vận dụng phương pháp thống kê nghiên cứu ảnh hưởng của mức sinh, mức chết đến phát triển ở Việt Nam - Pdf 30

Lời mở đầu.
Cùng với sự phát triển của nhân loại, sự tiến bộ của xã hội loài ngời. ở mỗi
thời đại, vấn đề liên quan đến sự phát triển luôn đợc quan tâm hàng đầu ở mỗi
quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. Sự phát triển về kinh tế xã hội là thớc đo phản ánh
sự tiến bộ của mỗi xã hội ở mỗi thời đại khác nhau. Đi liền với sự phát triển là
các thớc đo về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ... ở mỗi quốc gia, mỗi vùng
lãnh thổ có nền văn hóa khác nhau, thì có các mục tiêu và phơng hớng phát triển
khác nhau, nhng đều tính sự phát triển theo các quy định chung của Liên hợp
quốc nh: phát triển về trình độ văn hóa, giáo dục, về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ
tầng, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tốc độ tăng GDP, mức sống dân c, biến động
dân số...
Xét trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đợc coi là nớc đang phát triển,
đang bớc vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa với rất nhiều mục tiêu cần h-
ớng tới cả về kinh tế văn hóa và chính trị. Để đa đất nớc tiến lên phát triển bền
vững, chúng ta cần phải quan tâm tu bổ cải tiến và nâng cấp các hệ thống chỉ
tiêu cả về kinh tế văn hóa. Có rất nhiều chỉ tiêu ảnh hởng phản ánh sự phát triển
của Việt Nam, song trong phạm vi hạn hẹp và bằng kiến thức đã tiếp thu đợc ở
trong gần 4 năm qua học đợc tại trờng ĐH KTQD, kết hợp thời gian thực tập
vừa qua, em xin lựa chọn đề tài nghiên cứu: Vận dụng phơng pháp thống kê
nghiên cứu ảnh hởng của mức sinh, mức chết đến phát triển ở Việt Nam
để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Trong đề tài này, mục đích chính của em là nghiên cứu ảnh hởng của các
chỉ tiêu phản ánh mức sinh, mức chết đến phát triển ở Việt Nam, mà đại diện
cho phát triển ở đây là chỉ số phát triển con ngời HDI. Xét trong hệ thống chỉ
tiêu của phát triển có sự phản ánh về chỉ tiêu của lĩnh vực dân số, một trong
những biểu hiện của nó là mức sống dân c, trong đó có mức sinh, mức chết. Đề
tài nghiên cứu này nhằm đa ra mối quan hệ tơng quan chặt chẽ và mức độ ảnh
hởng của các chỉ tiêu phản ánh mức sinh mức chết đến HDI, từ đó ta có thể
1
nhận định tầm quan trọng của các chỉ tiêu này trong vấn đề phát triển ở Việt
Nam.

