I-Quá trình thống nhất liên minh tiền tệ châu Âu
1.Cơ sở,điều kiện thống nhất
1.1 Hình thành 1 thị trường thống nhất về hàng hóa, vốn và sức lao động:
Nhìn lại lịch sử phát triển của Liên minh tiền tệ châu Âu, chúng ta thấy rằng
Liên minh châu Âu đã tuần tự trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao
trước khi đạt tới trình độ của một liên minh kinh tế và tiền tệ. Đó là: khu vực
thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, giai đoạn hài hoà và
phối hợp chính sách kinh tế và cuối cùng là một liên minh kinh tế hoàn chỉnh với một
số chính sách kinh tế được hoạch định ở cấp độ khu vực. Hoàn thành ba giai đoạn đầu
chính là đã hình thành được một thị trường thống nhất về hàng hoá, vốn và sức lao
động.
- Với châu Âu, hai giai đoạn đầu: khu vực thương mại tự do và liên minh thuế
quan được hoàn thành 1 cách nhanh chóng cụ thể :
+ Khoảng năm 1960,các nước cam kết cắt giảm ,xóa bỏ hàng rào thuế quan,phi
thuế quan với nhau.
+ Tính đến ngày 1/7/1968, tất cả các hàng rào thuế quan về số lượng đối với hàng
hoá và dịch vụ xuất và nhập khẩu đã được dỡ bỏ, Việc xóa bỏ các hàng rào phi thuế
quan như các tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, an toàn, kỹ thuật thì gặp nhiều khó khăn hơn
do đó, dỡ bỏ các hàng rào này đòi hỏi phải phối hợp nhiều chính sách và luật lệ chứ
không chỉ đơn giản là cắt giảm thuế như trường hợp các hàng rào thuế quan. Phải đến
giữa những năm 1980, Cộng đồng châu Âu mới đạt được những tiến bộ quan trọng
trong lĩnh vực này.
- Giai đoạn "thị trường chung" (ngoài việc tự do hóa thương mại ,tự do hóa dịch
vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử,liên minh thuế quan còn cộng thêm
các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động) giữa các nước
thành viên) được coi là chính thức hoàn thành ngày 31/12/1992.Tuy nhiên, kể cả cho
tới ngày hôm nay, vẫn còn nhiều lĩnh vực như dịch vụ tài chính, năng lượng, viễn
thông cần được tiếp tục cải cách để thị trường của Liên minh châu Âu thực sự là một
thị trường chung.
1.2 Điều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo tiêu chí
thống nhất
Như vậy, điều chỉnh kinh tế để hội nhập là một tiền đề quan trọng để tránh sự bất
ổn định về kinh tế vĩ mô và do đó, là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị
cho sự ra đời của một đồng tiền chung.
1.3 Thiết lập 1 cơ chế liên kết tỷ giá
Quá trình phát triển của cơ chế liên kết tỷ giá ở châu Âu đã trải qua ba giai
đoạn lớn như sau:
1.3.1. Giai đoạn 1: Bắt đầu từ khi thành lập Cộng đồng vào năm 1957 cho đến khi
thiết lập Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979.
Sự phối hợp trên lĩnh vực tỷ giá hối đoái ở giai đoạn này nhìn chung còn lỏng lẻo.Sau
khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ và cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất nổ ra
năm 1973, các nước đã không thể thống nhất được về một biện pháp đối phó chung.
Mỗi nước tự đưa ra chính sách tài khoá và tiền tệ riêng của mình để đối phó và tỷ giá
2
hối đoái càng trở nên bất ổn định. Cuối cùng, các nước áp dụng chính sách kinh tế vĩ
mô lỏng đã buộc phải thả nổi đồng tiền của mình.
1.3.2 Giai đoạn 2: đánh dấu bằng sự ra đời của Hệ thống tiền tệ châu Âu(ECU)
và kéo dài đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng cơ chế tỷ giá ERM vào năm 1992-1993.
