Vai trò của lợi nhuận là một động lực cơ bản của nền kinh tế thị trường - Pdf 13

LờI NóI ĐầU
Sự phát triển của Việt Nam cũng nh của các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN)
khác đợc đánh dấu bằng sự chuyển hớng trong t tởng,nhận thức của các Đảng va
Nhà Nớc về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đờng đi lên CNXH.ở Việt Nam,từ
sau những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 15 năm,đó thực sự chỉ là một
khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc,một đất nớc.
Tuy nhiên,trong 15 năm đó,Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vợt
bậc.Từ một nớc nghèo đói va thiếu ăn quanh năm,luôn phải trông chờ vào các
khoản viện trợ,trợ giúp của các nớc khác,Việt Nam đã trở thành một nớc xuất khẩu
gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan).Các nghành sản xuất Công-Nông
Nghiệp và Dịch Vụ đã đạt đợc những thành quả đáng kể,đời sống của nhân dân đ-
ợc cải thiện vv Có đợc sự phát triển đó,nh trên đã nêu,chính là nhờ sự đổi mới
trong nhận thức,t duy về CNXH và con đờng
đi lên CNXH .Trong số những nhận thức đó,đặc biệt quan trọng,là sự đổi mới
trong nhận thức về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận nói chung cũng nh sự
đánh giá lại vai trò của lợi nhuận trong công cuộc xây dựng CNXH nói riêng
.Đảng và Nhà Nớc ta đã khẳng
định rằng chỉ dựa trên cơ sở có những hiểu biết đúng đắn về nguồn gốc,bản chất và
vai trò của lợi nhuận thì chúng ta mới có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển,sớm đa
Việt Nam hội nhập với các nớc trong khu vực và trên thế giới cũng nh xây dựng
thành công CNXH.
Vậy thì lợi nhuận là gì?Nguồn gốc,bản chất của lợi nhuận?Vai trò của lợi nhuận
trong việc phát triển nền kinh tế là nh thế nào?Những câu hỏi nay không phải dến
bây giờ mới đợc đặt ra mà từ rất lâu rồi con ngời đã có nhiều những quan điểm
khác nhau về lợi nhuận.Từ những quan điểm của các trờng phái lý luận trớc Mác
cho đến những trờng phái lý luận ngày nay,mỗi trờng phái đều có những luận
điểm,học thuyết của mình để trả lời những câu hỏi đó.Trong số những quan điểm
đó,học thuyết của Chủ Nghĩa Mác(CN Mác),đợc xây dựng trên nền tảng lý luận
1
giá trị thặng d(GTTD),đã giải thích đợc một cách đầy đủ,chính xác và khoa học
nhất về nguồc gốc,bản chất và vai trò của lợi nhuận.Chính vì vậy mà toàn bộ học

mà nhiệm vụ của nó là bán nhiều mua ít".Chính vì vậy,CNTT cho rằng lợi nhuận là
do lĩnh vực lu thông,do sự mua bán trao đổi mà sinh ra.Nó là kết quả của việc mua
ít bán nhiều ,mua rẻ bán đắt mà có.Họ cho rằng muốn có đợclợi nhuận thì không
có cách nào khác ngoài việc trao đổi buôn bán.
Về vai trò của lợi nhuận thì CNTT đã khẳng định rằng lợi nhuận luôn là mục
tiêu của mọi hoạt động trao đổi mua bán trên thị trờng.Điều này đợc thể hiện qua
việc một quốc gia phải luôn đảm bảo xuất siêu nh Thomas Mun đã viết:" Chúng ta
phải thờng xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho ngời nớc ngoài với số
lợng hàng hoá lớn hơn số lợng chúng ta phải mua của họ".Còn đối với các thơng
nhân thì mục tiêu của họ luôn là mua rẻ bán đắt nhằm thu đợc phần lợi nhuận
chênh lệch.
Nhìn chung thì các quan điểm về lợi nhuận của CNTT,cũng nh các quan điểm
khác của họ,cha có đợc sự nhận thức,phân tích mang tính khoa học sâu sắc ,cha
mang tính quy luật.Tuy nhiên,các quan điểm này cũng đóng vai trò khá quan
trọng, làm tiền đề cho các học thuyết kinh tế sau này.

2/Quan điểm của tr ờng phái T Sản Cổ Điển về lợi nhuận:
Có thể nói rằng,trong giai đoạn trớc Mác,trờng phái T Sản Cổ Điển(TSCĐ) là tr-
ờng phái tiến bộ nhất.Đây cũng là một trong ba trờng phái đợc Mác chọn làm tiền
đề lý luận cho học thuyết của mình.Sở dĩ trờng phái TSCĐ đợc đánh giá cao nh vậy
là do đây là trờng phái đầu tiên chuyển đối tợng nghiên cứu của KTCT từ lĩnh vực
lu thông sang lĩnh vực sản xuất.Đó cũng là lần đầu tiên các nhà kinh tế học không
dừng lại ở việc nghiên cứu,xem xét hiện tợng bên ngoài mà đã sử dụng phơng pháp
trừu tợng hoá khoa học để đi sâu vào nhận thức,phân tích nhằm tìm ra bản chất và
tính quy luật của các sự vật,hiện tợng đồng thời xây dựng một hệ thống các phạm
trù nh giá trị,giá cả,lợi nhuận vv
Đợc hình thành trong giai đoạn đầu của Chủ Nghĩa T Bản(CNTB),trờng phái
TSCĐ đã có một số những đại biểu kiệt xuất nh
3
W.Petty,A.Smith,D.Ricardo,vv Quan điểm của các đại biểu này về lợi nhuận vừa

phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa,mà chỉ là một bộ
phận của giá trị đó".Ngoài ra,A.Smith cũng đã thấy đợc xu hớng bình quân hoá tỷ
suất lợi nhuận và xu hớng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do khối lợng t bản đầu t tăng
lên.
D.Ricardo đã kế thừa một cách xuất sắc những t tởng của A.Smith.Là ngời sống
trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp nên D.Ricardo đã có đợc những
điều kiện khách quan để tiếp tục phát triển học thuyết của A.Smith.Về lợi
nhuận,D.Ricardo cho rằng lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lơng mà nhà t bản trả
cho ngời công nhân.Tiến bộ hơn A.Smith,Ricardo không những đã thấy đợc xu h-
ớng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận bình quân mà còn giải thích đợc nguyên nhân
của sự giảm sút là do sự vận động , biến đổi của thu nhập giữa ba giai cấp địa
chủ,công nhân và nhà t bản.Ông giải thích rằng do trong nông nghiệp có tồn tại
quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng giảm,vì vậy,giá cả của nông phẩm sẽ ngày
4
càng tăng lên làm cho tiền công của công nhân và địa tô của địa chủ cũng tăng lên
trong khi lợi nhuận của nhà t bản thì không tăng theo.Do vậy mà tỷ suất lợi nhuận
sẽ ngày càng giảm xuống,gây thiệt hại cho nhà t bản.Tuy nhiên, đây chỉ là những
luận giải đợc thiết lập trên cơ sở những quan sát bên ngoài sự vật,hiện tợng chứ
không hề mang tính khoa học.Chỉ đến khi Chủ Nghĩa Mác-Lênin(CN M-L) xuất
hiện,với việc phân chia t bản thành t bản bất biến và t bản khả biến,mới giải thích
đợc đúng đắn quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hớng giảm dần.
Trên đây,chúng ta đã xét tới một số trờng phái lý luận trớc Mác,các trờng phái
này đều là các trờng phái có những quan điểm tiến bộ ,về lợi nhuận nói riêng và về
các phạm trù kinh tế học khác nói chung,đặc biệt là trờng phái TSCĐ.Những quan
điểm này đều đã đạt đợc những thành tựu nhất định mặc dù vẫn còn rất nhiều hạn
chế.Sở dĩ nh vậy là do các học thuyết này phát sinh vào giai đoạn đầu mới hình
thành của CNTB , lúc này mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp t sản cha
gay gắt lắm còn mâu thuẫn cơ bản của xã hội lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa t sản
và địa chủ.Hơn nữa,vào lúc đó,cha có một học thuyết nào,đứng về phe giai cấp
công nhân,đợc hình thành để giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và chủ

triển lên và cho rằng:"Giá trị của hàng hoá do lao động mà hàng hoá đó có thể mua
đợc bằng những chi phí để sản xuất ra nó.Các chi phí này bao gồm chi phí về lao
động sống,chi phí về lao động vật hoá cộng với lợi nhuận t bản ứng trớc".Nh vậy là
dựa trên quan điểm sai lầm về giá trị,Malthus đã đa ra quan niệm sai lầm về lợi
nhuận,coi lợi nhuận"là khoản dôi ra ngoài chi phí về lao động sống và lao động vật
hoá".Với quan niệm này về lợi nhuận
vô hình chung,Malthus đã dẫn tới một cách giải thích sai lầm về nguồn gốc của lợi
nhuận,cho rằng không chỉ sức lao động của ngời công nhân mà cả các công cụ lao
động và đối tợng lao động cũng tham gia vào quá trình hình thành lợi nhuận.
Còn theo J.B.Say,ngời ủng hộ quan điểm giá trị ích lợi,thì cho rằng ích lợi của
vật quyết định giá trị của nó,ích lợi càng cao thì giá trị của vật càng lớn,coi ích lợi
là thớc đo của giá trị.Dựa trên cơ sở thuyết giá trị ích lợi,Say đã đa ra lý thuyết về
ba nhân tố sản xuất.Ông cho rằng có ba nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất là
lao động,đất đai và t bản,mỗi nhân tố có ích lợi riêng và tạo ra những phần giá trị t-
ơng ứng.Do vậy,Say đã coi lợi nhuận nh là phần giá trị của hàng hoá đợc tạo ra do
ích lợi của t bản,có nghĩa là ,coi lợi nhuận nh là hiệu suất đầu t của t bản.Luận
điểm này tất yếu dẫn tới việc cho rằng những máy móc tham gia vào quá trình sản
xuất cũng tham gia vào quá trình tạo ra giá trị chứ không phải chỉ riêng lao động
của công nhân mới tạo ra giá trị.Hơn nữa,Say còn cho rằng lợi nhuận là tiền lơng
của nhà quản lý kinh doanh,là phần thởng cho những nhà đầu t dám mạo hiểm.Ta
có thể thấy rằng đó hoàn toàn là những quan điểm sai lầm.

4/Quan điểm về lợi nhuận của tr ờng phái Cổ Điển Mới:
Xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu sự chuyển đổi từ CNTB tự do cạnh tranh sang
CNTB độc quyền,đặc biệt là đợc hình thành sau khi CN Mác ra đời,trờng phái Cổ
Điển Mới (CĐM) ra đời nhằm mục đích biện hộ cho CNTB trớc những hiện tợng
kinh tế mới phát sinh nh tình trạng độc quyền và những hậu quả về mặt xã hội của
nó vv Ngoài ra nó còn có một nhiệm vụ khác là phê phán CN Mác,phủ nhận
những lý luận khoa học của Mác về bản chất bóc lột của giai cấp t bản,sự diệt vong
tất yếu của CNTB và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vv nhằm bảo vệ lợi