sản xuất dân số, luôn gắn liền với mọi cơ thể sống. Sự biến động về dân số chịu
tác động của rất nhiều yếu tố trong đó có sự ảnh hởng một phần không nhỏ của
hai yếu tố: mức sinh và mức chết. Mức chết có ảnh hởng đến sự thay đổi quy
mô và cơ cấu dân số. Nh ta đã biết, mọi sự vật hiện tợng có sự sinh ra thì sẽ có
sự mất đi. Vì thế việc phân tích mức chết không chỉ là căn cứ để đánh giá, xây
dựng các chơng trình y tế công cộng, mà còn là căn cứ để xây dựng các kế
hoạch phát triển, tính toán tiềm năng gia tăng dân số.... Khi đánh giá và phân
tích mức chết ngời ta thờng xuất phát từ số ngời chết trong một thời kỳ nhất
3
định (thờng là một năm). Trong mức chết có nhiều chỉ tiêu phản ánh mức chết
nh là: tỷ suất chết thô, tỷ suất chết trẻ em, tuổi thọ bình quân... Mức chết cũng là
một chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển xã hội của mỗi tập hợp dân c. Dựa vào
đây ta có thể biết đợc tình hình biến động dân số của mỗi vùng hay quốc gia
nghiên cứu. Qua đó chúng ta cũng có thể nhận định đợc trình độ phát triển của
mỗi vùng, quốc gia cần nghiên cứu. Đây cũng là chỉ tiêu phản ánh sự tiến bộ
của mỗi xã hội, mỗi khu vực, nó biểu hiện cho sự phát triển về kinh tế chính trị
văn hoá của mõi vùng khu vực hay quốc gia nghiên cứu.
3. Khái niệm về phát triển:
Theo triết học Mác - Lê Nin thì khái niệm phát triển không khái quát mọi
sự vận động nói chung. Nó chỉ khái quát những vận động đi lên, cái mới ra đời
thay thế cho cái cũ. Sự vận động đi lên có thể diễn ra theo các chiều hớng: từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Tùy
theo các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất mà sự phát triển thể hiện khác
nhau.
Trong giới vô cơ, sự phát triển biểu diễn dới hình thức biến đổi của các yếu
tố và hệ thống vật chất, sự tác động lẫn nhau giữa chúng trong những điều kiện
nhất định làm xuất hiện các hợp chất phức tạp. Trong sinh vật, sự phát triển của
chúng thể hiện ở khả năng thích nghi trớc sự biến đổi phức tạp của môi trờng, ở
sự hoàn thiện không ngừng quá trình trao đổi chất, ở sự tái sinh ra chính mình
đã dẫn đến sự xuất hiện ngày càng phong phú của các giống loài mới ngày càng

dới đây là một số chỉ tiêu chủ yếu mà ngời ta thờng dùng để đo lờng mức sinh
đẻ thực tế của một tổng thể dan c:
1.1 Tỷ số trẻ em phụ nữ (CWR: Child Woman Ratio):
Tỷ số trẻ em phụ nữ phản ánh quan hệ so sánh giữa số trẻ em đợc sinh ra
với số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ trong cùng thời kỳ. Nó đợc tính theo nhiều công
thức khác nhau. Dạng đơn giản đợc dùng nhiều nhất là:
CWR =
1915
40


W
P
Trong đó:
40
P
- Số trẻ em từ 0 đến 4 tuổi.

1915
W
- Số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49 tuổi.
5
Chỉ tiêu này giúp ta đánh giá khái quát mức sinh của cả thời kỳ 5 năm liền
trớc thời điểm nghiên cứu. Trên giác độ thống kê, tử số và mẫu số của công thức
không đảm bảo tính chất so sánh đợc, nên mức chính xác không cao. Tuy nhiên,
trong điều kiện thiếu số liệu, nó lại đợc sử dụng làm cơ sở để ớc lợng gián tiếp
mức sinh cần nghiên cứu của một tổng thể dân c.
1.2 Tỷ suất sinh thô (CBR: Crude Birth Rate):
Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ số giữa số trẻ em sinh ra trong năm trên số dân
bình quân của một tổng thể dân c cần nghiên cứu và đợc xác định bằng công

