THAM LUẬN
KẾT QUẢ ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN TỈNH LONG AN
Trình bày: Ông Lê Văn Bích
Giám đốc sở TT&TT tỉnh Long An
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước cấp huyện:
Thời gian qua, thực hiện các chủ trương của Chính phủ về đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước (Quyết định số
1755/QĐ-TTg ngày 22/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề
án "Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền
thông", Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015), UBND tỉnh Long An
đã ban hành Quyết định số 57/2010/QĐ-UBND ngày 15/12/2010 của UBND
tỉnh Long An về việc ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động của cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Long An giai đoạn 2011-2015;
Ban Thường vụ Tỉnh Ủy ban hành Chỉ thị số 32-CT/TU ngày 29/5/2012 về việc
tăng cường sự lãnh đạo thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống
chính trị. Tỉnh đã quan tâm đầu tư, triển khai ứng dụng CNTT cho cơ quan nhà
nước của tỉnh, đặc biệt là UBND cấp huyện, cụ thể như sau:
Về cơ sở hạ tầng CNTT: 100% UBND huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh
đã xây dựng mạng nội bộ (LAN) kết nối các phòng ban, đơn vị quan trọng;
Mạng truyền số liệu chuyên dụng bước đầu đã hình thành, kết nối đến tất cả 14
huyện, thành phố bước đầu phục vụ cho Hệ thống Hội nghị truyền hình trực
tuyến từ tỉnh về huyện; hạ tầng phần cứng cơ bản đáp ứng cho công tác triển
khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước cấp huyện.
Ứng dụng CNTT phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành: Hệ thống
thư điện tử của tỉnh đã được xây dựng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu trao đổi
thông tin, gửi nhận văn bản trong các cơ quan nhà nước. UBND tỉnh đã quán
triệt triển khai thực hiện nghiêm túc việc gửi, nhận văn bản qua hệ thống thư
khai, minh bạch trong giải quyết các nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Song song đó, tỉnh đã đưa vào vận hành hệ thống tra cứu trực tuyến tình trạng
hồ sơ hành chính, giúp người dân có thể trực tiếp tra cứu thông tin về tình trạng
hồ sơ hành chính, thông qua Trang thông tin Một cửa điện tử của tỉnh
(http://motcua.longan.gov.vn); hệ thống trả lời tự động qua số điện thoại
(072.3888.888) và qua tin nhắn SMS (072.3618.888); đồng thời giúp cho lãnh
đạo huyện, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và các Sở ngành
liên quan theo dõi, giám sát tình hình giải quyết hồ sơ hành chính tại tất cả các
huyện, thành phố của tỉnh.
Thực hiện Quyết định số 119/QĐ-TTg ngày 18/01/2011 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thông tin, truyền thông nông thôn giai
đoạn 2011-2020, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2677/QĐ-UBND ngày
24/8/2011 về việc ban hành Kế hoạch Phát triển thông tin, truyền thông nông
thôn thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2011-2020. Hội Nông dân tỉnh phối hợp các đơn vị liên quan vận động
nguồn tài trợ từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam và Công ty Viễn thông Long An,
triển khai được 34 điểm truy cập internet tại 34 xã nông thôn trong tỉnh với 58
máy tính cá nhân được kết nối internet băng rộng phục vụ cho người dân truy
cập Internet, tra cứu thông tin phục vụ cho sản xuất và nhu cầu thông tin.
Bên cạnh đó, công tác tập huấn, đào tạo kiến thức, kỹ năng sử dụng các
ứng dụng CNTT cũng được quan tâm; đào tạo theo hướng cầm tay chỉ việc, giúp
CBCC sử dụng thành thạo các phần mềm đã triển khai. Ngoài ra, được sự tài trợ
của Chi nhánh Viettel Long An, tỉnh đã tổ chức Chương trình đào tạo tin học
văn phòng cho cán bộ cấp xã, với 442 học viên tham dự, gồm: Chủ tịch, Phó
Chủ tịch xã, cán bộ tư pháp, cán bộ một cửa, góp phần nâng cao kiến thức, cải
thiện đáng kể kỹ năng sử dụng máy tính và ứng dụng CNTT cho cán bộ cấp xã.
Nhìn chung, công tác triển khai ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước
cấp huyện trên địa bàn Long An đã đạt được những kết quả rất cơ bản, tạo bước
chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động, nâng cao kỹ năng ứng dụng
CNTT của CBCC; tạo môi trường làm việc khoa học, hiệu quả, góp phần đáng kể
công trực tuyến được triển khai còn chiếm tỷ lệ rất thấp, chưa hiệu quả.