Giai đoạn này, các nước châu Âu dần dần đã đạt được một mức độ phối hợp đáng kể
trong lĩnh vực chính sách tài chính, tiền tệ. Giai đoạn đầu của Hệ thống tiền tệ châu
Âu gặp phải những vấn đề khó khăn, các nước thành viên liên tục phải điều chỉnh tỷ
giá hối đoái. Dần dần, với một ngân hàng trung ương độc lập và chính sách tiền tệ
theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, đồng Mark Đức đã trở thành nước neo giá danh
nghĩa cho đồng tiền các nước trong hệ thống.
Thời kỳ cuối của giai đoạn này đã chứng kiến một cuộc khủng hoảng tỷ giá, Italia và
Anh rời bỏ cơ chế tỷ giá còn biên độ dao động của các nước còn lại được mở rộng tới
±15%.
1.3.3 Giai đoạn 3: bắt đầu từ năm 1993 và kéo dài cho tới nay.
Đây là giai đoạn phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô thành công với các mục tiêu
chung về các chính sách tài khoá, tiền tệ, và tỷ giá hối đoái theo Hiệp ước Masstrict.
Việc biên độ dao động được mở rộng tới ±15% vào tháng 8/1993 đã cho phép các
khẩu hiệu mỗi khi bàn đến liên minh chính trị, kinh tế và tiền tệ châu Âu. Đỉnh cao
của phát triển liên kết kinh tế châu Âu chính là việc thống nhất tiền tệ. → thống nhất
tiền tệ là một tất yếu khách quan của sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế và các quan
hệ tiền tệ quốc tế.
- Cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, Hệ thống tỷ giá chuyển đổi cố định
Bretton Woods bắt đầu rạn nứt và sụp đổ → Vào tháng 1 - năm 1970, Ủy ban Werner
đã lập ra một kế hoạch thành lập “Liên minh kinh tế và tiền tệ” trong vòng 10 năm.
Lần đầu tiên, ý tưởng về một đồng tiền chung châu Âu được nhen nhóm.
- Kế hoạch Werner đã bị sụp đổ bởi các biến cố kinh tế xảy ra ngay sau đó:
+ 15 - 8 - 1971, Hệ thống tiền tệ Bretton Woods tan vỡ và Mỹ chấm dứt chế độ
chuyển đổi dollar ra vàng gây rối loạn thị trường tiền tệ thế giới.
+ Tháng 3 - 1973, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 nên kéo
theo đó xảy ra đợt khủng hoảng mới của đồng dollar.
→ Với những biến cố như vậy nên ý định thành lập liên minh tiền tệ châu Âu chưa thể
thực hiện được, nhưng thay vào đó năm 1972, Liên Minh tỷ giá hối đoái châu Âu đã
được thành lập, và tiếp đó là Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979. Hệ thống tiền tệ
châu Âu đã vận hành khá tốt (tạo sự ổn định và giảm rủi ro về tiền tệ), đơn vị tiền tệ
châu Âu (european currency unit - ECU) - một đơn vị thanh toán, ra đời vì mục đích
này và có thể xem như là tiền thân của đồng Euro.
2.2. Các giai đoạn thực hiện thống nhất tiền tệ châu Âu
Đến năm 1987, việc thực hiện thống nhất tiền tệ châu Âu đã được văn kiện châu Âu
thống nhất. Tháng 4 - 1989, Jacques Delors đã đưa ra kế hoạch thống nhất tiền tệ theo
3 giai đoạn, và tháng 12 - 1992 kế hoạch đã được ký tại Maastricht - Hà Lan.
- Giai đoạn 1: Tạo tiền đề (1990 - 1993)
Thực hiện tự do hóa lưu thông vốn và thanh toán. Sự tự do hóa này thông qua tăng
cường hợp tác các chính sách kinh tế và chính trị, tăng cường phối hợp hoạt động của
12 ngân hàng trung ương của các nước thành viên.
4
Việc lưu chuyển vốn được tự do trong các nước EU
- Giai đoạn 2: Giai đoạn chuẩn bị (1994-1999)
thực hiện liên minh tiền tệ có thể đem lại lợi cho các nước EU khoảng 200 ty ECU và
giúp làm tăng thêm 1% GDP của các nước thành viên.