trò nh "một hòn đá tảng" trong toàn bộ học thuyết chính là những lý luận về giá trị
thặng d(GTTD).Dựa cơ sở đó,Mác đã phân tích và làm sáng tỏ nguồn gốc và bản
chất của lợi nhuận cũng nh đã giải thích đợc sự hình thành của tỷ suất lợi nhuận
bình quân và bản chất của quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hớng giảm dần.Ngoài
ra,Mác cũng đã thấy đợc và phân tích một cách khoa học sự phân chia của lợi
nhuận thành các hình thức khác nhau nh lợi nhuận công nghiệp(LNCN),lợi nhuận
thơng nghiệp(LNTN),lợi tức cho vay(LTCV),lợi nhuận ngân hàng(LNNH),địa
tô(ĐT) và cuối cùng là lợi nhuận độc quyền(LNĐQ).
Sau đây,chúng ta sẽ lần lợt xem xét các vấn đề trên trong học thuyết của Mác.
1/Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận:
Để thấy đợc sự hình thành của lợi nhuận,trớc tiên ta hãy xem xét về khái niệm
mà mác gọi là chi phí sản xuất(CPSX).
Nh chúng ta đã biết,giá trị của hàng hoá đợc cấu thành nên từ chi phí cho lao
động trong quá khứ,chi phí cho lao động sống và phần giá trị mới đợc tạo ra trong
quá trình sản xuất.Tuy nhiên,đối với nhà t bản thì họ không quan tâm tới sự cấu
thành của giá trị hàng hoá mà họ chỉ quan tâm tới việc phải bỏ ra bao nhiêu t bản
và sẽ thu lại đợc cái gì.
Để tiến hành sản xuất ra một sản phẩm thì trên thực tế nhà t bản sẽ phải ứng t
bản ra để mua các t liệu sản xuất(TLSX),đợc ký hiệu là (c), và để thuê lao động,đ-
ợc ký hiệu là (v).Toàn bộ phần t bản này đợc gọi là t bản ứng trớc(TBƯT).Tuy
nhiên,theo Mác thì không phải toàn bộ phần TBƯT này đều đợc chuyển dịch hết
vào giá trị của hàng hoá mà chỉ có một phần lợng t bản đợc dùng để ứng trớc cho
TLSX và toàn bộ lợng t bản đợc dùng để ứng trớc cho lao động là cấu tạo trực tiếp
nên giá trị của hàng hoá. Phần giá trị này đợc Mác gọi là CPSX ,đợc ký hiệu là (k)
và đợc biểu diễn dới công thức:
k=c+v
7
Với sự hình thành khái niệm CPSX,nhà t bản đã bớc đầu che dấu đợc sự hình
thành của giá trị thặng d(GTTD) và tạo điều kiện để hình thành nên khái niệm lợi
nhuận.Có thể thấy rõ đợc điều này qua việc nghiên cứu những phân tích của Mác

hoá.Từ công thức này,ta có thể thấy rằng CPSX của một hàng hoá luôn nhỏ hơn
giá trị thực tế của hàng hoá đó một lợng đúng bằng phần GTTD đợc tạo ra.Nh
vậy,nếu hàng hoá đợc bán đúng với giá trị của nó thì nhà t bản sẽ thu về đợc một
khoản lợi nhuận đúng bằng phần GTTD (m) chứa đựng trong hàng hoá đó.Tuy
nhiên,nhà t bản cũng vẫn có thể bán một hàng hoá nhất định nào đó với giá cả nhỏ
hơn hoặc lớn hơn giá trị thực tế của nó.Chừng nào mà giá bán vẫn còn cao hơn
CPSX để sản xuất ra hàng hoá đó thì nhà t bản còn thu đợc lợi nhuận.Chính vì vậy
đã làm cho lợi nhuận dờng nh là kết quả của hoạt động kinh doanh, do tài nghệ
kinh doanh của nhà t bản tạo ra.Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự hình
thành và tồn tại của một số quan điểm sai lầm về lợi nhuận mà ta đã nghiên cứu ở
phần trên.
8

2/Tỷ suất lợi nhuận,tỷ suất lợi nhuận bình quân,giá cả sản xuất và quy luật tỷ
suất lợi nhuận có xu h ớng giảm dần :
Nh trên chúng ta đã phân tích,lợi nhuận thực chất chỉ là một hình thức biến tớng
của GTTD.Tuy nhiên,đối với nhà t bản thì họ không quan tâm,không cần biết đến
điều đó.Khi tiến hành một hoạt động sản xuất hàng hoá,mục tiêu của nhà t bản
không phải là hàng hoá đợc sản xuất ra cũng không phải là giá trị sử dụng của
hàng hoá đó.Cái mà nhà t bản cần là cái phần giá trị mới thừa ra so với toàn bộ
phần t bản đã tiêu dùng,nó đợc nhà t bản gọi dới cái tên là lợi nhuận.Mặc dù cái
đích cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất-kinh doanh của nhà t bản là lợi nhuận
tuy nhiên nhà t bản lại chẳng quan tâm xem phần lợi nhuận đó đợc tạo ra từ đâu,từ
TBBB hay từ TBKB vv Đối với nhà t bản,lợi nhuận đợc tạo nên từ toàn bộ phần t
bản đã tiêu dùng,đúng nh Mác đã viết :" nhà t bản trông mong là tất cả các bộ
phận của t bản mà hắn ứng ra đều sẽ đem lại lợi nhuận nh nhau cả ".Từ quan niệm
trên đã nảy sinh khái niệm về tỷ suất lợi nhuận.Theo định nghĩa của Mác thì "Tỷ
suất lợi nhuận (p') là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d và toàn bộ t bản
ứng trớc".Ta có : p'=(m/(c+v))*100%.
Với sự xuất hiện khái niệm tỷ suất lợi nhuận,ta có thể thấy rằng,một lần nữa bản

p' thì ta có :
p'=
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân đã dẫn tới sự biến đổi từ giá trị hàng
hoá thành giá cả sản xuất.Giá cả sản xuất đợc định nghĩa "bằng chi phí sản xuất
cộng với lợi nhuận bình quân".Ta có : giá cả sản xuất = k + p .
Ta có thể thấy rằng,trớc đây,khi cha xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả
xoay quanh giá trị của hàng hoá.Giờ đây,với việc hình thành khái niệm giá cả sản
xuất thì giá cả của hàng hoá lại xoay quanh giá cả sản xuất.Đã từng có một số nhà
kinh tế học t sản,dựa vào sự thật là giá cả sản xuất trong một số nghành không phù
hợp với giá trị của hàng hoá trong các nghành đó,để hòng bác bỏ lý luận giá trị lao
động của Mác.Tuy nhiên,cần phải thấy rằng quy luật giá trị vẫn hoàn toàn đúng
đắn trong giai đoạnTBCN,giá trị vẫn đóng vai trò là cơ sở là nội dung bên trong
của giá cả sản xuất.Nói cách khác,giá cả sản xuất thực chất chỉ là mộthình thức
biến tớng của giá trị mà thôi.
Ta có thể thấy rõ đợc điều đó qua một số phân tích sau:
Một là,tổng số lợi nhuận của toàn bộ giai cấp t sản thì đúng bằng với tổng số
GTTD do lao động không công của giai cấp công nhân tạo ra.Và do đó,tỷ suất lợi
nhuận bình quân cao hay thấp là do lợng GTTD đợc tạo ra trong xã hội quyết
định.Sở dĩ nh vậy vì,nh trên đã phân tích,nguồn gốc của lợi nhuận chỉ có thể xuất
phát từ lao động không công của công nhân bị nhà t bản chiếm đoạt chứ không thể
từ một nguồn gốc nào khác.Các nhà t bản,nh Mác nói,sẽ không thể bóc lột lẫn
nhau,bóc lột trên lng nhau đợc.
Hai là, mặc dù trên thực tế,trong một số nghành,giá cả sản xuất của một hàng
hoá có thể cao hơn giá trị của nó trong khi ở một số nghành khác thì giá cả sản
xuất của hàng hoá lại thấp hơn giá trị của nó.Nhng xét về tổng thể,trên phạm vi
toàn xã hội,thì tổng số giá cả sản xuất vẫn đúng bằng tổng số giá trị của tất cả hàng
hoá.
Ba là,giá trị của một hàng hoá biến động tăng hoặc giảm cũng sẽ kéo theo sự
biến động tơng ứng của giá cả sản xuất của hàng hoá đó.
Nói tóm lại,Mác đã giải thích đợc một cách chính xác và khoa học về nguồn

