hợp tác nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm kháng thể kháng tụ huyết trùng (tht) lợn và e.coli được chiết tách từ lòng đỏ trứng gà bằng công nghệ mới - Pdf 13


1Liên hiệp các hội KH&KT bộ khoa học
Việt Nam & công nghệ
Hội thú y Việt Nam
Báo cáo nghiệm thu nhiệm vụ:
Hợp tác nghiên cứu khoa Học và phát triển công nghệ
Việt Nam Hungary theo nghị định thTên nhiệm vụ

Hợp tác nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm kháng thể kháng
tụ huyết trùng lợN ( THT ) & E.Coli đợc chiết tách từ lòng đỏ
trứng gà bằng công nghệ mới. Họ tên chủ nhiệm nhiệm vụ: GS.TSKH Phan Thanh Phợng
Cơ quan chủ trì
: Hội thú y Việt nam

tài đã tiến hành nghiên cứu cả 2 hai bệnh và chế kháng thể phòng chống hai bệnh
nói trên . Dù nội dung đợc bổ sung , nhng đề tài chỉ xin điều chỉnh các khoản
chi tiêu đã đợc duyệt , đồng thời đã khai thác đợc nguồn kinh phí khác ( Cty
BTV.JSC. hỗ trợ một phần ) để thực hiện phần nội dung bổ sung. Đợc cơ quan
quản lý đồng ý và cho phép đã tiến hành đề tài theo nội dung đợc điều chỉnh, do
đó đề tài có tên là :
Hợp tác nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm kháng thể kháng
tụ huyết trùng (THT) lợn & E.Coli đợc chiết tách từ lòng đỏ trứng
gà bằng công nghệ mới , đến nay đã kết thúc, xin báo cáo kết quả đã thực
hiện.

3
Báo cáo nghiệm thu nhiệm vụ hợp tác quốc tế
Về khoa học và công nghệ theo nghị định th

I- Thông tin chung về nhiệm vụ

1. Tên nhiệm vụ
2. M số

Hợp tác nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm
kháng thể kháng tụ huyt trùng ( THT ) lợn
& E.Coli đợc chiết tách từ lòng đỏ trứng
gà bằng công nghệ mới.

3. Thời gian thực hiện (Phía Việt Nam) 4. Cấp quản lý
24 tháng (Từ tháng 07/07/2006

9. Họ và tên chủ nhiệm đối tác nớc ngoài:
Mr.Laszlo Pados,Tesco General Director

10. Cơ quan đối tác nớc ngoài :
- International Cooperation and Consulting Company,Tesco Hungary.
1054 Budapest,Hold ut 21,Hungary.
Telephone :361 311 0691 Fax : 361 111 3849.
- Viện nghiên cứu khoa học thú y Budapest,Phòng Hóa sinh miễn dịch.
SZENT ISVAN UNIVERSITY Faculty of Veterinary -Ch nhim ti : Prof. Laszdo Fodor D.V.M.,PhD.

H-1400 Budapest P.O.Box 2.
36-1 478 4104 FAX : 36-1 478 4105.

11. Xuất xứ thoả thuận đã có với đối tác nớc ngoài:
- Thời gian ký kết thoả thuận: 3/2005
- Cấp ký kết thoả thuận: Chủ tịch Phân ban hợp tác KHKT Việt nam Hungary
- Các nội dung thoả thuận chính:
+ Hợp tác nghiên cứu chiết tách IgY ( Immunoglobulin Y ) từ lòng đỏ
trứng gà đợc tối miễn dịch chống THT & E.Coli bằng công nghệ cao.
+ ứng dụng các dạng kháng thể phòng trị bệnh cho lợn tại Việt nam.

