Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng thành phố thái nguyên - Pdf 13


1
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN VỀ XÃ QUYẾT THẮNG
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Quyết Thắng là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên cách trung tâm
thành phố 6 km.
Phía tây nam của xã giáp với xã Phúc Trìu.
Phía tây giáp với xã Phúc Xuân.
Phía bắc giáp xã Phúc Hà.
Phía đông giáp phường Tân Thịnh -Thành phố Thái Nguyên.
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Xã Quyết Thắng nằm trong vành đai khí hậu gió mùa, dao động nhiệt độ
trong năm tương đối cao thể hiện qua 2 mùa rõ rệt đó là 2 mùa mùa hè và mùa
đông. Mùa hè khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, mưa lớn vào tháng 4 đến tháng 8.
Mùa đông chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa có khi xuống dưới 10. Mỗi khi
gió mùa về thường kèm theo mưa nhỏ. Do độ ẩm bình quân trên năm tương
đối cao (cao nhất vào tháng 3, tháng 4 ) quỹ đất tương đối rộng nên có nhiều
thuận lợi cho cây trồng phát triển. Đặc biệt là cây ăn quả và cây lâm nghiệp.
Dao động nhiệt độ và độ ẩm các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt
là mùa mưa và mùa khô.
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình 20 - 36,
độ ẩm trung bình từ 80%-86% lượng mưa biến động từ 120,6-283,9mm/ tháng
nhưng tập trung vào những tháng 6,7,8. Nhìn chung khí hậu vào mùa mưa
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp tuy nhiên có những ngày nóng ẩm mưa
nhiều nên thất thường nên đề phòng chống dịch sảy ra đối với đàn gia súc, gia
cầm, gây thiệt hại cho sản xuất.
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 11 tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu
thường lạnh và khô hanh, ẩm độ và nhiệt độ giảm, sự giao động nhiệt trong

19,7
58,7
84,2
4
24,8
53,3
84,0
5
26,9
204,3
82,0
6
27,9
252,2
83,0
7
28,8
282,9
85,0
8
28,0
271,8
85,0
9
29,9
102,6
81,0
10
24,9
158,0

1.1.2. Tình hình kinh tế xã hội của xã Quyết Thắng
1.1.2.1. Tình hình xã hội
Tổng dân số toàn xã là 10520 người, xã có 2750 hộ, trong đó 80% dân số
sản xuất nông nghiệp còn lại là sản xuất công nghiệp, dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế đa dạng nhiều thành phần, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ
yếu (80%), các ngành khác vẫn còn hạn chế. Trong địa bàn xã quản lý có một
số nhà máy như Z115, nhà máy chế biến xuất khẩu chè Hoàng Bình, đã tạo
việc làm cho nhiều lao động trong xã và các vùng lân cận.
Trên địa bàn xã có nhiều trường học; trường đại học Nông Lâm, trường đại
học Khoa học, trường Đại học CNTT và TT , khoa Ngoại Ngữ, trường trung
học phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, trung tâm giáo dục quốc phòng,Trường
trung học cơ sở, Trường tiểu học. Các điều kiện đó đã giúp cho trình độ dân chí
tăng lên rõ rệt. Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao.
Nói chung trình độ dân chí và đời sống của người dân ngày càng được
nâng cao, hệ thống điện cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt, đường giao
thông đã được bê tông hóa, trạm y tế đã được xây mới với nhiều thiết bị
khám, chữa bệnh tốt thường xuyên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho
người dân, đặc biệt là người già, bà mẹ và trẻ em được quan tâm.
Việc dân cư phân bố không đồng đều gây nhiều khó khăn cho việc phát
triển kinh tế cũng như quản lý xã hội. Khu vục nhà máy, trường học, trung
tâm dân cư tập trung đông, dân cư ở nơi khác đến học, làm viêc nên quản lý
trật tự xã hội ở đây khá phức tạp. Chính vì vậy đòi hỏi của các ban ngành hoạt
động liên tục, tích cực và đồng bộ từ trên xuống, đồng thời liên kết phối hợp

4
với các địa phương trong và ngoài tỉnh, đưa nếp sống văn hóa mới đi vào cuộc
sống của người dân trong toàn xã. Thực hiện tiến tới con người văn hóa, gia
đình văn hóa, thôn văn hóa, xã văn hóa. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm
người dân đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
nhũng lao động dư thừa, ngày càng đẩy xa các tệ nạn xã hội.