Chỉ tiêu này thờng đợc tính bằng tỷ lệ %0 biểu thị mức sinh đẻ bình quân
trong năm của 1000 phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi. Nó không chịu ảnh hởng của cơ
cấu dân c theo giới, nhng vẫn còn chịu ảnh hởng của cấu trúc tuổi của số nữ
trong độ tuổi sinh đẻ.
1.4 Tỷ suất sinh đặc trng theo tuổi (ASFR Age Specific Fertility Rate):
Đây là chỉ tiêu đợc tính bằng tỷ số giữa số trẻ em đợc sinh ra trong năm
trên trên số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bình quân năm theo từng độ tuổi. Công
thức đợc tính nh sau:
ASFRx =
x
x
W
B
Trong đó: x là chỉ số tuổi của ngời mẹ (x =15,16,...,49)
ASFR phản ánh chính xác mức sinh ở từng độ tuổi của phụ nữ. Tuy nhiên,
nó lại quá chi tiết nên nhiều khi không có đủ số liệu để tính toán. Mặt khác, chỉ
tiêu này lại có thể bị ảnh hởng bởi việc khai báo tập trung vào các độ tuổi là bội
số của 5. Trong thực tế, ASFR thờng đợc tính cho các nhóm 5 tuổi (nhóm tuổi
n). Khi đó tử số của công thức trên biểu thị số trẻ em do các bà mẹ sống ở nhóm
tuổi n sinh ra, còn mẫu số là số phụ nữ trung bình trong độ tuổi sinh đẻ đang
sống ở nhóm tuổi đó. Cũng cần chú ý rằng ASFR có thể đợc tính cho từng thế
hệ thực tế theo cách tiếp cận dọc. Trong trờng hợp này, phải theo dõi số sinh của
thế hệ này trong nhiều năm, từ khi họ bớc vào tuổi sinh đẻ cho đến hết 49 tuổi.
Thực tế, ASFR thờng đợc tính cho một năm đối với tất cả các độ tuổi theo ph-
ơng pháp tiếp cận ngang nhằm đánh giá mức sinh của năm nghiên cứu. Chúng
ta có thể dựa vào công thức này để phân biệt tỷ lệ sinh ở các nhóm tuổi khác
nhau trong một hay nhiều năm, qua đó ta cũng so sánh và đánh giá đợc tỷ lệ
sinh của từng nhóm tuổi phụ nữ giữa thành thị và nông thôn trong cùng một thời
kỳ. Chỉ tiêu này cũng đợc dùng để tính cho tổng tỷ suất sinh hàng năm qua các
cuộc điều tra về dân số hay về xã hội hoc.

2. Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức chết:
Để đo lờng mức chết trong một tổng thể dân c, quỹ dân số liên hiệp quốc
đã đa vào hệ thống chỉ tiêu một số chỉ tiêu cơ bản đợc tính nh sau:
2.1 Tỷ suất chết thô ( CDR: Crude Death Rate):
Chỉ tiêu này đợc tính bằng tỷ số giữa số ngời chết trên dân số trung bình
trong cùng một thời kỳ nhất định. Công thức tính nh sau:
CDR =
P
D
8
Trong đó: D - là số ngời chết trong năm.

- là dân số trung bình trong năm.
CDR thờng đợc tính bằng tỷ lệ %0 biểu thị mức chết bình quân của 1000
ngời dân trong 1 năm. Đây là một chỉ tiêu cơ bản, đợc dùng nhiều trong các
nghiên cứu về dân số. Tuy nhiên, nó còn chịu ảnh hởng của cấu trúc dân c. Khi
muốn so sánh mức chết giữa các dân số với nhau, cần phải loại bỏ ảnh hởng của
cơ cấu dân c bằng việc dùng thủ thuật chuẩn hoá. Ngoài cấu trúc dân c chỉ tiêu
này cũng chịu ảnh hởng của mức sống dân c hay trình độ phát triển. Đây là chỉ
tiêu qua trọng trong hệ thống chỉ tiêu về mức chết, nó luôn đợc đề cập đến trong
các cuộc điều tra về dân số của mỗi quốc gia.
2.2 Tỷ suất chết đặc trng theo tuổi (ASDR: Age Specific Death Rate):
Đây là chỉ tiêu đợc tính bằng tỷ số giữa số ngời chết trên dân số trung bình
trong thời kỳ nghiên cứu. Công thức tính nh sau:
ASDRx =
x
x
P
D
(trong đó x là chỉ số tuổi)

0
D
là số trẻ em chết dới 1 tuổi trong năm.
0

là số trẻ em đợc sinh ra trong năm.
Ngoài ra IMR còn đợc tính theo công thức điều chỉnh.
Ta có lợc đồ Lexis biểu diễn số trẻ em dới 1 tuổi nh sau:
+
0
D


0
D
1
0
+
D
B
-1
B
0
B
1
Trong đó: B
0
- là số sinh trong năm nghiên cứu.
B
-1

IMR
- Điều chỉnh tử số:
0
1
00
B
DD
IMR
+
+
=
- Điều chỉnh mẫu số:
10
00
).1(.