5
II

Nội dung KH&CN của nhiệm vụ
12. Mục tiêu của nhiệm vụ
- Nhiệm vụ chủ yếu của Chơng trình này là: Phía Việt nam tiếp thu

phòng ở các địa phơng đạt đợc cha đồng đều và còn thấp, nên việc sử dụng
hoá dợc và kháng sinh vẫn đợc dùng để khống chế bệnh.
Song, dùng kháng sinh và hoá dợc dễ gây nhờn thuốc, nên hiệu quả
điều trị bệnh không cao.
Từ những năm 1954, 1975 các tác giả Nguyễn Vĩnh Phớc, Nguyễn
Vĩnh Hoà và CS. đã dùng kháng huyết thanh kháng THT để điều trị bệnh THT
đạt đợc hiệu quả khả quan, tuy nhiên giá thành còn đắt, nên việc ứng dụng
còn rất hạn chế. Đây là hớng nghiên cứu cần đợc tiếp tục và phát triển.
Hiện nay trên thế giới vấn đề này rất đợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Do
đó chúng tôi khẳng định phơng hớng này cần đợc phát triển với mục đích:
nâng cao hiệu lực và hạ giá thành sản phẩm bằng công nghệ mới.
Để giảm hiện tợng kháng kháng sinh, hoá dợc của một số vi sinh vật gây
bệnh, giảm tồn d kháng sinh trong thực phẩm, bảo đảm sức khoẻ cộng đồng tạo
thực phẩm sạch, an toàn. cần chế tạo và sử dụng các chế phẩm sinh học: Nh
kháng thể, các chế phẩm chế từ các chủng vi sinh trợ sinh học (probiotic).
Ch
ơng trình Quốc gia tại Việt Nam giám sát tính kháng thuốc của vi
khuẩn (ASTS) từ năm 1989 - 1993 thông báo tính kháng thuốc của một số vi
khuẩn rất mạnh. Điển hình là vi khuẩn E.coli tỷ lệ kháng thuốc đạt tới 70% -
80% số chủng phân lập. Cụ thể kháng Ampicillin đạt 52 76% ; kháng
cephlothin - 12,5% ; kháng gentamycin 8% 7

T×nh h×nh dÞch tÔ bÖnh tô huyÕt trïng

Bảng 1 : Diễn biến dịch bệnh tụ huyết trùng lợn

qua các tháng trong năm 2005

2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 4
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 5
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -

2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 6
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc 6 44 524 44
Tháng 7
3 Hà Nội 5 13 122 6
1 Hà Tây 14 207 2075 330
2 Vĩnh Phúc 8 72 844 66
Tháng 8
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc 9 62 915 58
Tháng 9
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây 14 203 2160 343
2 Vĩnh Phúc 7 51 793 83
Tháng 10
3 Hà Nội - - - -

8

Số xã
CD
Số con
ốm

Số con chết
& xử lý
Ghi chú
1 Hà Tây 14 184 1442 234
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 1
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây 14 203 1196 136
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 2
3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây 14 205 1728 201
2 Vĩnh Phúc 6 38 486 40
Tháng 3
3 Hà Nội - - 45 1
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 4 3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng 5

3 Hà Nội - - 61 11
1 Hà Tây 14 208 1634 150
2 Vĩnh Phúc 6 38 367 19
Tháng
11 3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây - - - -
2 Vĩnh Phúc - - - -
Tháng
12 3 Hà Nội - - - -
1 Hà Tây 126 1799 14272 1614

2 Vĩnh Phúc 33 222 2357 153

Tổng cả
năm
3 Hà Nội 106 110 12 Phân tích chi tiết bảng 5 cho thấy: dù thời gian nào trong năm thì Hà Tây
vẫn là địa phương bị bệnh tụ huyết trùng lợn cao nhất trong 3 tỉnh khảo sát.