sự tăng lên dần của lợng TBKB (c) sẽ gây ra sự giảm dần của tỷ suất lợi nhuận p'.
Mặt khác,có thể nói rằng,nguyên nhân sâu xa của quy luật tỷ suất lợi nhuận có
xu hớng giản dần chính là sự tăng dần của năng suất lao động xã
hội(NSLĐXH).Với nền đại công nghiệp của CNTB , NSLĐXH ngày càng đợc
nâng cao.Điều đó cho phép một số lợng ít hơn về lao động có thể vận động đợc
một khối lợng máy móc ngày càng nhiều hơn để biến một lợng,cũng ngày càng
nhiều hơn,các TLLĐ thành sản phẩm hàng hoá.Nói khác đi,trong cơ cấu giá trị của
hàng hoá thì phần TBBB (c) ngày càng tăng trong khi phần TBKB (v) thì ngày
càng giảm.Và vì vậy,mặc dù trình độ bóc lột là không giảm nhng tỷ suất lợi nhuận
vẫn ngày càng giảm.
Tuy nhiên,cần phải thấy rằng,nh Mác đã khẳng định,sự đúng đắn của quy luật tỷ
suất lợi nhuận giảm dần không có nghĩa là lợng GTTD,hay chính là lợng lao động
không đợc trả công mà nhà t bản chiếm đoạt của ngời công nhân,không tăng lên
một cách tuyệt đối.Sở dĩ nh vậy là do nhà t bản không ngừng nâng cao tỷ suất giá
trị thặng d cũng nh không ngừng tăng thêm tổng số lao động bị t bản bóc lột.Hơn
thế nữa,quy luật này còn làm cho nhà t bản càng tăng cờng bóc lột công nhân tới
mức tối đa nhằm kìm hãm xu hớng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận.Ngoài ra,nó còn
làm cho cuộc tranh giành phân chia tổng khối lợng lợi nhuận ngay trong nội bộ
giai cấp t bản cũng diễn ra ngày càng gay gắt.
Không chỉ có vậy mà trong nỗ lực tìm mọi cách kìm hãm xu hớng giảm dần của
tỷ suất lợi nhuận và nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận,nhà t bản đã đua nhau đầu
t t bản ra nớc ngoài đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nơi có nguồn nhân công
giá rẻ và cấu tạo hữu cơ của t bản thấp hơn so với các nớc phát triển.ở các nớc
này,bọn t bản ra sức vơ vét,bóc lột nhân dân các nớc thuộc địa.Điều đó làm cho
mâu thuẫn giữa các nớc t bản phát triển và các nớc chậm tiến,giữa chính quốc và
các nớc thuộc địa ngày càng gay gắt.
11
Ngoài ra,với tham vọng tăng thêm lợi nhuận để bù đắp vào chỗ giảm sút lợi nhuận
do xu hớng giảm sút lợi nhuận gây ra,nhà t bản đã tăng cờng mở rộng quy mô sản
xuất,đẩy sức cung của thị trờng vợt xa khỏi giới hạn nhu cầu của ngời mua.Đây là

vay và địa tô T bản Chủ nghĩa đều có cùng nguồn gốc là phần giá trị thặng d do lao
động không công của ngời lao động tạo ra, đều là các hình thức biểu hiện khác
nhau của lợi nhuận nhng mỗi một hình thức lại có một số đặc điểm riêng khác biệt
với các hình thức khác. Để thấy rõ đợc điều này,sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu,
xem xét lần lợt từng hình thức này.
a/ Lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận Th ơng nghiệp:
Trớc tiên, xét trong lĩnh vực sản xuất và lu thông hàng hóa ta sẽ thấy tồn tại hai
dạng t bản là t bản Thơng nghiệp và t bản Công nghiệp và tơng ứng với chúng là
hai hình thức lợi nhuận, lợi nhuận Thơng nghiệp và lợi nhuận Công nghiệp .
Không phải chỉ tới CNTB thì mới tồn tại hai dạng t bản cũng nh hai hình thái lợi
nhuận này. Nhng trong các xã hội trớc CNTB thì hai dạng t bản này hoàn toàn độc
12
lập với nhau. Nhà t bản sau khi sản xuất ra sản phẩm rồi phải tự mình mang sản
phẩm ra thị trờng để tiêu thụ do đó toàn bộ t bản của họ ban đầu không chỉ đợc đầu
t vào mỗi quá trình sản xuất mà còn phải chi phí cho cả quá trình bán hàng do vậy
lợi nhuận của nhà t bản Công nghiệp sẽ bị giảm đáng kể.Còn t bản Thơng nghiệp
trong giai đoạn này,hay còn đợc gọi là Thơng nghiệp cổ xa với chức năng lu thông
hàng hoá dựa trên cơ sở mua rẻ, bán đắt và vì vậy lợi nhuận Thơng nghiệp lúc
này thực chất là kết quả của việc ăn cắp và lừa đảo. Ta có thể thấy rõ điều này
qua quan điểm của trờng phái trọng thơng, cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự
trao đổi không ngang giá , cho rằng không một ngời nào thu đợc lợi mà không
làm thiệt kẻ khác.
Nhng trong giai đoạn TBCN,do nhu cầu của sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá
thì Công nghiệp và Thơng nghiệp hay nói rộng hơn là quá trình sản xuất và lu
thông không thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau. Lúc
này thì t bản Thơng nghiệp, thực chất là một bộ phận của t bản Công nghiệp tách
rời ra, phục vụ qúa trình lu thông hàng hoá của nhà t bản Công nghiệp. Khi đó,
với sự hình thành của t bản Thơng nghiệp thì cả t bản Công nghiệp và t bản Thơng
nghiệp đều thu đợc những lợi ích mà đợc thể hiện ra là lợi nhuận Công nghiệp và
lợi nhuận Thơng nghiệp. Đối với t bản Thơng nghiệp, mặc dù chỉ tham gia vào lĩnh

