Vai trò thông tin trong sản xuất kinh doanh - Pdf 13

BÀN VỀ VAI TRÒ THÔNG TIN TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH

TS. Trần Kim Tiến
*I. Khái niệm chung về thông tin
Khái niệm về thông tin đã được giải thích nhiều nhưng khó có một định nghĩa tổng quát.
Để trả lời câu hỏi “Thông tin là gì?”, cho đến nay có rất nhiều cách hiểu về thông tin, tuy nhiên
các định nghĩa sau đây là tương đối cô đọng và đầy đủ ý nghĩa:
Theo Le Moigne (1978): “Thông tin là một đối tượng đã được chỉnh dạng, nó được tạo ra
bởi con người đang là đại diện cho một kiểu sự kiện mà người đó có thể nhận thức và xác định
được trong thực tế”. Còn theo từ điển Oxford English Dictionary, thông tin là “điều mà người ta
đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức” và “sự chuyển giao thông tin làm tăng thêm sức mạnh
của con người”.
Trong một tổ chức hoạt động, thông tin là một nguồn lực quan trọng để đảm bảo cho mọi
hoạt động của các thành viên trong tổ chức phù hợp với mục đích hoạt động của mình từ người
lãnh đạo đến mọi thành viên, của mọi cấp trong mọi tổ chức hoạt động. Những người kiểm soát
được thông tin có thể chi phối, tác động đến những thành viên khác.
Có thể nói rằng thông tin là một trong những yếu tố cấu thành nên thế giới khách quan;
nó vừa là sức mạnh, cũng vừa là năng lượng và là nguồn tài nguyên của xã hội con người.
Thông tin là sức mạnh vì được sử dụng và sẽ được xác định để sử dụng làm nền tảng
cho mọi hoạt động của xã hội, kể cả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD).
Thông tin cũng là năng lượng, là nguồn tài nguyên. Trước đây người ta cho rằng trong
một tổ chức hoạt động SXKD có 5 nguồn tài nguyên: 1. Con người; 2. Thiết bị, máy móc; 3. Tài
chính; 4. Nguyên vật liệu, năng lượng; và 5. Quản lý. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng
của xã hội ngày nay, thông tin có thể được xem như là một nguồn tài nguyên mới, đặc thù, rất đa
dạng và được sử dụng kết hợp các nguồn tài nguyên khác để đem lại hiệu quả cho hoạt động.
Thực vậy, trong hoạt động SXKD, nhiều người quản lý đã nhận thấy rằng thông tin là
nguồn sức mạnh, đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Thông tin giúp cho họ có khả năng vượt
trước các đối thủ cạnh tranh của mình ở những thời điểm cạnh tranh quyết liệt, đặc biệt khi tham

hoàn thành mục đích (đạt khối lượng, chất lượng sản phẩm/dịch vụ và đúng thời gian theo các
đơn đặt hàng với giá cả sản phẩm được khách hàng chấp nhận). Thông tin phản hồi từ hoạt động
SXKD cho thấy doanh số thấp, thông tin đó thông báo cho phần tử điều khiển (Ban quản trị
doanh nghiệp) biết rằng: phương thức sản xuất sản phẩm trong hệ thống cần phải được điều
chỉnh để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, mặt khác giá sản phẩm/dịch vụ cần phải
được điều chỉnh để cho sự hoạt động của hệ thống phù hợp với điều mong đợi của khách hàng.
Hệ thống hoạt động SXKD là một hệ thống mở. Như vậy ngoài việc hệ thống có tương
tác với môi trường thì bản thân các hệ thống con trong nó cũng tương tác với nhau vì đây là vấn
đề phổ biến trong mọi hệ thống. Thông tin là yếu tố cấu thành từ sự hoạt động của hệ thống và
chính nó lại tác động đến sự hoạt động của hệ thống. Theo nghĩa này, hệ thống sản SXKD là hệ
thống tự quy định và tự điều chỉnh; nó chỉ ra người nào phải được thay thế, trang thiết bị nào
cần được đổi mới, và thay thế/đổi mới khi nào. Nếu việc điều chỉnh nội tại không thỏa mãn, khi
đó sức mạnh từ môi trường bên ngoài (ví dụ luật pháp của Nhà nước) có thể can thiệp vào hệ
thống.
III. Công tác thông tin KHCN phục vụ sản xuất kinh doanh ở nước ta
Nhìn chung có rất nhiều thông tin tác động đến SXKD của doanh nghiệp như thông tin
KHCN, thông tin thị trường, thông tin từ đối tác, thông tin về chính sách từ và môi trường kinh
doanh… Những tổ chức, đơn vị không nắm bắt và xử lý tốt thông tin thì sẽ không thể phát triển,
thậm chí không thể tồn tại.
Ở nước ta, từ khi chúng ta bước vào “thời kỳ đổi mới”, trong đó SXKD hoạt động theo
cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, thông tin ngày càng có tầm quan trọng lớn.
Nhà nước ta luôn tạo điều kiện để các doanh nghiệp nắm bắt thông tin và sử dụng thông tin hiệu
quả trong hoạt động SXKD của mình.
Riêng mảng thông tin KHCN, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thông tin KHCN
trên cả nước, trong mấy chục năm qua, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quan trọng
như: Nghị quyết 89/CP (1972) của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác thông tin
khoa học và kỹ thuật; Quyết định số 133/QĐ (1985) của Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ
thuật Nhà nước (nay là Bộ KH&CN) kèm theo Quy định thống nhất về tổ chức và hoạt động
thông tin khoa học và kỹ thuật; Chỉ thị 95/CT (1991) của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về công
tác thông tin KH&CN.