Bảng 3 :. Diễn biến dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn trong cả 2 năm

126 79.24 1799 84.5 14272 85.26 1614 90.72
Vĩnh Phúc
33 20.75 222 10.43 2357 14.08 153 8.6

Năm
2006
Hà Nội
0 0 106 4.98 110 0.71 12 0.67
Tổng 159 100 2127 100 16739 100 1779 100

Số huyện có dịch chiếm 50% (2005) và 79,24% (2006). Số xã bị dịch
chiếm 68,19% (2005) và 84,5% (2006). . Tỷ lệ lợn mắc bệnh tụ huyết trùng chiếm
70,37% (2005) và 85,26% (2006). Tỷ lệ lợn chết do tụ huyết trùng chiếm 52,95%

10
(2005) và 90,72% (2006). Vì vậy, chúng tôi dựa vào Hà Tây để ứng dụng kháng
thể nhằm hỗ trợ địa phương giảm thiệt hại lợn do bệnh này gây ra.
Địa phương có tỷ lệ lợn mắc bệnh tụ huyết trùng cao thứ 2 là Vĩnh Phúc.
Còn Hà Nội tỷ lệ này rất thấp.
Tû lÖ tiªm phßng :

- Tû lệ tiêm phòng dịch bệnh tụ huyết trùng ( THT ) lợn ở Hà Tây còn qúa
thấp, nơi cao nhất chỉ đạt 50% , nên tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các tỉnh đang khảo
sát.
- Tỷ lệ tiêm phòng bệnh THT ở Hà nội khá tốt, đạt 70 – 80% , nên tỷ lệ
mắc bệnh rất thấp. Có thể công nhận Hà nội là vùng an toàn bệnh THT trong
những năm gần đây.
- Tỷ lệ tiêm phòng ở Vĩnh Phúc đạ
t không đều ở các vùng trong tỉnh .Có
huyện đạt 70 – 80% ,một số huyện khác đạt 30 – 40 % , nên dịch bệnh THT vẫn

biệt đối với lợn sơ sinh, lợn con theo mẹ và lợn cai sữa.
Có nhiều nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy như virut viêm dạ dày, ruột
(transmissible gastroenteritidis - TGE), rotavirut, coccidia,…song thường gặp nhất
vẫn là vi khuẩn E. coli (Biehl và cs., 1986). E. coli là vi khuẩn cư trú th
ường
xuyên trong đường tiêu hóa của lợn, song có hai hệ: E. coli gây bệnh và E. coli
hữu ích. Khi điều kiện chăm sóc sai sót, thời tiết không thuận lợi,…thì E. coli gây
bệnh thắng thế, áp đảo E. coli hữu ích và gây bệnh cho lợn.
Các chủng E. coli gây bệnh đều sản sinh ra độc tố đường ruột, nên được gọi
là Enterotoxigenic E. coli ( ETEC ). ETEC bám vào màng nhày ruột non của lợn
con bằng một hoặc nhiều yếu tố dính bám như
F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P)
hoặc F41. Chúng phát triển ở tế bào biểu bì ruột non và sản xuất ra các độc tố
đường ruột như: ST hoặc LT.
Các nghiên cứu về E. coli ở nước ta rất phong phú (Nguyễn Thị Nội, 1986;
Lê Văn Tạo và cs., 1990, 1995, 1997; Nguyễn Khả Ngự, 1999; Trần Thị Hạnh,
2000; Lý Liên Khai, 2001; Đặng Xuân Bình, 2003; Trịnh Quang Tuyên,
2006),…đều xác nhận rằng tỷ lệ bị bệnh tiêu chảy và bệnh phù đầu do E. coli là
rất cao ở lợn s
ơ sinh, lợn con theo mẹ và lợn cai sữa. Bởi vậy việc áp dụng các
biện pháp phòng, chống bệnh cho lợn con ở các lứa tuổi này rất quan trọng vì đây
là thời kỳ khởi đầu cho lợn phát triển trong các giai đoạn sau.
1-Vi khuẩn E. coli gây bệnh có hai khả năng:
- Sản sinh các loại độc tố gồm: Độc tố đường ruột (enterotoxin), độc tố tế bào
(verotoxin), độc tố thần kinh (neurotoxin). Độc tố
đường ruột tác động vào chu