tăng.
Nh vậy, khái quát lại thì lợi nhuận Thơng nghiệp có nguồn gốc từ phần giá trị
thặng d đợc tạo ra trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên lợi nhuận đó đợc thực hiện
nh thế nào? Do t bản Thơng nghiệp chỉ tham gia vào quá trình lu thông cho nên lợi
nhuận Thơng nghiệp chính là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng
hoá.Nhng nói thế không có nghĩa là nhà t bản Thơnh nghiệp phải mua hàng hoá
với đúng giá trị của nó để rồi bán cao hơn giá trị nhằm thu lợi nhuận chênh lệch.
Mà thực chất thì nhà T bản Thơng nghiệp
sẽ mua hàng hoá thấp hơn giá trị và bán đúng bằng giá trị của hàng hoá. Nguyên
nhân của hiện tợng này là do sự hình thành một tỉ suất lợi nhuận bình quân mới là
bình quân các tỉ suất lợi nhuận của hai nghành Công nghiệp và Thơng nghiệp. Ta
có thể thấy rõ điều này khi phân tích ví dụ sau:
Một nhà T bản Công nghiệp có một lợng t bản là 800 với cấu tạo: 700c + 100v
với tỉ suất giá trị thặng d: m = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v + 100 =
900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Công nghiệp sẽ là:
P
CN
= 100/800 * 100% = 12,5%
Bây giờ,nếu có thêm một nhà t bản Thơng nghiệp bỏ ra 200 để mua hàng hoá
=>lúc đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình quân sẽ bằng:
100
*100% = 10%
800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thơng nghiệp tơng ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà t bản Thơng nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà t bản Công nghiệp với giá
thấp hơn giá trị:

những nhà t bản có nhu cầu cho vay. Và tất yếu sẽ hình thành nên mối quan hệ tín
dụng TBCN và nhà t bản Công nghiệp có t bản nhàn rỗi sẽ trở thành nhà t bản cho
vay.
Vậy t bản cho vay "là t bản tiền tệ mà ngời chủ của nó nhờng cho một ngời khác
sử dụng trong một thời gian để nhận đợc một số lời nào đó". Đặc điểm nổi bật của
t bản cho vay là nó không thuộc sở hữu của nhà t bản sử dụng nó vào sản xuất. Có
nghĩa là khi nhà t bản cho vay cho ngời khác vay một lợng t bản tiền tệ là chỉ cho
ngời đó quyền sử dụng lợng t bản tiền tệ đó chứ không cho quyền sở hữu lợng t
bản đó. Do vậy mà ở t bản cho vay thì quyền sử dụng và quyền sở hữu đợc tách rời
nhau, đây cũng là sự khác biệt căn bản của t bản cho vay với t bản Công nghiệp và
t bản Thơng nghiệp.
Nh trên đã phân tích, nhà t bản cho vay cho ngời khác sử dụng lợng t bản tiền tệ
nhàn rỗi của mình không phải do lòng tốt hay vì một cái gì khác mà chỉ đơn thuần
là để kiếm lời. Chính vì vậy mà nhà t bản đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay một
số tiền nào đó, khoản tiền này đợc gọi là lợi tức và nó dợc trích từ phần lợi nhuận
thu đợc của nhà t bản đi vay sau khi anh ta sử dụng lợng t bản đi vay vào quá trình
sản xuất.
Vậy lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản đi vay phải trả cho
nhà t bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà t bản cho vay đã đa cho nhà t bản
đi vay sử dụng. Nh vậy thì xét cho cùng nguồn gốc của lợi tức chính là phần giá trị
thặng d mà nhà t bản Công nghiệp chiếm đoạt của ngời lao động.
Với sự hình thành của t bản cho vay và tơng ứngvới nó là lợi tức cho vay thì lúc
này phần lợi nhuận bình quân mà các nhà t bản Công nghiệp và t bản Thơng
nghiệp thu đợc không còn thuộc hoàn toàn về họ mà phần lợi nhuận bình quân đó
đợc chia ra thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà t bản cho vay, phần còn
lại sau khi trả lợi tức đợc gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp. Lợng lợi tức đem trả
nhiều hay ít tuỳ theo quan hệ cung cầu về t bản cho vay và nó phụ thuộc vào tỉ suất
lợi tức, là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số t bản tiền tệ cho vay.
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z thì ta có:
Z = ( Z/t bản cho vay) * 100%

gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay, Ngân hàng đã thu đợc lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh của mình.Khoản lợi nhuận này đợc gọi là lợi nhuận Ngân hàng,nó chính là
khoản chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi đã trừ đi những
khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ Ngân hàng và cộng với các khoản thu nhập
khác về kinh doanh tiền tệ.Khác với lợi tức vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức
giảm dần, lợi nhuận ngân hàng hoạt động theo quy luật tỉ suât lợi nhuận bình quân
giảm dần,có nghĩa là lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân.
c/ Địa tô T bản Chủ nghĩa:
ở trên chúng ta đã nghiên cứu và xem xét sự hình thành và xâm nhập của
CNTB vào lĩnh vực Thơng nghiệp và tín dụngvà tơng ứng là sự hình thành nên các
bộ phận t bản Thơng nghiệp; t bản cho vay và t bản Ngân hàng. Đến phần này,
chúng ta sẽ xem xét sự xâm nhập của CNTB vào trong Nông nghiệp dẫn tới sự
hình thành bộ phận t bản kinh doanh trong Nông nghiệp và sự xuất hiện một hình
thức mới của lợi nhuận là địa tô T bản Chủ nghĩa.
16
Trớc tiên, ta sẽ xem xét sự xâm nhập của PTSX TBCN vào trong Nông nghiệp.
Với sự phát triển của CNTB, giai cấp T bản không chỉ thống trị nghành Công
nghiệp mà còn dần dần thao túng cả lĩnh vực Nông nghiệp. Sự xâm nhập của
CNTB vào lĩnh vực Nông nghiệp có thể diễn ra theo hai cách sau
Một là, trớc hết vẫn duy trì về căn bản nền kinh tế phong kiến địa chủ trớc kia và
sau đó thông qua các cuộc cải cách mà dần dần chuyển sang đờng lối kinh tế theo
kiểu T bản Chủ nghĩa.
Cách thứ hai là,ngay từ đầu, thông qua con đờng Cách mạng T sản lật đổ chế độ
kinh tế phong kiến cũ; giải phóng lực lợng sản xuất thoát khỏi xiềng xích nông nô.
Trên cơ sở đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập QHSX TBCN trong
Nông nghiệp từ đó phát triển nhanh chóng Nông nghiệp theo con đờng các ấp trại
TBCN.
Nh vậy, dù sự xâm nhập của PTSX TBCN vào Nông nghiệp đợc thực hiện theo
cách nào đi chăng nữa thì hậu quả của sự xâm nhập này vẫn là hình thành nên
trong nền Nông nghiệp TBCN ba giai cấp chủ yếu là giai cấp địa chủ,giai cấp t bản

