các sông: Bàn Thạch-còn gọi là sông
Bánh Lái, sông Đà Nông (huyện Đông Hòa), sông Hinh, sông Krông Năng (huyện Sông
Hinh), sông Cà Lúi, sông Thá, sông Con, sông Bà Lá (huyện Sơn Hòa), sông Cầu (huyện
Sông Cầu), sông Con, sông Trong, sông Đồng Bò (huyện Tây Hòa), sông Trà Bương,
sông Cô (huyện Đồng Xuân), sông Quy Hậu (huyện Phú Hòa)
Từ các dòng sông đổ ra biển đã tạo nên các đầm, vũng, vịnh tuyệt
đẹp. Ở Sông Cầu
nổi tiếng nhất là đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, vũng Lắm (còn gọi là vũng Lấm), vũng
La, vũng Chao, ở Tuy An có đầm Ô Loan với nhiều hải sản quý hiếm như sò huyết, ở
Đông Hòa có Vũng Rô nổi tiếng với những con tàu không số của Đường mòn Hồ Chí
Minh trên biển. Với các đầm, vũng, vịnh đó, ngay từ thời nhà Nguyễn, triều đình cũng đã
cho mở các hải khẩu để vận chuyển, mua bán, giao lưu như những thương cảng nhỏ, đó là
6 hải khẩu: Cù Mông, Xuân Đài, Vũng Lấm, Phú Sơn, Đà Diễn, Đà Nông.
Phú Yên có bờ biển dài 198km, chạy từ Cù Mông đến vũng Rô là một trong những
bờ biển tương đối đẹp. Do đặc điểm cấu tạo địa hình có những đoạn núi ăn thông ra sát
biển tạo thành những hang,
động, đầm, vịnh, vũng, mũi, đảo và bán đảo. Hai vịnh Xuân

15
Đài và Vũng Rô là những nơi neo đậu tàu thuyền tránh gió bão và có thể biến thành hải
cảng cho các tàu có trọng tải lớn ra vào. Bờ biển Phú Yên có những đoạn trải dài với
những bãi cát trắng mịn và hàng thuỳ dương chạy men theo tựa như mái tóc thiếu nữ xoã
dài trên tấm thân trắng ngọc ngà của những tiên nữ nằm trên bờ biển rì rào sóng nhạc. Đó

gần 19.000ha đảm bảo canh tác 2 vụ, góp phần làm cho sản lượng lúa ở Tuy Hòa tăng
vọt.

II - LỊCH SỬ PHÚ YÊN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX

II.1-Lịch sử Phú Yên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thống lĩnh 26 vạn quân thuỷ bộ tiến vào đèo Cù
Mông, lập nên 3 phủ Thăng Hoa (nay là Quảng Nam), Tư Nghĩa (nay là Quảng Ngãi) và
Hoài Nhơn (nay là Quy Nhơn). Còn phần đất từ Cù Mông đến Đèo Cả (tức là Phú Yên
ngày nay) là vùng đất Kimi-vùng đệm, tranh chấp giữa người Việt và người Chăm. Tính
đến nay thì vùng đất Phú Yên có bề dày lịch sử trên 530 năm.
Trong buổi đầu mở đất, vùng đất từ Cù Mông đến Bà Diễn, Đà Nông đều là
đất
hoang, hoặc sình lầy lau sậy, hoặc gò nống lùm bụi um tùm, “rắn, rết, cọp beo thú dữ

16
nhiều hơn người”. Ngoại trừ những vùng đất ăn sâu vào trong núi, số còn lại nằm ở vùng
hạ lưu các con sông, như sông Cái (Tuy An), sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch (Tuy Hoà)
đều là những vùng đất sa bồi màu mỡ. Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh đã đưa lưu dân
đến khẩn hoang những vùng này trước tiên. Khai hoang đến đâu đều lấy đất chia cho dân
sản xuất tới đó, chủ yếu là trồng các loại cây lương thực nh
ư lúa, còn ở những vùng đất
cao, đất thổ không có điều kiện để đưa nước vào trồng lúa thì trồng các loại hoa màu như
bắp, khoai và các loại đậu…
Trong những năm đầu tiên, trên vùng đất này còn tồn tại hai lãnh thổ khác, mà theo
Đại Nam Nhất Thống Chí là lãnh thổ của Thuỷ Xá và Hoả Xá, được mô tả như sau: “Từ
huyện lỵ (Đồng Xuân) đi về phía Tây 20 dặm đến xã Phước Đức, lại đi 2 d
ặm đến thôn
Phú Thành, lại đi 1 dặm đến thôn Cự Phú, lại đi thêm 5 dặm đến thôn Vân Hoà, từ đây đi