+
+
+
=
BdBd
DD
IMR
10
Trong đó: d - là tỷ trọng số trẻ em chết dới 1 tuổi có cùng năm sinh trong
tổng số trẻ chết dới 1 tuổi của năm nghiên cứu.
Công thức của d là:
0
0
D

=
x
xi
i
l
L


=
Trong đó:
e
x
- triển vọng sống trung bình của những ngời đã đạt tuổi x.
l
x
- số ngời sống đến độ tuổi x từ tập hợp sinh ban đầu nào đó.
L
i
- số năm ngời sống đợc trong một độ tuổi hoặc nhóm tuổi (từ tuổi i đến
tuổi i+n).
11

- tuổi mà con ngời có thể sống đợc.
T
x
- tổng số năm ngời sống đợc từ tuổi x đến khi không còn ngời nào trong
tập hợp đó sống đợc nữa.
Trong triển vọng sống trung bình, ngời ta đặc biệt quan tâm đến triển vọng
sống trung bình khi mới sinh.
e

3. Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh trình độ phát triển.
Để làm rõ sự tiến bộ của xã hội, ngời ta xét sự tiến bộ xã hội trên các khía
cạch về phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Một xã hội phát triển là một xã
hội ổn định về chính trị, phát triển mạnh kinh tế, giữ vững bản sắc văn hoá, nâng
cao đời sống của dân c. Nh vậy theo quy định trong hệ thống chỉ tiêu của phát
triển đợc tổ chức thế giới đa ra đợc xét trên các góc độ của chỉ số phát triển xã
hội và chỉ số phát triển kinh tế dùng để làm thớc đo sự phát triển cho các quốc
gia, đợc đa ra bằng một số chỉ tiêu nh sau:
3.1 Một số chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội.
3.1.1 Tuổi thọ bình quân trong dân số.
Sự tăng lên của tuổi thọ bình quân trong dân số ở một thời kỳ nhất định,
phản ánh một cách tổng hợp về tình hình sức khoẻ của một dân c trong một nớc.
12
Trong đó nó bao hàm sự văn minh trong đời sống của mức sinh hoạt vật chất và
tinh thần đợc nâng cao của con ngời, pản ánh sự tiến bộ của xã hội. Hầu hết các
nớc có mức sống thấp do kinh tế kém phát triển đều có tuổi thọ bình quân dới
50 tuổi. ở các nớc có trình độ phát triển cao thì chỉ số này đều trên dới 70 tuổi.
3.1.2 Mức tăng dân số hàng năm.
Mức tăng dân số tự nhiên hàng năm là một chỉ số đi liền với chỉ số tăng thu
nhập bình quân đầu ngời. Trên thực tế cho thấy hiện tợng mức dân số cao, luôn
luôn đi với sự lạc hậu và nghèo đói. Các nớc phát triển đều có mức tăng dân số
tự nhiên dới 2%, còn các nớc kém phát triển đều ở mức trên 2% hàng năm. Mức
tăng dân số hàng năm của mỗi quốc gia có sự khác nhau rõ rệt, điều này là do
trình độ phát triển ở mỗi quốc gia có sự khác nhau, nó còn chịu ảnh hởng của
khả năng nhận thức và t tởng của mỗi tộc ngời, của mỗi nền văn hoá khác nhau.
3.1.3 Số calo bình quân đầu ngời (Calo/ngời /ngày).
Chỉ số này phản ánh mức cung ứng các loại nhu cầu thiết yếu nhất đối với
mọi ngời dân, về lơng thực và thực phẩm hàng ngày đợc quy đổi thành calo.
Dựa vào chỉ số này chúng ta cũng có thể biết đợc tình trạng đói nghèo của các
khu vực, quốc gia cần nghiên cứu, đồng thời nó cũng phản ánh lên việc nâng