5
hợp lý, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao
năng suất cây trồng vật nuôi, phát huy hết nguồn lực để phát triển tổng hợp.
1.1.3.1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi cung cấp nhu cầu thực phẩm cho xã cung như các vùng
lân cận, ngành chăn nuôi sử dùng nguồn lao động dư thừa, tăng thu nhập cho
nhân dân, đồng thời sử dụng sản phẩm của ngành trồng trọt vào chăn nuôi,
làm tăng giá trị sản phẩm, biến các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt không
có giá trị thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cho người lao động.
+ Chăn nuôi trâu bò.
Tổng đàn trâu bò trong xã có trên 650 con, trong đó chủ yếu là trâu.
Tình hình chăm sóc khá tốt, tuy nhiên vào mùa đông lượng thức ăn ít, việc sản
xuất và dự trữ thức ăn còn hạn chế, trâu bò thường bị đói và rét ảnh hưởng tới
khả năng sinh trưởng. Mùa Đông- Xuân đàn trâu bò thường hay mắc bệnh,
chuồng trại và công tác vệ sinh chưa được tốt, thoáng mát về mùa hè, ấm áp
về mùa đông, chưa có hố ủ phân…. Công tác tiêm phồng đã được người dân
chú trọng hơn trong vài năm trở lại đây nên không có dịch bệnh sảy ra trên đại
bàn xã, nhờ có sự tư vấn của cán bộ thú y xã chuồng trại đã được xây dựng
tương đối khoa học, đồng thời công tác vệ sinh cũng đã được tăng cường, giúp
đàn trâu đàn bò của xã ít mắc bệnh ngay cả trong vụ đông xuân.
Chăn nuôi trâu bò theo hướng công nghiệp chưa được người dân chú
trọng. Xã có khả năng nuôi được bò hướng sữa, hướng thịt, song do nhiều yếu
tố chủ quan và khách quan nên vấn đề này chưa được chú ý phát triển. Công
tác chọn giống, lai tạo và mua các giống bò hướng sữa, hướng thịt chưa được
chú ý, tầm vóc cũng như tính năng sản xuất của trâu bò còn nhiều hạn chế.
+ Chăn nuôi lợ n
Nhìn chung các hộ nông dân đều nuôi lợn , đã có nhữ ng gia đì nh đầ u tư
chăn nuôi vớ i quy mô lớ n vớ i số đầ u lợ n từ và i chụ c tớ i vài trăm con và á p
dụng các tiến bộ khoa học k thuật vào chăn nuôi nhờ vậy mà đem lại thu nhập
khá cao cho nguời chăn nuôi.

áp dụng phương thức chăn thả tự do lại chưa có ý thức phòng bệnh khi dịch
bệ nh xả y ra , bị thiệt hại kinh tế và chính đây là nơi phát tán mầ m bệ nh rấ t
nguy hiể m.
Ngoài ra nhiều hộ gia đình còn đào ao thả cá, gắ n việ c trồ ng rừ ng vớ i
nuôi ong lấ y mậ t, nuôi hươu lấ y nhung… để tăng thu nhậ p.
+ Công tá c thú y
Công tá c thú y và vệ sinh thú y là khâu then chố t tro ng chăn nuôi, quyế t
định sự thà nh bạ i củ a ngườ i chăn nuôi đặ c biệ t trong điề u kiệ n chăn nuôi tậ p
trung vớ i quy mô lớ n. Ngoài ra, công tác thú y cò n ả nh hưở ng lớ n tớ i sứ c khoẻ
cộ ng đồ ng. Nhậ n thứ c đượ c điề u đó nên nhữ ng năm gần đây công tá c thú y đượ c
lãnh đạo xã rất quan tâm. Hàng năm xã tổ chức tiêm phòng cho đàn gia súc và
tiêm phò ng dạ i cho chó , 100% chó nuôi trong xã được tiêm phòng. Tuy nhiên
cầ n là m tố t hơn nữ a công tá c kiể m dịch, nâng cao nhiệ m vụ , trách nhiệm củ a thú
y viên, đầ u tư đầ y đủ cá c trang thiế t bị chuyên dù ng giú p công tá c chẩ n trị bệnh