ũng có chút
thêm thắt mang chất huyền thoại về ngọn núi này: “Núi Thạch Bi ở phủ Phú Yên là chỗ
tiên triều phân địa giới với Chiêm Thành, núi đến rất xa, tự đầu nguồn liền lạc đến bờ
biển. Núi này cao hơn các núi khác. Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, lấy đất đặt xứ
Quảng Nam, lập dòng dõi vua Chiêm Thành cũ , phong cho đất tự núi ấy trở về phía Tây,
tạc đỉnh núi lập bia làm địa giới, xoay lưng về phía B
ắc, mặt về phía Nam, lâu ngày dấu
chữ đã mòn mất… Tháng 12 năm Tân Mão, chợt có một tiếng sét rất to, đá biến thành sắc

17
trắng cả, trông xa một toà núi Thạch Bi đứng sừng sững như đá vôi. Nguyễn Phúc Thuần
sai đến tế”. [15, tr.121]
Và trong “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu [33, tr.219] thì cho
rằng, trong bi văn khắc vào núi đá Bia có câu:
“Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong
An Nam quá thử, tướng tru binh chiết”

Dịch nghĩa :
“Chiêm Thành vượt qua, binh bại nước mất
An Nam vượt qua, tướng chết quân tan”

Lịch sử Phú Yên đã mở
ra một bước ngoặt mới từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ
đất Thuận Hoá vào năm 1558, mở ra xứ Đàng Trong. Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử
Lương Văn Chánh làm Trấn Biên quan, đưa quân vượt đèo Cù Mông, xâm nhập vào vùng
đất “Kimi”, đến núi Đại Lãnh. Từ đó Phú Yên hoàn toàn là vùng đất thuộc quyền cai trị
của nhà Nguyễn.
Đến đời Lê Thế Tông, vào năm 1597, Lương Văn Chánh nhận sắc dụ của chúa
Nguyễn Hoàng vào khai khẩn vùng đất từ
Cù Mông đến đèo Cả. Sắc dụ viết: “…dẫn đem

miền Tây Phú Yên có dãy núi La Hiên tiếp giáp với vùng núi An Khê là nơi dấy nghiệp
của nhà Tây Sơn nên nhân dân Phú Yên hưởng ứng phong trào rất đông, nhất là đồng bào
Bana. Tháng 5-1775, tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp mang quân đánh Phú Yên,
quân bộ đóng ở Xuân Đài, quân thủy đóng ở Vũng Lấm. Sau đó quân của Tây Sơn do
Nguyễn Quang Sáng, Lương Văn Trực cùng chúa Thủy Xá là Ma Khương tụ quân ở núi
Ma Hiên, phối hợp với lực lượng thủy quân của Lư
u Quốc Hùng, Trần Văn Nhâm hợp
thành lực lượng Tây Sơn hữu đạo, cùng với 2.000 do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Quy Nhơn
kéo vào đánh úp quân Tống Phước Hiệp đang đóng tại Xuân Đài và Vũng Lấm vào tháng
7-1775, tiêu diệt 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn
và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp, ghi chiến công vang dội.
Trong suốt 25 năm dài dặc đó (từ 1775-1800) cùng với những biến đổi quan trọ
ng
sau những trận chiếm đẫm máu giữa phong trào Tây Sơn và nhà Nguyễn, vì vậy trên vùng
đất này đã sinh ra không biết bao nhiêu câu chuyện kể, nửa như là chính sử, nửa như dã
sử, như huyền thoại của một thời bi hùng.