đất nớc. Tuy nhiên cho đến nay, cha có chỉ số nào để đo lờng đợc các nội dung
đó, hơn nữa lại có những quan niệm hết sức khác nhau giữa các nớc về nội dung
của các tiêu thức đó, nên nó chỉ dùng để tham khảo.
3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế.
Sự phát triển kinh tế - xã hội còn biểu hiện trong biến đổi về cơ cấu của các
nghành, các lĩnh vực sản xuất và các khu vực kinh tế đợc đo lờng theo các chỉ số
cơ bản sau đây:
3.2.1 Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội.
Chỉ số này phản ánh tỷ lệ của ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ sản l-
ợng của công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm phần lớn trong GDP, còn tỷ lệ
của nông nghiệp thì chỉ chiếm một phần nhỏ. Một nền kinh tế phát triển sẽ đẩy
14
mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ, nâng cao hiện đại hoá phơng thức sản
xuất trong nông nghiệp, cải thiện nền kinh tế nông ngiệp lạc hậu và thay vào đó
là phơng thức sản xuất mới.
3.2.2 Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thơng (X - M).
Tỷ lệ của giá trị sản lợng xuất khẩu và nhập khẩu thể hiện sự mở cửa của
nền kinh tế với thế giới. Một nền kinh tế phát triển thờng có mức xuất khẩu ròng
trong GDP tăng lên. Giá trị xuất nhập khẩu tăng lên khi một nền kinh tế đạt tới
một sự phát triển nhất định. Sự mở cửa của một nền kinh tế thị trờng giúp cho
hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra nhày càng nhộn nhịp hơn, hàng hoá đợc vận
chuyển giao thơng với lu lợng lớn làm tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân trong
nớc.
3.2.3 Chỉ số về mức tiết kiệm đầu t (I).
Tỷ lệ tiết kiệm đầu t trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thể hiện rõ hơn
về khả năng tăng trởng kinh tế trong tơng lai. Đây là một nhân tố cơ bản của sự
tăng trởng, phản ánh sự tích luỹ trong dân c. Những nớc có tỷ lệ đầu t cao (từ 20
- 30% GNP) thờng là các nớc có mức tăng trởng cao. Tuy nhiên tỷ lệ này còn
phụ thuộc vào quy mô của tổng sản phẩm quốc dân GNP và tỷ lệ giành cho tiêu

là mức độ thụ hởng các thành quả kinh tế của các tầng lớp dân c. Mặc dù mức
thu nhập có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đánh giá chất lợng cuộc sống
những đó không phải là tất cả. Trên thực tế, một số quốc gia co thu nhập bình
quân trên đầu ngời khá cao nhng các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội nh
y tế, văn hoá, giáo dục... lại không đợc chú ý đúng mức. Trong khi đó có những
quốc gia thu nhập bình quân trên đầu ngời thấp nhng những vấn đề xã hội lại đ-
ợc giải quyết tốt hơn rất nhiều. Do đó nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu thu nhập bình
quân trên đầu ngời sẽ không thể hiện đợc đầy đủ trình độ phát triển của đất nớc
này. Bởi vậy, ngời ta đã phải sử dụng thêm chỉ tiêu HDI. Chỉ tiêu này đợc đa ra
làm chỉ tiêu chung cho sự phát triển. Bởi trong nó còn có nhiều chỉ tiêu khác nh:
mức độ phổ cập giáo dục, thu nhập bình quân trên đầu ngời hay tuổi thọ trung
bình.
16
Hiện nay chơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) mới bổ sung
vào chỉ số HDI một chỉ số mới, đó là thớc đo mức đói nghèo (CPM), thớc đo
này đợc xem xét việc thiếu ba năng lực cơ bản của 101 nớc đang phát triển trên
thế giới đó là: thiếu cuộc sống khoẻ mạnh và đủ dinh dỡng, thiếu khả năng sinh
sản khoẻ mạnh và an toàn, thiếu kiến thức và hiểu biết.
III/ Mối quan hệ giữa mức sinh, mức chết và phát triển.
1. Mối quan hệ giữa mức sinh và phát triển.
a, Các nhân tố ảnh hởng đến mức sinh.
Phân tích thống kê các nhân tố ảnh hởng đến mức sinh có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc tìm hiểu bản chất các quá trình phát triển dân số của mỗi nớc,
mỗi vùng. Đặc biệt, trong hoàn cảnh mức sinh còn giúp cho việc tìm kiếm các
giải pháp để làm giảm mức sinh, hoàn thiện chính sánh dân số...
Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu phân
tích các nhân tố ảnh hởng đến mức sinh, nh lý thuyết mao dẫn xã hội ở Pháp, lý
luận tiêu dùng vi mô và mức sinh của G.Becker, phơng pháp của King Davis và
Judith Blake của Ronald Frêdman, mô hình sinh tổng hợp của John Bongaarts ...
Nhìn chung, các phân tích này đều đã khẳng định ảnh hởng của các nhân tố sinh