7
nhanh, chính xác hơn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh
thú y giúp người dân hiểu và chấp hành tố t phá p lệ nh thú y.
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Diệ n tích trồ ng lú a và hoa màu lớ n đó là điề u kiệ n thuậ n lợ n cho phá t
triể n nông nghiệ p vớ i phương châm thâm canh tăng vụ , áp dụng những tiến bộ
khoa họ c kỹ t huậ t và o sả n xuấ t , mạnh dạn đưa giống lúa mới cho năng suất
cao và o sả n xuấ t . Bên cạ nh đó cò n trồ ng cá c cây lương thự c khá c như ngô ,
khoai, sắ n…
Diệ n tích trồ ng cây ăn quả củ a xã khá lớ n , tuy nhiên trồ ng cò n thiế u tậ p
trung, còn lẫn nhiều cây tạp , lại chưa thâm canh nên năng suất thấp . Sản xuất
mang tí nh tự cung tự cấ p chưa mang tính sả n xuấ t hà ng hoá . Vấ n đề trướ c mắ t,
xã phải quy hoạch lại vườn cây ăn quả và có hướng phát triển hợp lý . Với cây
lâm nghiệ p: Việ c giao đấ t giao rừ ng tớ i tay cá c hộ gia đình đã thự c sự khuyế n
khích họ nên đất trống đồi trọc đã được phủ xanh cơ bản và diện tích rừng mới

Sự bấ t lợ i củ a thờ i tiế t gây khó kh ăn cho cả chăn nuôi và trồ ng trọ t , khí
hậ u khắ c nghiệ t hay thay đổ i ở mộ t số thá ng gây nhiề u bệ nh tậ t, khả năng sinh
trưở ng phá t triể n ở vậ t nuôi, cây trồ ng bị hạ n chế .
Việ c dân cư phân bố không đề u , trình độ dân trí có s ự chênh lệch lớn
giữ a các khu vự c , gây khó khăn cho việ c phá t triể n sả n xuấ t cũ ng như việ c
quản lý xã hội . Thói quen bảo thủ , lạc hậu trong nế p số ng sinh hoạ t củ a mộ t
số bộ phậ n dân cư đã ả nh hưở ng lớ n tớ i sả n xuấ t.
Ngườ i dân quen sả n xuấ t với quy mô nhỏ , đầ u ra củ a sả n phẩ m gặ p nhiều
khó khăn gây ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế.
1.2. NỘI DUNG VÀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.2.1. Nội dung
Qua điều tra nắm vững tình hình thực tế của trại trên cơ sở đó áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm rèn luyện, nâng cao trình độ
chuyên môn, ý thức tổ chức, tác phong nghề nhiệp. Trong thời gian thực tập
tôi đã tham gia công tác phục vụ sản xuất như sau:
Tham gia vệ sinh phòng dịch, trồng, chăm bón cây ăn quả, cây lâm nghiệp.
Thực hiện nuôi gà thịt, gà đẻ, ấp trứng gia cầm theo quy trình kỹ
thuật…nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao hiểu biết, tiếp cận và
nắm vững khoa học.
Tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở
vụ Hè, Thu trong điều kiện không c phòng lạnh tại xã Quyết Thắng, thành
phố Thái Nguyên”.
1.2.2. Kết quả thực hiện
Trong quá trình thực tập tại trại thực tập thí nghiệm được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy cô giáo, cán bộ công nhân của trại, cộng với sự nỗ lực
cố gắng học tập của bản thân, tôi đã đạt được kết quả như sau:

9
1.2.2.1. Công tác chăn nuôi

(độ lớn của gà), ánh sáng phải đảm bảo cho gà ăn.
Tóm lại: ở giai đoạn úm gà yếu tố nhiệt rất quan trọng, do đó chúng tôi luôn
đảm bảo đủ nhiệt cho gà ăn, thức ăn, nước uống phải đảm bảo luôn đủ và sạch.
*Giai đoạn từ 21 đến xuất chuồng:

10
Hàng ngày phải cung cấp đủ thức ăn, nước uống cho gà, cho gà ăn tự do,
thức ăn luôn mới để kích thích gà ăn được nhiều, máng uống phải được cọ rửa
và thay nước 2 lần/ngày.
Chúng tôi luôn quan sát theo dõi tình hình sức khỏe đàn gà để phát hiện
và chữa trị kịp thời những con gà ốm.
- Công tác vệ sinh thú y:
Trong chăn nuôi thì yêu cầu vệ sinh phòng dịch là yếu tố quyết định đến
hiệu quả kinh tế. Do vậy trong quá trình chăn nuôi chúng tôi áp dụng nghiêm
ngặt qui trình vệ sinh phòng dịch.
Trong quá trình nuôi dưỡng gà chúng tôi sử dụng các loại văcxin sau để
phòng bệnh cho đàn gà được thể hiện ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Lịch dùng văcxin cho đàn gà
Ngày tuổi
Loại vắc-xin
Phƣơng pháp dùng
3 ngày tuổi
Lasota lần 1
Gumboro lần 1
Nhỏ mắt 1 giọt
Nhỏ mồm 4 giọt
7 ngày tuổi
Đậu lần 1
Chủng màng cánh
10 ngày tuổi