II.2-Lịch sử Phú Yên trong phong trào chống thực dân Pháp ở thế kỷ XIX

Từ thế kỷ XIX đến sau này, trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, toàn
dân Phú Yên đã phát huy hào khí của ông cha ngày trước, lập nhiều chiế
n công vang dội,
mở ra một trang sử mới.
Năm 1858 thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Pháp
tại Việt Nam. Tình hình chính trị, xã hội của Phú Yên cũng như của cả nước đã nhanh
chóng chuyển sang một thời kỳ khác: Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.
Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, sau một thời gian
chuẩn bị, ông Lê Thành Ph
ương-một tú tài Nho học, người làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh
(nay là thôn Phú Mỹ, xã An Hiệp, huyện Tuy An) cùng các sĩ phu yêu nước đã đứng lên

thế kỷ 20

Sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng phong trào Duy Tân (còn gọi là cuộc vận động
“xin xâu”) bắt đầu nổ ra từ Quảng Nam vào tháng 3-1908, ở Phú Yên dưới sự lãnh đạo
của các ông Nguyễn Hữu Dực và Lê Hanh, phong trào chống sưu cao thuế nặng, chống
cường hào áp bức, chống đồi phong bại tục, cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy
chữ quốc ngữ bùng lên phát triển mạ
nh mẽ.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào chống Pháp với quy mô lớn có
nhiều tộc người tham gia đã bùng lên ở một số tỉnh trên vùng núi Trường Sơn, mà Phú
Yên là trung tâm với tên gọi là “Phong trào Săm Brăm” (hay còn gọi là phong trào “Xu
đỏ”, phong trào “lấy nước phép đánh Tây”). Săm Brăm là người dân tộc Chăm ở Sơn
Hòa, sớm được giác ngộ và được phong trào cổ vũ thôi thúc nên đã đứng ra khởi xướng
phong trào đấu tranh chống Pháp trong vùng đồ
ng bào các dân tộc thiểu số. Năm 1936,
trước sự lớn mạnh nhanh chóng của phong trào, thực dân Pháp đã đưa quân đến bắt ông
Săm Brăm về giam ở đồn Trà Kê, rồi đày lên Buôn Ma Thuột, Sông Cầu và cuối cùng
đưa ra tận nhà lao Thanh Hóa.
Tháng 6-1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Phú Yên chính thức
ra đời tại Sông Cầu do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Bí thư chi bộ, đến đầu năm
1929 thì giải tán vì các đảng viên được điề
u động đến các địa bàn khác. Mùa hè năm
1929, đồng chí Hoàng Hữu Đàn là liên lạc của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên Trung kỳ đến Phú Yên móc nối xây dựng lại cơ sở dưới hình thức hợp pháp là các
Hưng nghiệp hội xã. Đến cuối năm 1929 phong trào lại bị đàn áp tan rã. Từ năm 1927 tổ
chức Tân Việt đầu tiên ở Phú Yên đã được thầy giáo Phạm Đức Bân thành lập ở Sông
Cầ
u với nhiều hình thức tập hợp lực lượng và đấu tranh phong phú, như rải truyền dơn,
treo cờ, kêu gọi đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.
Cuối năm 1929, đồng chí Phan Lưu Thanh là thành viên trong tổ chức Hưng