12
trình adenylat làm thay đổi quy trình trao đổi muối - nước ở ruột gây ra tiêu chảy.
Độc tố tế bào phá huỷ tế bào, tăng tính thẩm thấu thành mạch, tạo bệnh tích ở các

trên 80% chủng ETEC mang gen sản sinh các độc tố như: STb, LT1, StaP. Cũng
bằng PCR, Vũ Khắc Hùng (2004) đã xác định được các tổ hợp
độc tố như: STa +
STb, LT + STb, VT2 + LT, LT + STb + VT2, LT + Sta + VT2, STa + STb + VT2,
STa + STb + VT2, STa + STb + VT2 + LT từ 220 chủng E. coli phân lập từ lợn
con bị tiêu chảy

13
- . Lê Văn Tạo (1993) đã xác định được 16% chủng E. coli phân lập từ lợn bị
phân trắng sản sinh độc tố đường ruột.
- Nguyễn Khả Ngự
(2000) xác định độc tố ở 30 chủng E. coli gây bệnh phù đầu
cho lợn nuôi tại đồng bằng sông Cửu Long ; có 56,67% số chủng mang LT,
83,33% số chủng mang ST và 50% số chủng mang cả ST + LT.

Trịnh Quang Tuyên
(2003) cho biết E. coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn 1 -21
ngày tuổi sản sinh LT chiếm 16,9%, STa 37,3%, STb 45,8%. E. coli gây bệnh phù
đầu ở lợn 22 – 60 ngày tuổi sản sinh LT với tỷ lệ 42,4%, ST 57,6% và ST + LT
44, 6%.
- Nhiều tác giả gọi các bệnh do vi khuẩn E. coli gây ra là bệnh truyền nhiễm có
điều kiện. Căn cứ vào sự tác động của các yếu tố gây bệnh của E. coli khi gây
bệnh, tuổi lợn mắc bệnh và triệu trứng biểu hiện, người ta chia bệnh do E. coli ở
l
ợn thành 2 loại: bệnh đường ruột do E. coli (bệnh tiêu chảy) và bệnh nhiễm trùng
máu (bệnh phù đầu).
2. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E. coli:
Theo Sarmientor (1988) và Faubert (1992), vi khuẩn E. coli bằng cách trực tiếp
hay gián tiếp xâm nhập vào đường ruột của lợn. Trong ruột, khi có đủ các điều
kiện thuận lợi, vi khuẩn nhân lên với số lượng lớn, sản sinh yếu tố kháng khuẩn

ản sinh độc tố tế bào phá hủy tế bào tổ chức, tăng tính thấm thành mạch,
sản sinh độc tố thần kinh phá hủy tế bào thần kinh. Tùy theo mức độ sản sinh các
yếu tố gây bệnh, vi khuẩn gây các thể bệnh, trạng thái bệnh và mức độ bệnh khác
nhau.
3. Những bệnh do vi khuẩn E. coli gây ra ở lợn:

3.1. Bệnh phân trắng lợn con :

- Do tiểu khí hậu và chăm sóc trong chuồng nuôi :
Bệnh thường xảy ra ở lợn
con, đặc biệt là lợn mới sinh từ 1 -21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong 10 ngày
đầu, có con mắc sớm sau khi sinh 2 -3 h và mắc muộn hơn sau khi đã tròn 4 tuần
tuổi. Bệnh xảy ra khi thời tiết thay đổi, khí hậu rét, mưa nhiều, độ ẩm cao. Bệnh
hay xảy ra ở các đàn lợn mẹ đẻ lần đầu, lợn mẹ chửa không được chăm sóc đầy
đủ
, chuồng trại mất vệ sinh, vi khuẩn E. coli luôn luôn tồn tại trong môi sinh.
Vi khuẩn E. coli có sẵn trong ruột hoặc cảm nhiễm từ ngoài:
Gặp điều kiện
thích hợp tiếp nhận các yếu tố gây bệnh , nên gây thành bệnh. Với các yếu tố gây
bệnh có được, trước hết vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng
kháng nguyên bám dính F4 (K88). Sau đó vi khuẩn xâm nhập và cư trú ở thành
ruột non, phát triển nhân lên, sản sinh ra độc tố đường ruột, độc tố này sẽ phá hủy
tổ chức thành ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổi muối - nước, chất đ
iện giải.
Nước không được hấp thu từ ruột non vào mà rút nước từ cơ thể tập trung vào