* Bệnh Cầu trùng.
Dùng Ringercoccin W.S.
Tất cả các bệnh trên khi điều trị kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức
đề kháng cho gà như B.complex 1gr/3l nước, Vitamin C 3%, VitaminK…
1.2.2.3. Các công tác khác
Tham gia ấp trứng gia cầm.
Nuôi dưỡng chăm sóc đàn gà đẻ.
Điều trị một số bệnh ở gà.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được tóm tắt ở bảng sau.
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT
Diễn giải nội dung
Số lƣợng
(con)
Kết quả
Số lƣợng đạt
(con)
Tỷ lệ
(%)
1
Nuôi dưỡng chăm sóc
Đàn gà bố mẹ sinh sản
450

443
98,4
Nuôi gà thịt
1700
1625
95,58


Bệnh CRD
45
42
93,3
4
Các công tác khác

- Ấp trứng gà
22768
quả
18526
81,37

- Úm gà con
2700
2657
98,4

12
1.3. KẾT LUẬN - TỒN TẠI
Qua 6 tháng thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy
cô hướng dẫn và chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ
tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn sản xuất. Qua đó tôi đã vận dụng được
những kiến thức đã học ở trường để củng cố kiến thức và rèn luyện chuyên
môn của mình. Mặt khác, qua thời gian thực tập đã giúp tôi yêu ngành, yêu
nghề, yêu con vật, say mê công việc, đồng thời tích lũy được một số kinh

khu vực nông thôn trong cả nước đạt được nhiều kết quả đáng kể. Các mô
hình như: các cây giống, giống vật nuôi đã được đưa về tận thôn, xã,… tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển sản xuất. Hiện nay, đời sống nhân
dân ngày được nâng cao, do vậy đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và ngành
chăn nuôi gia cầm nói riêng phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa để đáp ứng nhu
cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
Để thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển chúng ta phải có những
bước phát triển mới về công tác giống, chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng
bệnh Trong đó cần chú ý tới công tác sản xuất con giống, nhu cầu về con
giống là rất lớn. đặc thù của gia cầm là đẻ trứng và ấp trứng, nếu chỉ ấp tự
nhiên và thủ công thì không thể đáp ứng nhu cầu và chất lượng con giống,
chính vì vậy trứng giống cần được ấp bằng máy công nghiệp mới cho ra được
số lượng lớn con giống có chất lượng tốt cùng một thời điểm.

14
Khi ấp trứng bằng máy công nghiệp ngoài việc quan tâm tới chế độ ấp nở
như: nhiệt độ, ẩm độ thì vệ sinh sát trùng rất quan trọng do trứng được lấy
từ các nguồn bố mẹ khác nhau, thường mang mầm bệnh từ các trang thiết bị
phục vụ chăn nuôi như: đệm lót, dụng cụ chăn nuôi Nếu không sát trùng kỹ
thì mầm bệnh sẽ xâm nhập vào trong vỏ trứng và gây hiện tượng trứng thối nổ
trong máy ấp ảnh hưởng tới kết quả ấp nở và chất lượng gia cầm giống.
Vì vậy khi tiến hành ấp trứng chúng ta cần phải thực hiện tốt quy trình
vệ sinh sát trùng trứng ấp, máy ấp, nở. Xuất phát từ vấn đề đó, tôi tiến hành
thực hiện đề tài:
" Nghiên cứu Ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp
ở vụ Hè - Thu trong điều kiện không c phòng lạnh tại xã Quyết Thắng -
thành phố Thái Nguyên”
Mục đích của đề tài:
- Thử nghiệm tìm ra loại thuốc sát trùng có hiệu lực tốt trong việc sát
trùng trứng ấp gia cầm có hiệu quả kinh tế cao.