Sự ra đời của đồng EURO sẽ giúp cho các nước thành viên tránh được sức ép của việc
phá giá đột ngột các đồng tiền quốc gia (sau này sẽ không còn tồn tại) cũng như việc
các nhà đầu cơ tiền tệ tranh thủ sự không ổn định của đồng tiền để đầu cơ làm ảnh
hưởng đến sự phát triển chung của toàn khối.
Cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) năm 1992 là một ví dụ. Để thu hút
ngoại tệ trang trải cho những tốn kém trong việc khôi phục lại nền kinh tế bị phá sản
của Đông Đức, nước Đức đã áp dụng chính sách giữ lãi suất rất cao làm cho các nhà
tư bản quốc tế bị lợi nhuận quyến rũ đã đổ tiền vào Đức; trong khi đó, với mục tiêu
5
chống lạm phát, Pháp muốn duy trì lãi suất thấp vừa phải. Nhưng do tất cả các đồng
tiền trong EMS vốn liên quan mật thiết với nhau nên Pháp không thể đơn phương hạ
lãi suất mà không làm cho đồng phrăng Pháp (FF) hạ giá so với đồng mác Đức (DM).
Giới đầu cơ tính toán rằng đã đến lúc đồng FF sẽ phải phá giá và họ đã tập trung vào
tấn công đồng FF. Hậu quả là đồng FF bị phá giá và làm cho cả EMS bị lung lay.
Cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) vào năm 1992-1993 đã làm cho hệ
thống tiền tệ châu Âu cũng như nền kinh tế các nước thành viên bị chao đảo và chịu
nhiều thiệt hại. Sự bất ổn định của tiền tệ châu Âu đã làm cho các nước thành viên EU
bị mất 1,5 triệu việc làm trong năm 1995.
Việc ra đời của đồng EURO với ngân hàng trung ương độc lập - Ngân hàng Trung
ương châu Âu (ECB) - thay thế các ngân hàng trung ương các nước thành viên, với
mục tiêu thực hiện một chính sách tiền tệ theo hướng giữ ổn định sẽ tạo cơ sở cho
kinh tế phát triển không còn lạm phát, đem lại những điều kiện thuận lợi cho việc
hoạch định một chính sách tài chính vĩ mô cho liên minh, là một bảo đảm giữ cho nền
kinh tế ở khu vực này ổn định và phát triển hơn trước. Trước mắt, người tiêu dùng và
các doanh nghiệp ở mỗi nước thành viên sẽ bớt được một khoản chi phí chuyển đổi
ngoại tệ trong giao dịch quốc tế mà các nhà kinh tế cho rằng việc này sẽ tiết kiệm
được một khoản tiền 100 tỷ mác hoặc không dưới 1% GDP của các nước thành viên.
Hơn nữa, khi đồng EURO được lưu hành trên thị trường, mọi hàng hoá bày bán trong
Châu Âu. Điều này cũng sẽ gián tiếp ảnh hưỏng đến ngoại thương của Châu Âu
với các nước ngoài liên minh Châu Âu.
Các doanh nghiệp Châu Âu sẽ sử dụng EURO như một phương tiện tính
toán trong các giao dịch thương mại nằm trong nội bộ của liên minh. Giao dịch
thương mại trong lòng EMU (khu vực EURO) chiếm tới 60% tổng kim nghạch
ngoại thương của các nước thành viên. Các nhà nhập khẩu Châu Âu sẽ sử dụng
EURO trong tất cả các giao dịch thương mại vì việc sử dụng EURO sẽ tránh
được những rủi ro về tỷ giá do không chuyển đổi giữa các đồng tiền quốc gia.
Chẳng hạn như một nhà xuất khẩu Pháp xuất khẩu hàng hoá sang Đức. Dù lùa
chọn đồng tiền thanh toán nào thì một trong hai bên Ýt nhất phải thực hiện một
đồng tiền chuyển đổi. Điều này một mặt làm cho sự tính toán, thanh toán phức
tạp hơn. Mặt khác nó cũng sẽ làm tăng chi phí do việc chuyển đổi gây ra họăc có
thể gặp phải những rủi ro tỷ giá nếu không có biện pháp bảo đảm hối đoái thích
hợp.