Hai, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa, Đồng Bò Tối ngày 23-8-1945, Tỉnh
ủy họp phiên bất
thường và quyết định: Tỉnh, Huyện, Phủ khởi nghĩa cùng thời điểm là nửa đêm ngày 24-
8-1945. Sáng ngày 25-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân-
phong kiến, thành lập chính quyền Cách mạng và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền
Cách mạng. Sáng 26-8-1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Phú Yên chính
thức ra mắt quần chúng tại tỉnh lỵ Sông Cầu, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyên làm Chủ
tị
ch, đồng chí Trương Kiểm làm Phó chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi.
Từ năm 1945 đến năm 1954, sau khi giành được chính quyền, Đảng ta chủ trương
vừa tập trung xây dựng và củng cố chính quyền, đồng thời vừa tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp. Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu
bùng nổ trên toàn quốc, thì ngày 13-01-1947 hai trung đoàn Pháp từ Khánh Hòa cùng một
lúc tấn công trận đị
a của Phú Yên tại đèo Cả và phía tây đèo Cả. Những ngày tiếp theo
chúng tập trung quân đánh ra Hòa Hiệp, Phú Lâm, Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Thịnh,
Hòa Mỹ Trước tình hình mới, tháng 6-1947, cơ quan Tỉnh đội Phú Yên được thành lập.
Lực lượng vũ trang của huyện, xã cũng được hình thành để làm nhiệm vụ chiến đấu.
Trước những thất bại to lớn trên khắp các chiến trường, tháng 3-1953 chính phủ
Pháp cử Đại tướng Navarre sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp
ở Đông Dương. Sau
khi nghiên cứu tình hình trên các chiến trường, Navarre trình lên Hội đồng Quốc phòng
Pháp một kế hoạch quân sự lớn nhằm xoay chuyển tình thế và kết thúc chiến tranh trong
vòng 18 tháng. Chiến dịch Atlante là một bộ phận quan trọng của kế hoạch này. Chỉ trong
vòng 2 tháng, từ ngày 20-01-1954 khi địch bắt đầu mở chiến dịch cho đến cuối tháng 3-
1954 quân và dân Phú Yên đã ngoan cường chiến đấu, giải phóng một vùng lãnh thổ rộng
lớn phía tây huyệ
n Đồng Xuân, làm chủ đường số 7 ở Sơn Hòa, tập kích vào hàng loạt cứ
điểm quan trọng, tiêu diệt hàng trăm tên địch, phá hủy hàng chục xe máy, đánh bại chiến
dịch Atlante của địch, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.

ền Bắc
vào.
Bị thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”,
nhưng càng dấn sâu vào cuộc chiến tranh chúng lại càng sa lầy. Ở Phú Yên, các đơn vị vũ
trang đã tổ chức nhiều đợt tấn công vào các đơn vị của quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên,
gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, như trận tiêu diệt Lữ đoàn dù 173 của Mỹ ở Gò Thì
Thùng, các trậ
n đánh quân Nam Triều Tiên ở An Định và An Nghiệp. Trong cuộc Tổng
tiến công nổi dậy Mùa xuân 1968, cùng với các địa phương khác trong toàn miền Nam,
vào lúc 0 giờ ngày 30-01-1968 quân và dân Phú Yên đã nhất tề đồng loạt nổ súng tấn
công vào các cứ điểm quan trọng của địch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời trong dịp này đã
đưa 500 thanh niên ra căn cứ tham gia lực lượng cách mạng.
Sau khi “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại nặng nề, M
ỹ phải chấm dứt ném bom
miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris, nhưng chúng vẫn ngoan cố thay
chiến lược “chiến tranh cục bộ” bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với mục tiêu
là dùng người Việt đánh người Việt. Tháng 10-1969 sau khi tiếp thu Nghị quyết Khu ủy
Khu V về công tác giành dân, giữ dân, xây dựng lực lượng cách mạng, tỉnh đã mở các đợt
vận động, đưa hàng ngàn thanh niên tham gia vào các độ
i du kích và thoát ly lên vùng căn
cứ. Song song với việc củng cố, tổ chức các lực lượng vũ trang, Tỉnh ủy chủ trương đẩy
mạnh công tác dân vận nhằm cô lập, phân hóa nội bộ địch, đồng thời tranh thủ lực lượng
thứ ba với khẩu hiệu “Hòa hợp dân tộc” để đấu tranh chống Mỹ-Ngụy. Cùng với việc tổ
chức lực lượng chiến đấu chống càn, ta t
ổ chức lực lượng đặc công đánh sâu vào vùng
hậu cần của địch, mở rộng vùng giải phóng, phá các khu dồn dân, đưa dân về lại quê cũ.

22
Sau khi quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ
nhằm hủy diệt thủ đô Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972. Trước

tay vào xây dựng cuộc sống mới. Sau 14 năm tỉnh Phú Yên sát nhập với tỉnh Khánh Hòa
thành tỉnh Phú Khánh, ngày 01-7-1989 tỉnh Phú Yên lại tách ra trở về với tên gọi cũ vốn
có. Bắt đầu từ đây, Phú Yên bước vào giai đoạ
n mới.