15
ruột. Vi khuẩn phát triển làm thay đổi pH trong ruột và dạ dày, sữa không tiêu, bị
vón lại sinh ra tiêu chảy, phân có màu trắng.
Hàm lượng kháng thể thụ động cho con non:

et al, 1999) hoặc LT, STa và STb (Hampson D. J., 1994; Trịnh Quang Tuyên, Lê
Văn Tạo và cs., 2003). Cơ chế gây bệnh tiêu chảy ở lợn giống như ở bệnh phân
trắng lợn con, nhưng do hệ thống thần kinh của lợn đã hoàn chỉnh, điều tiết được

16
các chức năng sinh lý, lợn đã ăn các thức ăn tinh và thô thay cho bú sữa, nên phân
có màu vàng.

3.3 Bệnh phù đầu lợn con (Edema disease) :

Ở nước ngoài :
Bệnh này do một số serotyp kháng nguyên O của E. coli sau
đây gây ra: O
138
, O
139
K12H1, O
141
K85q, O
141
K85ac (Beschinger H.U et al, 1978).
Để gây được bệnh, ngoài các yếu tố gây bệnh có ở E. coli gây tiêu chảy cần
phải có yếu tố bám dính F18 thay cho F4, độc tố tế bào ngày nay gọi là Shigatoxin
(Stx 2e), độc tố thần kinh và các yếu tố gây dung huyết mà chủ yếu là α-
haemolytic. Nhờ các yếu tố gây bệnh, vi khuẩn xâm nhập vào máu gây nhiễm
trùng huyết, trong máu yếu tố dung huyết phá vỡ hồng cầu làm cho máu loãng,
độc tố tế bào vừa phá hủy tế bào tổ chức gây bệ
nh gây bệnh tích, vừa tăng tính
thấm thành mạch, nước từ hệ tuần hoàn đi vào mô bào gây hiện tượng phù. Độc tố
thần kinh tác dụng vào trung ương thần kinh gây hiện tượng run rẩy, co giật

Vit Nam, Lờ Vn To v cs. ó ch khỏng th lũng trng, Trn Th
Hnh ó ch Coli sa. Vic s dng cỏc ch phm trờn ó lm gim t l bnh do
E. coli t 23.5% xung cũn 13%.
nc ngoi
, nhiu nc ó ch to thnh cụng khỏng th phũng tr
bnh do E.Coli, c bit cú Cụng ty GHEN ( Nht bn ) khụng nhng ó ch to
thnh cụng khỏng th phũng v cha bnh do E. coli, m ó bỏn sn phm ny ti
hng chc nc khỏc trờn th gii,trong ú cú nc ta, nhng giỏ thnh cũn cao,
nờn vic ng dng cũn hn ch. Một vài số liệu về bệnh E.Coli Bảng 4; Mức độ ô nhiễm E.Coli trong phân lợn bị tiêu chảy

TT Địa điểm Số mẫu Số mẫu dơng Tỷ lệ Ghi chú
1 Hoàng tây 20 18 90,0

2 Vĩnh sơn 20
17
85,0

3 Tam đảo 15
13
86,67


% 7,1 6,7 Bảng 6:
Tình hình dịch tễ bệnh phù đầu ở lợn 22 -50 ngày tuổi

TT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2006
1 Số lợn con theo dõi Con 5941 5853
2 Số lợn con mắc tiêu
chảy
con 826 731
3 Tỷ lệ mắc bệnh /
Tổng đàn
% 13,9 12,5
4 Số lợn chết do tiêu
chảy
con 446 421
5 Tỷ lệ chết /Tổng
đàn
% 7,5 7,2


con
đ.tra
Số
con
bệnh

Tp. Thái
nguyên
263 12 4,56 299 60 20,06 362 118 32,
Đồng hỷ
276
6 2,17 300 44 14,66 568 122 21,47
Phú bình
184 7