thêm màng này gọi là Follicun trở nên dính và làm thay đổi hình dạng của
buồng trứng. Sau thời kỳ đó, buồng trứng lại trở lại hình dạng ban đầu, các
Follicun vỡ ra sẽ rơi vào loa kèn của ống dẫn trứng. Tế bào trúng là tế bào
lưỡng cực, chia làm hai cực: Động vật và thực vật.
Cực động vật bao giờ cũng nhỏ hơn cực thực vật, cực động vật chứa đa
phôi luôn nằm ở mặt trên vì thế mà nó không bị sát vào vỏ trứng.
Từ khi trứng được hình thành đến khi trứng chín là 7 - 10 ngày, số lượng
trứng đẻ ra không những phụ thuộc vào số lượng tế bào trứng mà còn phụ
thuộc vào khả năng đồng hóa các chất dinh dưỡng có trong thức ăn của gia
cầm nó cần thiết trong quá trình hình thành quả trứng.
* Ống dẫn trứng.
Ống dẫn trứng của gia cầm không chỉ đơn thuần là con đường cho trứng
đi qua mà chính là nơi hoàn thành, tạo ra quả trứng. Ống dẫn trứng là một ống
dài có nhiều khúc cuộn bên trong có tầng cơ, bên thành ống có một lớp màng
nhày lót bên trong thành, bề mặt màng nhày có các tiêm mao rung động. Bên
ngoài ống đẫn trứng là lớp cơ trơn. Ở gia cầm cái ống dẫn trứng nằm phần lớn
ở bên trái xoang bụng, phần đầu ống dẫn trứng phát triển thành cái phễu, phần
dưới của ống dẫn trứng đổ vào lỗ huyệt.
Kích thước của ống dẫn trứng không cố định, trong thời kỳ đẻ trứng ống
dẫn trứng thay đổi rõ rệt, dài ra rất nhiều. Phần tạo lòng trắng của ống dẫn
trứng thay đổi rõ rệt to ra theo chiều ngang từ 1,5 - 13 mm và sức chứa của nó
tăng lên 50 lần, ở gia cầm cái ống dẫn trứng dài khoảng 11 - 18 cm, đường
kính từ 0,4 - 0,7 cm. Thời gian gia cầm đẻ cao điểm chiều dài của ống dẫn
trứng có thể tới 40 - 85 cm, đường kính tăng thêm vài cm, lúc này khối lượng
của ống dẫn trứng cũng tăng theo thời gian đẻ. Ống dẫn trứng nặng 75 g, ở
thời kỳ nghỉ đẻ giảm xuống còn 45 g.

16
Ống dẫn trứng chia làm 5 phấn: Loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử
cung và âm đạo.

- Quá trình thụ tinh
Khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng, sau khi trứng rụng tối đa 15 phút
thì sự thụ tinh được thực hiện.

17
Sự thụ tinh ở gia cầm thuộc loại đa tinh, khi qua màng 1 và màng 2 của
trứng có khoảng 5 - 24 tinh trùng. Khả năng sống của tinh trùng trong ống dẫn
trứng có thể tới 30 ngày nhưng thời gian đảm bảo thụ tinh tốt nhất là 7 ngày.
- Sự phân chia của phôi trong thời gian tạo trứng.
Sau khi thụ tinh được 20 phút thì sự phân chia tế bào được thực hiện, khi
di chuyển đến tử cung đã có 8 tế bào được hình thành gọi là phôi bì trong quá
trình tạo trứng (khoảng 24 giờ) quá trình phân chia tế bào xảy ra liên tục,
nhiều tế bào được hình thành. Khi trứng được đẻ ra ngoài thì phôi bì đã có
một nghìn tế bào.
Từ phôi bì phát triển về phía lòng trắng gọi là ngoại bì và phát triển về
phía lòng đỏ gọi là nội bì đó là các tế bào dẹt. Từ đây giữa hai lớp nội bì và
ngoại bì hình thành tế bào hình trụ gọi là trung bì. Từ ngoại bì hình thành nên
tu sống, hệ thần kinh, da, lông, mỏ. Nội bì hình thành lớp phía trong hệ tiêu
hoá, phổi, phế quản, lỗ huyệt. Trung bì hình thành cơ, xương, máu và các cơ
quan còn lại.
2.2.1.2. Thành phần và cấu tạo trứng gia cầm
Trứng gia cầm là một tế bào sinh dục phức tạp và được biệt hoá rất cao,
bao gồm lòng đỏ, lòng trắng, vỏ cứng và các màng, mỗi phần của quả trứng có
chức năng riêng, t lệ tương đối và tuyệt đối giữa các phần tuỳ thuộc vào loài
gia cầm. Trước khi đưa vào ấp phải được kiểm tra chất lượng. Nếu trong quá
trình ấp, áp dụng tốt quy trình cơ bản thì việc kiểm soát này sẽ cho kết quả cao
nhất về những chỉ tiêu ấp nở của trứng.
* Vỏ trứng.
Vỏ trứng được tạo ra trong tử cung của gia cầm từ chất dịch nhày
cacbonat canxi và protein. Vỏ trứng không những có tác dụng bảo vệ mà còn