17
vực Nông nghiệp,lợi nhuận siêu ngạch cũng mang ý nghĩa tơng tự, nó cũng là phần
lợi nhuận chênh lệch mà những nhà t bản đầu t vào những mảnh đất mầu mỡ hơn
có thể thu đợc. Tuy nhiên, khác với trong lĩnh vực Công nghiệp, phần lợi nhuận
siêu ngạch trong lĩnh vực Nông nghiệp mang tính ổn định, lâu dài và khá phổ biến.
Sở dĩ nh vậy là vì trong Nông nghiệp, một t liệu lao đông chủ yếu là đất đai lại có
tính chất hạn chế,đại bộ phận đất đai là xấu, cằn cỗi chỉ có một số ít là đất trồng
trọt mầu mỡ. Hơn thế nữa, các ruộng đất xấu thì hoặc là không thể cải tạo đợc hoặc
là cải tạo đợc nhng đòi hỏi những chi phí rất lớn còn các ruộng đất tốt thì lại bị
độc quyền kinh doanh kiểu TBCN. Chính vì vậy mà các nhà t bản Nông nghiệp bắt
buộc phải thuê ruộng đất xấu. Điều đó dẫn tới thực trạng là các nhà t bản kinh
doanh trên ruộng đất tốt luôn tốn ít chi phí hơn các nhà t bản kinh doanh trên
ruộng đất xấu để cùng sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Hơn nữa,nếu nh trong Công nghiệp, giá cả là do giá thành sản xuất trong điều
kiện trung bình quyết định thì trong Nông nghiệp,vì ruộng đất tốt sản xuất không
đủ sản phẩm để thoả mãn nhu cầu do vậy bắt buộc phải tiến hành sản xuất trên
ruộng đất xấu. Vì vậy nếu vẫn để giá cả sản xuất do điều kiện sản xuất trung bình
quyết định thì các nhà sản xuất kinh doanh trên ruộng đất xấu sẽ thu đợc ít lợi
nhuận hơn. Điều đó làm cho họ sẽ chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác và sẽ gây
ra khan hiếm các sản phẩm Nông nghiệp. Chính vì vậy mà trong Nông nghiệp thì
giá cả sản xuất là do điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu quyết định.
Từ hai nguyên nhân trên,đã dẫn tới việc hình thành nên lợi nhuận siêu ngạch
trong sản xuất Nông nghiệp. Dạng lợi nhuận siêu ngạch này khi nộp cho chủ đất d-
ới dạng địa tô còn đợc gọi là địa tô chênh lệch. Vậy địa tô chênh lệch chính là
phần lợi nhuận thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu đợc trên những ruộng đất có
điều kiện sản xuất trung bình và tốt, trên cơ sở giá cả sản xuất cá biệt nhỏ hơn giá
cả sản xuất chung do điều kiện sản xuất xấu nhất quy định. Xét cho cùng thì nguồn
gốc của địa tô chênh lệch cũng chính là một phần giá trị thặng d do công nhân
Công nghiệp tạo ra.
Nhà t bản có thể có đợc địa tô chênh lệch nhờ hai cách và do đó tơng ứng có hai

trong Nông nghiệp luôn lớn hơn chi phí trong Công nghiệp. Chính vì vậy nếu với
một trình độ bóc lột ngang nhau,có nghĩa là tỷ suất giá trị thặng d trong hai
nghành là nh nhau, thì một lợng t bản đầu t vào Nông nghiệp sẽ tạo ra nhiều gia trị
thặng d hơn so với một lợng tơng ứng đầu t vào Công nghiệp.Do vậy, giá trị của
nông sản đợc tạo ra bao giờ cũng lớn hơn giá cả sản xuất chung.Chính sự chênh
lệch này đã tạo ra địa to tơng đối.
Sở dĩ tồn tại sự chênh lệch đó là do tồn tại chế độ t bản ruộng đất.Nếu không có
chế độ t hữu về ruộng đất thì số thừa ra,do cấu tạo hữu cơ Công nghiệp thấp hơn
gây ra, sẽ đợc phân phối lại cho toàn bộ các nhà t bản và lúc đó, nông sản sẽ đợc
bán theo giá cả sản xuất (= k+p = c+v+p). Tuy nhiên,do tồn tại sự độc quyền về t
hữu ruộng đất nên đã ngăn cản sự tự do cạnh tranh, đã ngăn cản việc hình thành lợi
nhuận bình quân giữa hai nghành Công nghiệp và Nông nghiệp.Vì vậy mà cái phần
chênh lệch dôi ra đó không tham gia vào việc bình quân lợi nhuận mà đợc giữ lại
trong Nông nghiệp để trả cho chủ đất. Lợng chênh lệch này nhiều hay ít phụ thuộc
vào sự chênh lệch giữa giá bán và giá cả sản xuất chung mà giá bán lại dựa trên cơ
sở là giá trị của nông sản và thờng bằng đúng giá trị.
Vậy địa tô tuyệt đối "cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi
nhuận bình quân, đợc hình thành do cấu tạo hữu cơ của t bản trong Nông nghiệp
thấp hơn trong Công nghiệp,nó là số chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản
xuất chung".
Nói tóm lại, địa tô,dù là địa tô tuyệt đối hay địa tô chênh lệch, nh Mác nói,đều
là một thứ cống vật mà xã hội, dới chế độ T Bản Chủ Nghĩa, phải hiến cho những
ngời nhiều ruộng đất. Xét về nguồn gốc thì địa tô cũng nh các hình thức khác của
lợi nhuận,đều có nguồn gốc từ giá trị thặng d mà nhà t bản đã chiếm đoạt của ngời
công nhân. Hơn nữa, địa tô còn phản ánh tính ăn bám của giai cấp địa chủ, phản
ánh những thiệt hại mà sự ăn bám đó mang lại.Vì có địa tô tuyệt đối nên các nông
phẩm ngày càng trở nên đắt đỏ làm cho mức sống của con ngời giảm sút.Vì có địa
tô chênh lệch nên xã hội không đợc hởng những lợi ích từ việc tăng năng suất lao
động trong Nông nghiệp cũng nh nhiều lợi ích do đất đai phì nhiêu mang lại.
d/ Lợi nhuận độc quyền:

giá cả độc quyền, bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền.Thông thờng
thì các tổ chức độc quyền,dựa trên sức mạnh độc quyền,để mà ép giá mua vào thấp
hơn giá trị của hàng hoá mua vào và nâng giá trị của hàng hoá bán ra lớn hơn giá
trị của nó.
Nói tóm lại, trong mục này,chúng ta đã tiến hành nghiên cứu những lý luận của
học thuyết kinh tế Mác-Lênin và thông qua những lý luận đó, chúng ta đã phần
nào thấy đợc các biểu hiện khác nhau của lợi nhuận.Các hình thức này,hầu hết là
đợc hình thành nên do nhu cầu chuyên môn hoá, hợp tác hoá của giai cấp t sản.Sự
phân biệt lợi nhuận thành các hình thức khác nhau cũng chính là sự chia nhỏ giá trị
thặng d thành các phần lợi nhuận khác nhau ứng với các bộ phận t bản khác
nhau.Tuy nhiên,điều đó không có nghĩa là phần giá trị thặng d mà mỗi bộ phận có
đợc sẽ ít đi mà trên thực tế, nhờ sự phân công, hợp tác trong quá trình bóc lột giá
trị thặng d, giai cấp t bản đã ngày càng hoàn thiện các thủ đoạn bóc lột giá trị
thặng d làm cho toàn bộ khối lợng giá trị thặng d nói chung cũng nh phần giá trị
thặng d mà mỗi bộ phận t bản nhận đợc không ngừng tăng lên.Chính vì vậy mà,với
20
việc giải thích đợc sự hình thành và tồn tại của các hình thái khác nhau của lợi
nhuận,Mác đã thể hiện sự khoa học và tiến bộ hơn so với các nhà lý luận trớc Mác
cũng nh sau này.Hơn thế nữa, thông qua việc vạch rõ bản chất bóc lột của các hình
thái khác nhau của lợi nhuận,Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột của giai cấp t bản
cũng nh của PTSX TBCN.
Nh vậy là, ở phần I này, thông qua các học thuyết kinh tế mà đặc biệt là học
thuyết kinh tế của CN Mác -Lênin, chúng ta đã nghiên cứu và xem xét nguồn gốc
và bản chất của phạm trù lợi nhuận.Qua đó, ta đã thấy đợc rõ tính khoa học và tiến
bộ hơn hẳn của học thuyết kinh tế của CN Mác-Lênin đối với các lý luận về lợi
nhuận nói riêng và mọi vấn đề khác nói chung. Trên cơ sở hiểu rõ đợc nguồn
gốc,bản chất của lợi nhuận cũng nh các hình thái biểu hiện khác nhau của nó, sau
đây, trong phần II, ta sẽ tiến hành phân tích nhằm thấy đợc vai trò của lợi nhuận
trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
21

của con ngời chính là nhu cầu.Nhu cầu đã tạo nên những trạng thái căng thẳng
thôi thúc con ngời hành động để thoả mãn các nhu cầu đó. Tuy nhiên, nhu cầu thúc
đẩy con ngời hoạt động không phải một cách trực tiếp mà nó đợc thể hiện dới hình
thức lợi ích thúc đẩy con ngời hoạt động. Do vậy, trong những hoàn cảnh cụ thể,
lợi ích với t cách là phơng tiện thoả mãn nhu cầu của chủ thể, trớc sự thôi thúc của
các nhu cầu có nguy cơ không thoả mãn đợc, đã trở thành động lực trực tiếp quyết
định sự hoạt động của chủ thể. Nói nh vậy có nghĩa là,con ngời một mặt bị thúc ép
bởi những nhu cầu cấp bách cha đợc thoả mãn, mặt khác họ đã nhận thức đợc rằng
để đạt đợc sự thoả mãn các nhu cầu đó thì phải làm gì và sẽ đạt đợc những lợi ích
cụ thể nào.Vì vậy, lợi ích đã trở thành một động lực trực tiếp thôi thúc chủ thể hoạt
động, và với t cách là động lực thúc đẩy sự phát triển của con ngời, lợi ích bao hàm
trong nó các lực thúc đẩy của các nhu cầu của chủ thể.
22
Tuy nhiên, phạm trù lợi ích, tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà có thể chia ra làm
nhiều loại nh lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp hoặc lợi ích kinh tế, lợi
ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần Nhng trong tất cả các hình thức đa
dạng đó thì lợi ích kinh tế của từng cá nhân là có vai trò quyết định. Sở dĩ nh vậy là
vì:
Trớc hết, cần phải thấy rằng con ngời hoạt động không phải là những con ngời
trừu tợng mà là những con ngời cụ thể, những ngời mà hoạt động luôn diễn ra trớc
hết vì lợi ích của bản thân họ nh Mác đã viết các cá nhân chỉ theo đuổi lợi ích
của riêng mình,lợi ích mà họ coi là không nhất trí với lợi ích chung của họ cho
nên họ coi lợi ích chung đó là một cái gì xa lạ, không phụ thuộc vào họ.Sở dĩ
lợi ích cá nhân có vai trò quan trọng hàng đầu là vì nó đợc cá nhân nhận biết trớc
hết và hơn nữa, nó đáp ứng ngay những nhu cầu thiết thân của mỗi cá nhân
đó.Chính vì vậy mà lợi ích cá nhân luôn luôn là động lực trực tiếp và mạnh mẽ
nhất đối với mọi hoạt động của con ngời ; tất cả các lợi ích khác đều thực hiện
thông qua lợi ích cá nhân.
Tiếp đó, trong các lợi ích khác nhau của cá nhân nh lợi ích kinh tế, lợi ích chính
trị, lợi ích văn hoá xã hội thì lợi ích kinh tế là sự biểu hiện của những quan hệ