- Một số chủ trương lớn về ứng dụng CNTT vẫn còn chậm triển khai,
thiếu sự hỗ trợ, hướng dẫn kịp thời và cụ thể từ Trung ương, địa phương còn
lúng túng trong thực hiện như: triển khai sử dụng mạng truyền số liệu chuyên
dụng; sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong cơ quan nhà nước; phần mềm
quản lý văn bản điều hành và tác nghiệp; ứng dụng thông tin và truyền thông
xây dựng nông thôn mới,... An toàn thông tin vẫn là khâu yếu, chưa được đầu tư
thỏa đáng. Nguồn kinh phí của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu cho việc triển
khai ứng dụng CNTT theo chỉ đạo của Trung ương.
- Nguồn nhân lực chuyên trách về CNTT còn thiếu và yếu, chủ yếu là
kiêm nhiệm nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác triển khai ứng dụng CNTT và
thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương; chưa có cơ chế, chính sách thu hút
người giỏi về CNTT vào làm việc trong cơ quan nhà nước nên công tác tham
mưu, đề xuất giải pháp ứng dụng và phát triển CNTT còn nhiều hạn chế.
- Công tác triển khai ứng dụng CNTT chưa được thống nhất từ Trung
ương đến địa phương, xảy ra tình trạng chồng chéo, trùng lập giữa phần mềm
địa phương triển khai và ngành dọc triển khai xuống gây khó khăn cho các
phòng chuyên môn và CBCC tại các địa phương, làm lãng phí nguồn lực đầu tư;
Bộ thủ tục hành chính, các quy định của các ngành từ Trung ương đến địa
phương thường xuyên bị thay đổi nên rất khó khăn và làm ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả của việc triển khai ứng dụng CNTT.
3. Bài học kinh nghiệm:
- Phải có sự quyết tâm chính trị cao của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các
cấp trong chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, tạo điều kiện cho việc triển khai ứng dụng
CNTT.
- Ứng dụng CNTT phải đi đôi với cải cách hành chính, quá trình cải cách
hành chính đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi ứng dụng CNTT phải giải quyết, vì vậy
thủ tục hành chính phải ổn định thì ứng dụng CNTT mới đạt hiệu quả tốt; tăng
cường công tác cải tiến, thực hiện chuẩn hóa nghiệp vụ, sơ đồ hóa quy trình
nghiệp vụ để công tác triển khai ứng dụng CNTT được thuận lợi, hiệu quả hơn
TTTT chủ trì tổ chức các hoạt động diễn tập ứng cứu sự cố, các khóa đào tạo,
bồi dưỡng về hoạt động ứng cứu sự cố (Cụ thể: giải pháp phòng ngừa, phát
hiện, khắc phục sự cố, ...) cho CBCC chuyên trách, bán chuyên trách CNTT
(làm công tác quản lý, vận hành hệ thống; thành viên bộ phận điều phối tại địa
phương); Tổ chức các hoạt động cho Cán bộ chuyên trách CNTT có thể tham
quan, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng quản lý nhà nước về
CNTT.
- Công tác triển khai ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước đòi hỏi
phải có hạ tầng mạng dùng riêng đáp ứng tốt cho nhu cầu, nhằm đảm bảo an
toàn, an ninh thông tin và đáp ứng kịp thời cho nhu cầu xử lý công việc. Thời
gian qua, Trung ương đã đầu tư Mạng TSLCD nhưng thực tế việc tiếp cận sử
dụng mạng TSLCD của địa phương còn rất khó khăn, cơ chế quản lý vận hành
chưa được thống nhất, cước phí sử dụng đắt hơn nhiều so với các dịch vụ thuê
ngoài. Kính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét có chính sách ưu đãi
(nếu được thì chỉ nên thu phí quản lý vận hành hệ thống mạng) nhằm khuyến
khích, bắt buộc tất cả các cơ quan nhà nước sử dụng, khai thác Mạng TSLCD
nhằm đảm bảo an toàn thông tin; Bộ cần phải theo dõi, nắm bắt hiện trạng sử
dụng Mạng TSLCD và có cơ chế quản lý vận hành, nâng cấp mạng nhằm kịp
thời phục vụ tốt hơn cho nhu cầu ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước./.