3,80

297

69
23,23
393 147 37,4
Phú lơng 271
9 3,82


Cấu trúc đại cương của phân tử IgY cũng giống như IgG có hai chuỗi nặng
(heavy chain) với trọng lượng phân tử là 60 - 70 kDa mỗi chuỗi và 2 chuỗi nhẹ
(light chain) với trọng lượng phân tử là 25 kDa mỗi chuỗi (hình 1). Sự khác nhau
chủ yếu là số vùng bất biến trong chuỗ
i nặng : IgG có 3 vùng còn IgY có 4 vùng ,
do đó trọng lượng phân tử của IgY lớn hơn so với IgG tương ứng 180 kDa so với
150 kDa (Warr. G. W. et al, 1995; Davalos et all., 2000). B- Ứng dụng của kháng thể IgY

Do sự khác nhau trong cấu trúc của kháng thể IgY so với IgG, nên IgY có
nhiều ưu việt để ứng dụng trong chẩn đoán, nghiên cứu, công nghệ sinh học không
những cho y tế mà cả trong thú y.

Hình 1. Cấu trúc kháng thể IgG & IgY
Chú thích:
Limited flexibility: vùng biến đổi có giới hạn
A hinge: khớp nối

21
Chế tạo kháng thể đa dòng IgY bằng các nguồn kháng nguyên khác nhau
STT Loại kháng nguyên Ứng dụng

20
Toxoplasma gondii
nt
21 Rat liver cytosolic casein kinase II nt
22 Newcastle disease virus yếu tố chẩn đoán
23
Campylobacter fetus
nt
24
Yersinia ruckeri
nt

22
Kháng thể được chiét tách từ lòng đỏ trứng gà có thể kháng lại hàng loạt
kháng nguyên (antigen) với nhiều mục đích khác nhau: miễn dịch huỳnh quang,
kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA), điện di miễn dịch và miễn dịch thấm, miễn
dịch hóa tế bào và nhiều kỹ thuật khác nữa,
Trong một số trường hợp, nếu dùng IgG sẽ cho kết qủa dương tính giả,
trong khi đó nếu dùng IgY sẽ cho kế
t qủa ưu việt hơn nhiều: không cho dương
tính giả.
Trong những năm gần đây có nhiều công trình cho biết IgY được sử dụng
như kháng thể thụ động bảo vệ người và gia súc chống lại các bệnh dạ dày, ruột
thành công, trong lúc đó nếu chữa bằng kháng sinh thì không khỏi. IgY còn là
công cụ để nghiên cứu ung thư, chẩn đoán và điều trị.
Những khiếm khuyết khi chế kháng thể
đơn dòng không giải quyết được thì
nay nếu dùng tế bào thận của gà đã khắc phục được những nhược điểm này.
Những công trình đã thành công khi dùng nguồn tế bào thận ở gà miễn dịch để chế
kháng thể đơn dòng có thể kể đến như: Nishinaka et al (1991), Haruo Matsuda