Việc cho ra đời EURO và sư phát triển ổn định của các nước thuộc khu vực
làm cho thị trường trở nên hấp dẫn hơn với hàng hoá các nước khiến các nước
tìm cách tăng xuất khẩu vào vùng EURO. Như vậy, buôn bán nội bộ 11 nước sẽ
tăng nhanh hơn. EURO sẽ đẩy nhanh được quá trình hình thành các tập đoàn
kinh tế lớn siêu quốc gia chi phối xuất nhập khẩu trên thị trường Châu Âu. Điều
này có thể dễ dàng lý giải cùng một đồng tiền, nhất thể hoá kinh tế kéo theo sự
dễ dàng mở các chi nhánh sang các nước Châu Âu thuộc liên minh của các công
ty Châu Âu đồng thời cũng là nhân tố làm cho các công ty Châu Âu dễ hợp nhất
với nhau để tăng cưòng sức cạnh tranh trên trường quốc tế.
Ngoài ra, đồng EURO sẽ làm mạnh thêm tiềm lực ngoại thương của các nước
trong khối, làm cho khối thị trường chung Châu Âu củng cố tăng cường trở
thành một trung tâm kinh tế thương mại mạnh nhất thế giới
Bên cạnh việc tác động đến ngoại thương của nội bộ các nước trong khu
vực EU, đồng EURO còn tác động đến ngoại thương các nước khác.
-Tại khu vực Trung và Đông Âu: Vì thực tế những nước này đa phần là
những ứng cử viên gia nhập EU và có truyền thống quan hệ thương mại với
thách thức cho sự phát triển hợp tác EU - ASEAN.
Các chuyên gia kinh tế đề cập nhiều tới tác động của EURO tới việc thúc
đẩy tăng trưởng xuất khẩu của các nước Đông Nam Á.
3.2.2 Ảnh hưởng của EURO tới thanh toán quốc tế.
EURO ra đời là một sự kiện lớn trong đời sống kinh tế quốc tế vì nó sẽ
được sử dụng khá rộng rãi trong quan hệ kinh tế và trong thanh toán quốc tế
giữa các nước trên thế giới. Theo dự báo thì việc sử dụng EURO trong quan hệ
thanh toán quốc tế bước đầu sẽ chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch thương mại
toàn cầu, tỷ lệ này có khả năng tăng nhanh trong khi tỷ lệ đôla ngày càng giảm.
Từ ngày 01/01/1999 EURO được đưa vào sử dụng, quan hệ thanh toán
quốc tế vì thế cũng có những thay đổi lớn để phù hợp với những yêu cầu và điều
kiện của đồng EURO.Sau khi đồng EURO ra đời hệ thống tài chính thế giới sẽ bị thay
đổi cơ bản. Những thay đổi này sẽ bắt đầu từ việc thanh toán các loại dịch vụ và buôn
bán quốc tế, kể cả các giao dịch thị trường chứng khoán, sau đó đến việc giải toả dự
trữ ngoại tệ ở các quốc gia. Hơn nữa, bên cạnh việc sử dụng USD như trước đây, trên
thị trường sẽ xuất hiện thêm EURO, do đó trong tương lai không xa, nhu cầu sử dụng
USD giảm bắt buộc sẽ dẫn đến việc giảm giá của USD, và như vậy việc ra đời của
EURO không chỉ tác động đến lĩnh vực tiền tệ mà sẽ tác động cả đến lĩnh vực kinh tế
và chính sách kinh tế của các quốc gia.
- Sự cạnh tranh về tiền tệ giữa đồng USD và đồng EURO có thể sẽ gây ra một số rạn
nứt trong quan hệ giữa Mỹ và EU và thúc đẩy xu thế đa cực, đa trung tâm trong quan
hệ quốc tế phát triển.