này sẽ ảnh hởng đến những cá nhân khác và tới cả cộng đồng, xã hội. Nói cụ thể
hơn, sự hoạt động theo đuổi những lợi ích cá nhân riêng lẻ đã tạo nên sự vận động
chung của một tập thể hay của cả một cộng đồng xã hội theo những xu hớng vận
động phát triển nào đó. Những xu hớng rất đa dạng, khác nhau thậm chí trái ngợc
nhau này đã tạo ra những lực đẩy thúc đẩy xã hội theo những hớng khác nhau và
tổng hợp các lực đó sẽ tạo nên một lực bình hành thúc đẩy xã hội phát triển theo
một xu hớng chung. Đúng nh F. Anghen đã viết con ngời làm ra lịch sử của
mình - vô luận là lịch sử này diễn ra nh thế nào - bằng cách là mỗi con ngời theo
đuổi những mục đích riêng, mong muốn một cách có ý thức,và chính kết quả
chung của vô số những ý muốn tác động theo nhiều hớng khác nhau đó và của
những ảnh hởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo ra
lịch sử .
Nh vậy, từ chỗ là động lực quyết định sự hoạt động của từng cá nhân riêng lẻ,
lợi ích trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động của các nhóm,các tập đoàn và các
cộng đồng xã hội, tạo nên các xu hớng vận động chung của xã hội. Và từ chỗ là
động lực thúc đẩy các nhóm, các tập đoàn, các cộng đồng ngời hoạt động, lợi ích
đã trở thành một trong những động lực cơ bản quyết định sự vận động và phát triển
chung của cả xã hội.
Tuy nhiên không phải bất kì lợi ích cá nhân nào cũng là động lực thúc đẩy lịch
sự phát triển theo hớng tiến bộ. Có những lợi ích mà khi con ngời hành động nhằm
thoả mãn những lợi ích đó thì sẽ gây tổn hại tới lợi ích của những cá nhân khác,tới
lợi ích của cộng đồng và xã hội.Chính vì vậy mà vai trò động lực của lợi ích cá
nhân,đặc biệt là các lợi ích kinh tế, còn thể hiện qua sự phù hợp giữa một lợi ích cá
nhân nào đó với lợi ích chung của cộng đồng, xã hội.
Lợi ích chung là lợi ích phản ánh và đáp ứng nhu cầu của một cộng đồng. Đối
với những lợi ích cá nhân có vai trò không chỉ là động lực cho sự phát triển của
mỗi cá nhân mà còn là động lực phát triển của toàn xã hội thì giữa chúng và những
lợi ích chung của xã hội có mối quan hệ biện chứng thể hiện qua:
Một mặt lợi ích cá nhân là cơ sở, nền tảng của lợi ích chung. Sở dĩ nh vậy là vì
không có lợi ích riêng sẽ không có sự tồn tại của các cá nhân riêng lẻ, và do đó sẽ

diện, tóm lại, là một bản năng bẩm sinh vô pháp luật . Chính vì vậy,khi chúng ta
quá đề cao, coi trọng lợi ích cá nhân, đặc biệt là các lợi ích kinh tế mà biểu hiện
trong thực tiễn là xu hớng chạy theo lợi nhuận, thì không những không thúc đẩy
phát triển mà còn đẩy xã hội vào tình trạng rối loạn khủng hoảng.
Nh vậy là,trong mục này, chúng ta đã dựa trên cơ sở phân tích, giải thích về vai
trò động lực của lợi ích để nhằm chứng minh vai trò động lực của lợi nhuận đối với
sự phát triển của từng cá nhân cũng nh của toàn xã hội. Tuy nhiên, ở phần này,
khái niệm lợi nhuận mới chỉ đợc xem xét với ý nghĩa thuần tuý, đợc coi nh một
hình thức đặc biệt của lợi ích kinh tế. Trong hai mục sau, chúng ta sẽ lần lợt xem
xét những biểu hiện mang tính động lực của lợi nhuận qua việc xem xét những học
thuyết kinh tế của hai trờng phái lý luận TBCN và XHCN cũng nh qua việc phân
tích những biểu hiện thực tiễn ở hai khối nớc TBCN và XHCN tơng ứng với hai tr-
ờng phái lý luận trên.

2/ Vai trò của lợi nhuận đối với các n ớc T bản Chủ nghĩa:
a/ Lợi nhuận là động lực thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội:
Nh trên đã phân tích,lợi nhuận trớc hết là một động lực cơ bản trong mọi hoạt
động của mỗi cá nhân,đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng. Chính vì vậy mà ở
các nớc TBCN, những nớc vẫn luôn coi trọng và đề cao lợi ích cá nhân lên trên lợi
ích cộng đồng xã hội, thì vai trò động lực của lợi nhuận đợc thể hiện rất rõ nét. Đối
với các nớc này thì lợi nhuận đợc coi là một động lực trực tiếp mạnh mẽ và cơ bản
nhất thúc đẩy nhà t bản lao vào tiến hành sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận đa các
doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất hàng hoá mà ngời tiêu dùng cần nhiều
hơn,bỏ các khu vực có ít ngời tiêu dùng.Lợi nhuận đa các nhà doanh nghiệp đến
việc sử dụng kỹ thuật sản xuất có hiệu quả nhất.Vì vậy,hệ thống thị trờng luôn phải
dùng lãi và lỗ để quyết định ba vấn đề của sản xuất nh:cái gì,thế nào và cho ai?,
nh một nhà kinh tế đã nói lợi nhuận là phần thởng và hình phạt đối với nhà sản
xuất kinh doanh,nó là kim chỉ nam cho cơ chế thị trờng :Cũng giống nh ngời nông
dân sử dụng củ cà rốt và cây gậy để nhử con lừa đi tới,hệ thống thị trờng lấy lợi
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status