không khí nhiều hơn đầu nhỏ. Các loại khí khác nhau thẩm thấu qua vỏ trứng
cũng khác nhau, khí hydro thẩm thấu mạnh nhất và oxy thẩm thấu chậm nhất.
Theo Bagley và cộng sự (1990) [21] độ thẩm thấu của vỏ trứng có vai trò
quan trọng cung cấp các chất khoáng đặc biệt là canxi và photpho trong quá
trình phát triển của phôi giai đoạn cuối.
Lớp tiếp giáp với vở trứng là màng vỏ gồm có hai lớp dính sát nhau, ở
phía đầu tù thì hai lớp này tách ra tạo thành buồng khí. Màng vỏ có cấu tạo từ
các sợi keratin đan xen vào nhau rất bền vững, lớp này có các lỗ thở cho
không khí đi qua giúp cho quá trình trao đổi khí trong quá trình phát triển của
phôi thai.
Buồng khí là phần tách ra của 2 lớp màng vỏ ở phía đầu tù của quả
trứng. Buồng khí tách biệt với các phần khác của trứng bởi một màng mỏng
có tính thấm. Do đó không khí trong buồng khí có tầm quan trọng đối với hô
hấp của phôi, phần oxy đáng kể đầu tiên đến túi niệu nang từ buồng khí. Vị trí
của buồng khí có vai trò quan trọng trong hai thời điểm phát triển của phôi,
giai đoạn sau nếu buồng khí bị lệch về một bên hoặc lệch về phía đầu nhọn thì
oxy của buồng khí không cung cấp được cho phôi trong khi hô hấp phải
chuyển từ hô hấp niệu sang hô hấp phổi do đó có thể dẫn đến chết phôi.
* Lòng trắng trứng.
Lòng trắng trứng chứa 85 - 89% là nước, còn lại các chất dinh dưỡng
như đường, vitamin B
2
, cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi. Lòng trắng

19
trứng chia ra làm 4 lớp trong cùng sát lồng đỏ là lòng trắng đặc, bên trong lớp
này có sợi dây giữ hai đầu lòng đỏ gọi là dây chằng, giữ cho lòng đỏ khỏi bị
tác động của bên ngoài và giữ cho lòng đỏ không bị dính vào vỏ, lòng trắng
đặc chiếm 2,7%, lớp lòng trắng loãng chiếm 16,8%, lớp lòng trắng đặc giữa
chiếm 50 - 57%, lớp này có chứa nhiều sợi nhày muxin là lớp đệm của lòng

phôi trong và lá phôi ngoài hình thành lá phôi giữa. Quá trình phát triển
tiếp theo là từ ba lá phôi sẽ hình thành tất cả các mô bào của tất cả các cơ
quan của cơ thể gia cầm.

20
- Ngày ấp đầu tiên: 3 lá phôi được hình thành. Đầu tiên là 2 lá phôi trong
và lá phôi ngoài. Giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài tạo thành lá phôi giữa.
Sau đó lá phôi ngoài hình thành lên da, lông vũ, mào, mỏ, mô thần kinh; lá
phôi trong hình thành lên ruột, các tuyến tiêu hóa, cơ quan tiêu hóa và các
tuyến nội tiết; còn lá phôi giữa hình thành lên cơ quan sinh sản và tiêu hóa.
- Ngày ấp thứ 2: phôi phát triển tạo thành hệ thống mạch máu bên ngoài
bào thai. Bắt đầu xuất hiện màng tim mạch máu bao quanh lòng đỏ (noãn
hoàng). Lúc này chất dinh dưỡng của lòng đỏ cung cấp cho phôi.
- Ngày ấp thứ 3: bắt đầu hình thành đầu, cổ và ngực của phôi. Nếp đuôi
và nếp cánh lớn liên hợp với thân sau của phôi. Từ đó màng ối và màng nhung
phân chia thành 2 màng túi, màng ngoài là màng nhung, màng sau là màng ối.
Hai màng này dính liền với nhau, qua ngày thứ 3 thì hình thành gan và phổi.
- Ngày ấp thứ 4: phôi có dạng như bào thai động vật bậc cao, độ dài của
phôi là 8 mm. Qua đèn soi có thể nhìn thấy hệ thống mao quản và ta cũng có
thể đánh giá sự phát triển của phôi dựa vào số lượng mạch máu, màng ối có
chứa một ít nước và bao phủ lấy phôi, lúc này lòng đỏ đã có sự hòa tan và
không còn nguyên vẹn dạng hình tròn nữa.
- Ngày ấp thứ 5: phần não bộ phát triển mạnh, từ mấu não hình thành nên
5 bộ phận của não, diều và cơ quan sinh dục cũng bắt đầu được hình thành,
trong gan đã có quá trình tạo máu, màng ối chứa nhiều nước ối đồng thời bao
bọc kín lấy phôi, thành màng ối co bóp nhịp nhàng.
- Ngày ấp thứ 6: kích thước của phôi đạt 16 mm. Mạch máu phủ quanh
phôi trông như mạng nhện.
- Ngày ấp thứ 7: cơ đã có khả năng co bóp, bào thai đã có sự chuyển động,
màng niệu phát triển, trên màng niệu hình thành hệ thông mạch máu có chức