dân tộc.
ở một quốc gia phát triển kéo theo sự tiến bộ của xã hội, điều đó tơng ứng
với sự đáp ứng gần nh đầy đủ đời sống dân c. Khi một quốc gia đang trong thời
kỳ ổn định chính trị, phát triển về kinh tế thì việc đáp ứng nhu cầu đời sống dân
c đợc quan tâm chú trọng hơn, điều này sẽ ảnh hởng tới sự biến động về dân số.
Để xoá bỏ tình trạng đói nghèo, lạc hậu về kinh tế thì một quốc gia muốn phát
triển phải có một dân số ổn định, sự gia tăng dân số phải phù hợp với trình độ
phát triển, điều này chịu ảnh hởng một phần của mức sinh trong một tổng thể
18
dân c. Một quốc gia có trình độ kém phát triển, đời sống dân c còn thấp thì tỷ lệ
mức sinh còn rất cao, trong khi đó mức sinh ở các nớc đang phát triển thì đang
có xu hớng giảm dần. Điều này chứng tỏ giữa mức sinh và trình độ phát triển có
mối quan hệ tơng đồng lẫn nhau, chúng có sự tác động qua lại ảnh hởng với
nhau.
2. Mối quan hệ giữa mức chết và phát triển.
a, Các nhân tố ảnh hởng đến mức chết.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến mức chết. Các nhân tố này rất đa dạng
và luôn tác động qua lại lẫn nhau. Những nhân tố cơ bản và có tác động trực
tiếp đến mức chết bao gồm:
Mức sống của dân c có ảnh hởng lớn đến mức chết. Mức sống càng cao,
mức chết càng thấp. Nếu mức sống dân c đợc hiểu là trình độ thoả mãn những
nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi ngời dân trong xã hội, thì đây là yếu tố
tổng hợp nhất có ảnh hởng đến mức chết. Nhân tố này bao gồm:
Trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Thu nhập bình quân đầu ngời.
Trình độ phát triển của y học và màng lới vệ sinh phòng bệnh...
Trình độ văn hóa.
Nghề nghiệp và dân tộc.
Cấu trúc tuổi và giới tính của dân c.
Yếu tố vùng...