Chính phủ Mỹ tuy bên ngoài đã có những tuyên bố hoan nghênh sự ra đời của đồng
EURO và EMU, nhưng thực tế bên trong cũng hết sức lo ngại. Trước hết như đã phân
tích, đồng EURO ra đời sẽ là một đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với đồng USD và
từng bước làm giảm vị trí truyền thống của đồng USD. Để đảm bảo cho đồng EURO
ổn định và vững mạnh, các chính phủ các nước tham gia EMU cũng như Ngân hàng
Trung ương châu Âu sẽ cần phải có những chính sách bảo vệ và khuyến khích sử dụng
8
đồng EURO, điều này chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho vị trí của đồng USD ở
chuyển phần dự trữ này sang đồng EURO. Điều này sẽ là đương nhiên xảy ra,
cho đến tháng 1 năm 2002 thì nội tệ của các nước thuộc liên minh EMU sẽ rút
khỏi lưu thông , nhường chỗ cho EURO.
Hơn nữa, trước sức mạnh to lớn của liên minh Châu Âu chắc chắn sẽ có
nhiều quốc gia chuyển một phần dự trữ từ vàng và đôla Mỹ sang EURO. Việc
nhận định EURO có độ tin cậy là hoàn toàn có cơ sở. Hạ tầng kinh tế đảm bảo,
EURO lại được quản lý bởi Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) độc lập chỉ
có mục tiêu duy nhất ổn định giá cả.
Ngoài ra, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước khu vực Châu Á
mới đây mà thực chất là sự mất giá nghiêm trọng của đồng nội tệ so với đồng
USD đã phá hoại nền kinh tế của các nước khu vực này. Kết cục là nhiều nước
đã đặt dấu chấm hỏi về tình trạng dùa dẫm quá nhiều một ngoại tệ là đồng đôla.
Theo công bố gần đây của các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore,
9
Hàn Quốc, Đài Loan quyết định chuyển một phần dự trữ ngoại tệ từ USD sang
đồng EURO. Chẳng hạn như ngân hàng Trung ương Thái Lan đã chuyển 10%
dự trữ ngoại tệ sang đồng EURO.
Theo bộ tài chính Nhật Bản, tính tới cuối tháng 9/2000, dự trữ ngoại tệ của
Nhật Bản đạt mức kỷ lục là 348,95 tỷ USD, tăng 4,09 tỷ so với tháng trước.
Mức tăng này một phần là do sù can thiệp chung của các ngân hàng Trung ương
châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Canada vào việc mua đồng EURO. Dự trữ này gồm
các chứng khoán và tiền gửi bằng các đồng ngoại tệ, các quỹ dự trữ của Quỹ
Tiền tệ Quốc tế (IMF), các quyền rút vốn đặc biệt (SDR) và vàng của IMF đã
vượt mức kỷ lục là 344,89 tỷ USD trong tháng 7.
Nói tóm lại, sự ra đời của đồng EURO đã có ảnh hưởng đáng kể đến toàn
bộ nền kinh tế- tài chính- tiền tệ thế giới. EURO đã chấm dứt kỷ nguyên tiền tệ
đơn cực với sự thống soái của đồng USD, tạo ra một hệ thống tiền tệ đa cực gồm
các thành tố chủ yếu là EURO, USD và JPY
.Bảng 1. Cơ cấu dự trữ ngoại hối toàn cầu theo loại tiền
Năm 1999 2005 2006 2007 2008 2009 2010
19,7% so với CHF và giảm 24,5% so với CAD trong giai đoạn 2009-2012. Đặc biệt,
chỉ trong vòng 1 năm trở lại đây, chỉ số giá đồng Euro giảm 9,8%, trong đó, đồng
Euro giảm 12,3% so với USD, giảm 10% so với GBP, giảm 13,7% so với JPY.Cùng với
sự suy giảm về giá trị, vai trò và vị thế quốc tế của đồng Euro cũng chịu tác động
tiêu cực. Tỷ trọng dự trữ bằng đồng Euro giảm từ mức 27,7% vào năm 2009 xuống
mức 25% vào cuối năm 2011, dù vẫn là đồng tiền dự trữ quốc tế lớn thứ hai trên