cũng giảm đến mức tối đa do sự bốc hơi của nước và một phần chuyển vào
mạch máu.
- Ngày ấp thứ 20: Trứng được chuyển sang máy nở, phôi đã thay đổi hô
hấp từ hô hấp qua hệ thống mạch máu màng niệu chuyển sang hô hấp bằng
phổi. Đầu ngày thứ 20 túi lòng đỏ đã lộn vào xoang bụng hoàn toàn, thận bắt
đầu hoạt động. Phôi thai mổ vỏ trong (chọc thủng lớp màng ngăn cách với
buồng khí), máu được phôi thai hấp thụ lại, gà con mổ vỏ trứng (mổ vỏ gạo
hay mổ vỏ ngoài).
- Ngày ấp thứ 21: gà con bắt đầu chui ra khỏi vỏ trứng, gà nở rộ vào
đầu ngày thứ 21, lỗ rốn bắt đầu thu hẹp tạo thành sẹo và kết thúc thời gian
ấp trứng.
2.2.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở
* Ảnh hưởng của bảo quản trứng tới sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở.
Sau khi trứng đẻ ra, nhiệt độ của trứng giảm dần tới nhiệt độ của chuồng
nuôi. Sự phát triển của phôi tạm ngừng ở nhiệt độ thấp hơn 27
0
C. Khi nhiệt độ
lớn hơn 27
0
C thì phôi lại tiếp tụ phát triển. Quá trình phát triển của phôi ở giai
đoạn này diễn ra không bình thường, không theo quy luật, nó có thể ảnh
hưởng tới sự phát triển của phôi trong khi ấp, vì vậy trứng được đưa vào ấp
càng sớm càng tốt. Nhưng trong thực tế chúng ta phải bảo quản trứng một thời
gian mới cho vào ấp vì phải thu gom cho đủ số lượng. Trong thời gian bảo

22
quản ngăn chặn tối đa sự phát triển của phôi và bốc hơi nước từ trứng bằng
cách điều khiển nhiệt độ và độ ẩm thích hợp.
Nếu thời gian bảo quản kéo dài thì sự phát triển của phôi bị rối loạn, thời
gian nở kéo dài, nở rải rác, t lệ nở kém.

sự phát triển của phôi. Nhiệt độ tốt nhất là nhiệt độ phôi có thể chịu đựng, sinh
trưởng phát triển bình thường.
Theo Wilson (1990) [27] nhiệt độ thích hợp để phôi phát triển trong máy
ấp là từ 37 - 38
0
C. Ở nhiệt độ này phôi phát triển và sử dụng tốt các chất dinh
dưỡng của trứng, nhu cầu về nhiệt độ thay đổi tuỳ thuộc vào giai đoạn phát
triển của phôi ở giai đoạn đầu, khi nhiệt độ tăng (trong mức giới hạn) thì phôi
phát triển nhanh, phôi lớn nhanh và nặng, màng niệu nang, mạch máu và cơ
khép kín phía đầu nhọn đúng thời gian. Ngược lại nếu thời gian này nhiệt độ

23
mà thấp hơn mức quy định sẽ làm cho phôi phát triển chậm lại, nhẹ, các màng
không thể khép kín đúng thời gian quy định, do đó gia cầm nở chậm chất
lượng kém, nửa sau của quá trình ấp thì sự phát triển của phôi hay ảnh hưởng
của nhiệt độ phụ thuộc vào sự phát triển của phôi trong nửa thời gian đầu.
Theo Đào Đức Long, Trần Long (1995) [9] nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc
tới t lệ ấp nở. Ở nhiệt độ 38 - 40
0
C phôi gia cầm phát triển nhanh, gia cầm nở
sớm, một số biến dị quái thai, dị tật, xung huyết. Nếu nhiệt độ lớn hơn 40
0
C
sẽ gây chết phôi hàng loạt, còn nhiệt độ nhỏ hơn 37
0
C kéo dài sẽ làm cho
phôi phát triển chậm lại, lòng trắng chưa chuyển hoá hết, nở rải rác kéo dài.
Như vậy chế độ nhiệt ở các giai đoạn khác nhau sẽ làm ảnh hưởng tới sự phát
triển của phôi cũng khác nhau, nếu nhiệt độ cao trong giai đoạn ấp sẽ làm cho
gia cầm non nở ra quá sớm, nhỏ, rốn có cục, mắt nhắm, cong chân, đặc biệt