Xi (i =1,2,...,n) -là các biến số đầu vào thể hiện các nhân tố kinh tế trực
tiếp tạo ra giá trị sản lợng.
20
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, các biến số đó đều chịu sự điều tiết của
mối quan hệ cung cầu. Một số luồng đầu vào thì ảnh hởng tới mức cung, một số
thì ảnh hởng tới mức cầu. Sự cân bằng của cung cầu do giá cả thị trờng điều tiết,
sẽ tác động ngợc trở lại các luồng vào và dẫn tới kết quả của sản xuất, đó là sản
lợng của nền kinh tế.
Các nhà kinh tế đặt nền móng cho các học thuyết kinh tế cổ điển nói riêng
và kinh tế học nói chung nh Adam Smith, Jean Baptiste Say, Davis Ricardo cho
đến Alfred Marshall và ngay cả Karl Marx cũng đều xây dựng các lý thuyết dựa
trên quan điểm nghiêng về cung chứ không phải là cầu. Trong một giai đoạn
nhất định sự khan hiếm tài nguyên hay sự thiếu cung, luôn luôn là giới hạn của
sự tăng trởng, nhất là khi sức sản suất còn ở mức thấp giống ở các nớc cha phát
triển. Jean Baptiste Say đã nêu:Qui luật của các thị trờng tiêu thụ với quan
điểm cung sẽ tạo cầu của chính nó. Sự tăng thu nhập của các hộ gia đình do
bán các t liệu sản xuất và sức lao động là sự tăng cung trong thời kỳ trớc. Karl
Marx cũng nói rằng chỉ có sản xuất sản phẩm mới thì mới tạo ra nhu cầu mới,
nh vậy mức sản lợng đợc cân bằng do chính cung tạo ra.
Theo trờng phái kinh tế học hiện đại, mà xuất phát từ Jonh Maynard (trong
lý thuyết chung về hữu nghiệp, lợi ích và tiền -1936) thì mức sản lợng và việc
làm là do cầu quyết định. Ngày nay kinh tế học vĩ mô cho rằng trong thời kỳ
nhất định tơng ứng với mức giá cả và tiền lơng nhất định, sản lợng của nền kinh
tế luôn ở dới mức tiềm năng. Tức là nền kinh tế còn các nguồn lực tiềm tàng nh:
công nhân thất nghiệp tự nhiên, vốn tích tũy lớn, công suất máy móc cha tận
dụng hết. Trong trờng hợp đó cung không phải là vấn đề giới hạn. Các hãng vui
lòng cung ứng sản lợng thực chất chỉ phụ thuộc vào tổng cầu. Mặc dù các giả
định đa ra đều phù hợp với thực tế ở các nớc đã phát triển và sự phân tích đợc
chứng minh chặt chẽ, đợc hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại đồng tình. Song
có lẽ điều đó khó có thể thực sự chứng minh đợc ở những nền kinh tế còn cha có

ơng qui định. Là yếu tố sản xuất đặc biệt, do vậy lợng lao động không đơn thuần
chỉ là số lợng mà còn bao gồm chất lợng của lao động, ngời ta gọi là vốn nhân
lực. Đó là con ngời bao gồm trình độ tri thức học vấn và những kỹ năng, kinh
nghiệm lao động sản xuất nhất định. Do vậy những chi phí nhằm nâng cao trình
độ ngời lao động - vốn nhân lực, cũng đợc coi là đầu t dài hạn cho đầu vào, dĩ
22
nhiên ở một phơng diện nào khác nh đầu t cho giáo dục - đào tạo lại thờng đợc
coi là đầu t cho sự nghiệp xã hội.
Đất đai là yếu tố sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Mặc dù
với nền kinh tế công nghiệp hiện đại, đất đai dờng nh không quan trọng. Song
thực tế cũng không phải hoàn toàn nh vậy. Kể cả sản xuất công nghiệp hiện đại,
không thể không có đất đai. Do diện tích đất đai là cố định, ngời ta phải nâng
cao hiệu quả sử dụng đất đai bằng đầu t thêm lao động và vốn trên một đơn vị
diện tích nhằm tăng thêm sản phẩm. Chính điều này đã làm vai trò của vốn nổi
lên thêm và đất đai trở thành kém quan trọng. Nhng nh vậy không có nghĩa là
lao động và vốn có thể thay thế hoàn toàn cho đất đai.
Các tài nguyên khác cũng là đầu vào trong sản xuất: các sản phẩm từ trong
lòng đất, từ rừng và biển, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dạo, phong phú đợc
khai thác sẽ làm tăng sản lợng một cách nhanh chóng, nhất là các nớc đang phát
triển.
Tùy thuộc vào tính chất các tài nguyên đợc đa vào chu trình sản xuất, ngời
ta chia các tài nguyên ra làm tài nguyên vô hạn và tài nguyên không thể thay
thế, tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo. Từ tính chất đó,
các tài nguyên đợc đánh giá về mặt kinh tế và đợc tính giá trị nh các đầu vào
khác trong quá trình sử dụng. Những tài nguyên qúy hiếm là những đầu vào cần
thiết cho sản xuất, song lại có hạn, không thay thế đợc và không tái tạo đợc. Nói
chung, tài nguyên là khan hiếm tơng đối so với nhu cầu. Vì phần lớn những tài
nguyên cần thiết cho sản xuất và đời sống đều có hạn, không tái tạo hoặc nếu tái
tạo thì phải có thời gian và phải có chi phí tơng đơng nh sản phẩm mới. Do vậy
có nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyên trong sử dụng,