Lượng mẫu thu trong 2 tuần 40 ml máu 14 trứng * 15 ml = 210
ml lòng đỏ trứng
Lượng kháng thể toàn phần
thu được
200 mg 1120 mg (trung bình 80
mg/ trứng)
Lượng kháng thể đặc hiệu 5% (10 mg) 2 - 10% (22,4 - 112 mg)
Có mặt các kháng thể khác IgM, IgA, IgE Không có
Kháng thể qua đường ruột bị mất đi một lượng không nhỏ. Để khắc phục
nhược điểm đó và để kháng lại môi trường acid cao trong ruột , nhiều tác giả đề
xuất bọc kháng thể bằng liposome (Shimizue et al, 1993).
Từ thực tế trên, Hội thú y đã phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh
học Thú y (BTV.JSC.) chế tạo thành công hai dạng kháng thể từ lòng đỏ
trứng: dạ
ng đông khô và dạng bột. Đây là các kháng thể nhị giá không những
phòng trị được bệnh do E. coli gây ra cho lợn, mà còn phòng trị được bệnh tụ
huyết trùng lợn. Các chế phẩm nµy đã được kiểm nghiệm thành công tại
Trung tâm kiểm nghiệm thuốc thú y quốc gia. Kết quả thử nghiệm trong sản
xuất tại Hà Nội, Vĩnh phúc và Hà Tây đạt hiệu qủa khả quan. 24

Tính cấp thiết phải chế kháng thể :
Nh phần trên đã trình bày :việc sử dụng kháng sinh không đúng quy định,
không những gây hậu quả tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn , mà còn gây tồn
d kháng sinh trong thực phẩm làm tổn hại sức khoẻ cộng đồng . Trong 162 mẫu
thận lợn đợc kiểm tra d lợng kháng sinh và hoá dợc có tới 69 dơng tính. Số
mẫu chứa Streptomycin và penicillin là 54% và 0,8%.
Một số tác giả của Trung tâm vệ sinh thú y Quốc gia đã xét nghiệm một

Âu: Nga, Đức, Phần Lan, Anh, Hungary, Tiệp Khắc ở châu á: ấn Độ,
Pakixtan, Malaysia,Srilanka, Philepine, Trung Quốc, Việt Nam, Lào ở châu
Mỹ: Argentina, Peru, Mexico, Mỹ,. Ngoài ra bệnh còn phát hiện ở nhiều
nớc khác thuộc châu Phi. Nh vậy, bệnh đã xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới
(De Alwis, 1982, 1993 ).Việc phòng chống bệnh này vẫn còn là vấn đề thời
sự ở nhiều nớc.
Việc chế kháng thể từ lòng đỏ trứng gà đã có khá nhiều công trình nh:ở
Nhật, kết quả nghiên cứu Yokoyama, H và CS. cho thấy các tác giả đã sử dụng
kháng thể chiết tách từ lòng đỏ trứng của gà đã đợc tối miễn dịch bằng các
chủng E.coli gây bệnh ở lợn con để phòng và trị bệnh tiêu chảy, lợn con đợc
điều trị tỷ lệ khỏi bệnh cao. Kháng thể thụ động đã khống chế đợc chủng
E.coli độc không còn điều kiện để gây bệnh, không gây loạn khuẩn
(Yokoyama.H và CS 1992).
Theo Antino Verdoliva và CS. ở Italy đã tinh khiết các immunoglobulin
từ lòng đỏ trứng của gà mái đã đợc tối miễn dịch để phòng trị bệnh cho gia
súc non. Bằng các thí nghiệm đối chứng, các tác giả cho rằng kháng thể tạo ra
từ lòng đỏ trứng cao hơn nhiều kháng thể đợc tạo ra từ động vật có vú.
Theo Burnet F.M.Fenner.F (1949) ở Mellourne ngời ta đã sản xuất
kháng thể để phòng và trị bệnh do virút gây ra.
Theo Yolken M.H và cộng sự (1993) ở Đức đã phát hiện khả năng mới
nghiên cứu rộng rãi việc sử dụng kháng thể đặc biệt trong lòng đỏ trứng để
chữa hội chứng tiêu chảy của bê nghé đạt hiệu quả cao.
Tác giả Yolken R.H, Leister.F. cộng sự (1988) đã nghiên cứu kháng thể
kháng rotavivus có trong lòng đỏ để dùng điều trị cho ngời bị tiêu chảy do
rotavivus gây ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status