nhanh, gà nở sớm, khô, khối lượng thấp, t lệ nở kém.
- Ảnh hưởng của thông thoáng đến sự phát triển của phôi.
Phôi cũng như các động vật khác cần oxy để duy trì sự sống. Mới đầu
phôi sử dụng oxy do các men tác dụng với lòng đỏ tạo ra đi vào các tế bào
nhờ hiện tượng khuyếch tán, sang đến ngày thứ 2 nguồn oxy này không đáp
ứng được nhu cầu, hình thành hệ thống mạch máu lòng đỏ để lấy oxy từ
những vùng bề mặt khác của lòng đỏ đưa qua các mạch máu về cho phôi sử
dụng. Tới ngày thứ 5 thì màng niệu nang và hệ thống mạch máu của nó phát
triển tới buồng khí và vỏ trứng, sau đó phát triển nhanh chóng bao bọc toàn bộ
phía trong trứng. Từ ngày thứ 6 trở đi oxy trong không khí của máy ấp là
nguồn cung cấp oxy chủ yếu cho phôi. Trước khi gà nở chế độ hô hấp của
phôi lại thay đổi, màng niệu nang khô đi nhanh chóng, hệ thống mạch máu
của nó cắt đứt hoàn toàn với phôi, lúc này phôi sử dụng oxy từ buồng khí, gà
con nhô mỏ lên buồng khí và hô hấp bằng không khí được thẩm thấu vầo qua
vỏ và cuối cùng mỏ đục thủng vỏ trứng và thở trực tiếp không khí trong máy.
Trung bình mỗi quả trứng ấp cần cung cấp 5 lít khí oxy và thải ra 3 lít
CO
2
, như vậy từ ngày ấp thứ nhất đến ngày ấp thứ 21 yêu cầu về oxy tăng
100 lần.
Phôi rất mẫn cảm với nồng độ CO
2
vượt quá mức cho phép, ảnh hưởng
có hại cho sự phát triển của phôi khi thừa CO
2
còn hơn cả khi bị thiếu một ít
oxy. Thường trong máy ấp hàm lượng CO
2
và Oxy được điều khiển bởi thông khí,
kho nồng độ CO

0
C phun sương.
Như vậy yếu tố đảo trứng cũng rất quan trọng đối với trứng trong thời
gian ấp, nó không những làm cho trứng tiếp xúc với nhiệt độ mà còn làm giảm
t lệ sát tắc, nâng cao chất lượng con giống.
* Ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng đến tỷ lệ ấp nở.
Sau khi gia cầm mái đẻ trứng, trứng tiếp xúc với rất nhiều nguồn vi
khuẩn từ phân, đệm lót do vậy mà bề mặt của trứng có rất nhiều vi khuẩn. Nếu
trứng không được sát trùng khi đem vào ấp, các điều kiện trong máy ấp như:
nước, nhiệt độ, dinh dưỡng… rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, chúng xâm
nhập vào bên trong trứng và phát triển rất nhanh làm tăng t lệ chết phôi. Một
số chủng vi khuẩn như: Pseudomonas sản sinh ra khí ga SO
2
, khi nó tích tụ
với mức độ lớn sẽ nổ tung ở máy ấp làm lây nhiễm mầm bệnh sang quả khác
hơn nữa SO
2
sinh ra sẽ gây hại cho sự phát triển của phôi của những quả trứng
còn lại trong máy ấp. Điều này không chỉ làm giảm t lệ ấp nở mà còn ảnh
hưởng tới chất lượng gia cầm nở ra.
Nguyễn Quý Khiêm (2002) [8], nghiên cứu về việc ảnh hưởng của việc
khử trùng trứng ấp trước khi ấp đều kết quả ấp nở trên trứng gà Tam Hoàng
cho thấy t lệ trứng chết phôi và chết tắc thấp hơn hẳn so với trứng không
được khử trùng.
Như vậy việc khử trùng trứng sau khi đẻ và trước khi đưa vào ấp là rất
cần thiết, không những hạn chế được t lệ trứng thối mà còn làm giảm t lệ
trứng chết phôi, nâng cao t lệ nở và t lệ gia cầm loại 1.
* Yếu tố loài giống liên quan đến thời gian ấp nở
Sự phát triển của phôi thai ở mỗi loại gia cầm có liên quan chặt chẽ tới
yếu tố giống loài do đặc điểm sinh học và sinh lý sinh sản khác nhau. Sự khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status