thông), những kỹ năng kỹ thuật đợc đào tạo, kinh nghiệm và sự khéo léo tích
lũy trong lao động, ý thức tổ chức kỷ luật và ý thức mong muốn đạt tới hiệu quả
trong công việc. Để có đợc đội ngũ những ngời lao động và kinh doanh giỏi, mà
nhiều nhà kinh tế cho rằng đó là động lực để đạt đợc sự tăng trởng cao, thì phải
có đầu t cao trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo và phải có thời gian.
Mỗi ngành, mỗi khu vực sản suất vật chất có năng suất khác nhau. Sự đổi
mới cơ cấu kinh tế vĩ mô làm cho các khu vực, các ngành có năng suất cao
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, tất yếu sẽ làm cho sản lợng tăng lên. Sự
đổi mới trong cơ cấu thể hiện ở sự bố trí lại nguồn lực cho cơ cấu mới, bố trí lại
24
cơ cấu tích lũy và tiêu dùng, và các biện pháp tạo cung, tạo cầu....Điều đó làm
cho các nhân tố tích cực đợc nhân lên, giảm bớt một cách tơng đối những chi
phí, cũng đa lại hiệu quả nh một sự đầu t. Nh vậy tổ chức và quản lý kinh tế đợc
coi nh một nhân tố làm tăng thêm sản lợng.
Các nhân tố tác động đến tổng cung này mặc dù tạo ra sự tăng trởng nhất
định, song trên thực tế rất khó đo lờng, đối chiếu cụ thể trong hạch toán nh
những yếu tố sản xuất, bởi vì sự phức tạp của nó đối với các luồng đầu vào khác.
Do vậy chỉ có thể coi đó là các dữ kiện hơn là các yếu tố sản xuất.
Nh đã phân tích ở trên, sự tăng trởng có quan hệ hàm số với các yếu tố sản
xuất nh vốn (K), lao động(L), tài nguyên (R)và tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
(T):
Y = f(K,L,R,T...)
Tuy nhiên do tính chất kinh tế kỹ thuật của sản xuất, các yếu tố trong đó
không phải là các tham số rời rạc. Đó là một hệ thống các quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau theo những tỷ lệ hết sức chặt chẽ. Do vậy ý định phân tích từng yếu tố tách
rời, bằng cách lần lợt cho từng yếu tố biến thiên để tìm ra sự đóng góp của mỗi
yếu tố vào quá trình tăng trởng, nh lâu nay đã làm là điều không hợp lý.
Vấn đề này không phải chỉ là trên lý thuyết, mà thực tế đã có thời gian dài
ngời ta nghĩ rằng, chỉ cần tăng thêm một yếu tố sản xuất thì đã cho phép tăng
thêm sản lợng. Nhợc điểm này còn thấy ở các mô hình lý thuyết đơn giản trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status