đến vấn đề này.
- Thông tin về sở hữu trí tuệ và sáng chế
Thông tin về sáng chế và sở hữu trí tuệ là một mảng lớn trong lĩnh vực thông tin KHCN.
Bản báo cáo với tựa đề ''Các khía cạnh chiến lược của quyền sở hữu trí tuệ đối với chính sách
KH&CN'' tại châu Âu (6/1999) đã nhấn mạnh tính cần thiết của việc tạo ra “một nền văn hoá
hiểu biết về sáng chế và sở hữu trí tuệ” có ý nghĩa quan rất trọng trong việc tăng tính cạnh tranh
trong các ngành công nghiệp. Theo tác giả Shinichiro Suzuki (Viện Sáng kiến và Sáng chế Nhật
Bản), thông tin sáng chế còn có vai trò như một nguồn thông tin kỹ thuật định hướng nghiên cứu
và phát triển (R&D). Trong đó các thông tin này phải được sử dụng nhằm khám phá đề tài
nghiên cứu, hoặc gợi ý cho nghiên cứu triển khai mới, tránh được công sức và các chi phí to lớn
do không phải triển khai các vấn đề đã được nghiên cứu.
Việc sử dụng có hiệu quả thông tin sáng chế và sở hữu trí tuệ cũng phục vụ chiến lược
đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ và tránh vi phạm để đối phó với sự gia tăng cạnh tranh trên thị
trường.
Cuối cùng, thông tin sáng chế và sở hữu trí tuệ còn được sử dụng như là thông tin kinh
doanh, thông tin chính sách và cho phép phân tích xu hướng thị trường.
Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt ở nước ta, việc sử dụng thông tin sáng chế và sở hữu trí
tuệ thường chỉ nhằm mục đích tránh vi phạm và sử dụng khi làm thủ tục nộp đơn xin bảo hộ,
trong khi đó việc sử dụng như một nguồn thông tin kỹ thuật nhằm tránh sự trùng lặp, lãng phí
trong hoạt động nghiên cứu và phát triển hoặc sử dụng trong việc lập kế hoạch chiến lược của
doanh nghiệp vẫn còn rất hạn chế.
Sở dĩ có các xu thế đó là do các doanh nghiệp phải đối mặt với các khía cạnh sau đây của
thông tin sáng chế và sở hữu trí tuệ:
Thứ nhất, dung lượng thông tin sáng chế và sở hữu trí tuệ quá lớn. Trên thế giới có
khoảng hàng trăm nghin sáng chế và sở hữu trí tuệ được công bố hàng năm. Hơn thế nữa, số
sáng chế và sở hữu trí tuệ được công bố trong vòng hơn 100 năm nay được ước tính hàng chục
triệu. Trong đó chủ yếu là các thông tin sáng chế và sở hữu trí tuệ của nước ngoài, trình bày
bằng tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga…).
Thứ hai, các bản mô tả về sáng chế và sở hữu trí tuệ thường rất khó hiểu kể cả khi đã có
và áp dụng những biểu mẫu thống nhất.

http://www.uspto.gov/patft/index.html; Cơ quan sáng chế Nhật Bản: http://www.jpo.go.jp; Cơ
quan Sáng chế Oxtraylia: http://www.ipaustralia.gov.au; Cơ quan Sáng chế Anh:
http://www.ipo.gov.uk; Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO):
http://www.wipo.int/directory/en/urls.jsp; Cơ quan tra cứu Patent Scope:
http://wipo.int/pctdb/en/search-struct.jsp; Cơ quan Sở hữu trí tuệ Singapore:
http://www.surfip.gov.sg; v.v…) nhưng vẫn cần thường xuyên có thông báo trên các thông tin
đại chúng để đông đảo bạn đọc có thể nắm bắt và truy cập thông tin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status