III -ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA VÙNG ĐẤT PHÚ YÊN

Là một vùng đất có 30 tộc người sinh sống nên đặc điểm văn hóa của Phú Yên
cũng khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên dân số ở Phú Yên phần lớn là người Việt
(Kinh) nên văn hóa của người Việt cũng in đậm trong đời sống văn hóa-xã hội của toàn
dân cả tỉnh.

III.1-Văn hóa ẩm thực

Cũng như mọi cộng đồng dân cư người Việt khác trên đất nước Việt Nam, l
ương
thực chính của người Việt ở Phú Yên là lúa gạo có kèm theo khoai, sắn vào những lúc

23
giáp hạt. Thức ăn chủ yếu được chế biến từ các loại rau, củ và thịt, cá. Do đặc điểm là một
tỉnh duyên hải nên trong thực đơn hàng ngày cá biển chiếm vị trí tương đối quan trọng.
Ngoài ra, cũng nhờ nguồn lợi từ biển mà người dân Phú Yên còn có nghề truyền thống
chế biến nước mắm và các loại mắm khác từ cá biển. Nước mắm Gành Đỏ, nước mắ
m
Yến là những thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong tỉnh. Ngoài bữa ăn hàng ngày, thì
vào dịp Tết, hoặc trong cúng giỗ, đám tiệc, thực đơn phong phú hơn vì có thêm các loại
bánh, các loại gỏi và nhiều món đặc sản khác như: sò huyết, tôm, cua, ghẹ, cá ngừ đại
dương…Trong các loại bánh thì bánh tráng Phú Yên khá nổi tiếng với các thương hiệu
bánh tráng Hòa Đa, bánh tráng Phường Lụa (Tuy An) và bánh tráng Đông Bình (Phú
Hòa).

năm kháng chiến chống Pháp, người dân Phú Yên đã dệt được vải xi-ta vừa bền vừa đẹp.

III.3-Nhà ở

Trong buổi đầu khai thiên lập địa, người Việt ở Phú Yên xây nhà của mình theo
từng làng để dễ bề tương thân tương ái, tối lửa tắt đèn có nhau. Tùy hoàn cảnh kinh tế của
từng gia đình mà các loại nhà của người Việt được phân loại và đặt tên theo vật liệ
u lợp
trên mái, như: Nhà lá (lợp bằng các loại lá, chủ yếu là lá dừa), nhà tranh (lợp bằng tranh),

24
nhà ngói (lợp bằng ngói), nhà tôn (lợp bằng tole), nhà lầu (nhà có nhiều tầng, mái đúc
bằng xi măng cốt thép hoặc lợp ngói). Khi làm nhà, người Việt thường nhờ thầy địa lý
chọn hướng nhà, hướng bếp, chọn tuổi cất nhà, chọn ngày giờ mở móng, xem ngày về nhà
mới.
Nhà của các dân tộc thiểu số thường làm bằng gỗ, lợp tranh theo kiểu nhà sàn để
đề phòng thú dữ. Phía dưới sàn thường dùng để chứa củi, nh
ốt gia súc gia cầm. Ngoài nhà
ở, người dân tộc còn làm nhà chứa thóc (kho thóc) bên cạnh nhà ở hoặc ngoài rẫy. Người
Bana còn có nhà rông, là ngôi nhà công cộng, trung tâm sinh hoạt văn hóa, xã hội, tín
ngưỡng của cộng đồng, dùng để hội họp, xét xử, tổ chức các cuộc vui chơi, lễ hội, như
một bảo tàng giữ gìn những kỷ vật, hiện vật quan trọng của làng, có chức năng giáo dục
thế hệ trẻ

III.4-Phong tục tậ
p quán

Các tộc người Việt, Êđê, Bana, Chăm, Hoa sống trên vùng đất Phú Yên, mỗi dân
tộc đều có phong tục tập quán riêng tồn tại từ bao đời nay. Tuy nhiên nếu so sánh phong
tục tập quán của họ với phong tục tập quán của những tộc người tương tự sinh sống ở các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status