thế giới. Lo ngại về khả năng đồng Euro sụp đổ đã lên đến đỉnh điểm trên thị
trường tài chính quốc tế khi các nhà đầu tư từ chối mua một số loại trái phiếu
chính phủ châu Âu. Lãi suất trái phiếu chính phủ nhiều nước thuộc Eurozone đã
tăng lên mức cao kỷ lục trong những tháng cuối năm 2011. Lãi suất trái phiếu của
Italia đã tăng lên mức 7,6-7,9%/năm ; Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm
của Pháp đã tăng 0,5 điểm phần trăm; Lãi suất trái phiếu 10 năm của Đức cũng
tăng 0,145 điểm phần trăm lên 2,056%, đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của
khu vực
.Hình 1. Các giai đoạn biến động tỷ giá EUR/USD kể từ khi đồng Euro ra đời
Nhằm tăng cường củng cố và bảo vệ đồng Euro, tại Hội nghị Thượng đỉnh EU
tháng 12/2011, 26/27 thành viên EU (trừ Anh) đã đồng ý đưa ra một thỏa thuận
mới về giám sát tài chính chặt chẽ hơn. Theo đó, giới hạn thâm hụt cơ cấu sẽ ở mức
0,5% GDP của mỗi nước thành viên, trong khi đó trần nợ công vẫn duy trì ở mức
3% GDP, kèm theo điều luật mới quy định nếu nước nào vi phạm sẽ tự động bị
trừng phạt nặng nề.Một giải pháp khác cũng được thông qua nhằm cứu nguy cho
khu vực Eurozone đó là thành lập quỹ cứu trợ thường trực của khu vực có quy mô
500 tỷ Euro với tên gọi là Cơ chế Ổn định châu Âu (ESM), dự kiến có hiệu lực vào
11
tháng 7/2012. ESM sẽ được cấp một giấy phép hoạt động trong lĩnh vực ngân
hàng, giúp ESM có thể tiếp cận thanh khoản của Ngân hàng Trung ương châu Âu
(ECB), nâng cao khả năng của cơ chế này đối phó với cuộc khủng hoảng nợ của khu
vực Eurozone. ESM cũng có khả năng trực tiếp tái cấp vốn cho các ngân hàng. Mặc
dù vậy, để thỏa thuận này được ký kết vào năm tới với sự tham gia của 17 nước
thành viên và 9 nước còn lại sẽ không phải là vấn đề đơn giản.
quan nhất này, khu vực Eurozone vẫn phải đối mặt với những khó khăn và thách
thức trong nỗ lực cải cách, xuất phát từ nhiều khía cạnh:
(i) Một là, nợ của các nước PIIGS (gồm Bồ Đào Nha, Italia, Ailen, Hy Lạp và Tây Ban
Nha) đã tăng từ mức 75% năm 2007 lên mức 87% trong năm 2011. Trong số 2.200
tỷ Euro mà các thể chế tài chính và các ngân hàng EU ngoài nhóm PIIGS cho các
nước này vay, có 567 tỷ Euro là nợ chính phủ, 534 tỷ Euro là cho các công ty phi
ngân hàng vay và 1.000 tỷ Euro cho các ngân hàng vay. Việc các ngân hàng thương
12
mại châu Âu (trong đó có cả ECB) nắm giữ một lượng lớn nợ của các nước PIIGS sẽ
khiến nợ xấu của các ngân hàng này tăng mạnh và làm lan truyền rủi ro cho cả hệ
thống ngân hàng châu Âu.
(ii) Hai là, Hiệp ước Maatstrict thiết lập một đồng tiền chung dựa trên liên minh
tiền tệ và các quy tắc ngăn chặn tình trạng mất cân bằng ở khu vực công, nhưng
chưa tính đến các quy tắc điều chỉnh đối với các thể chế tài chính ngân hàng của
khu vực cũng như biến động trên thị trường tiền tệ;
(iii) Ba là, khả năng thanh khoản và định mức tín nhiệm của các ngân hàng trong
khu vực đồng Euro đã và đang giảm sút, nguy cơ khủng hoảng ngân hàng tăng lên;
(iv) Bốn là, để vượt qua khủng hoảng, khu vực này cần điều chỉnh được tình trạng
mất cân bằng trong một thập kỷ qua để hướng đến cải cách tài chính bền vững
hơn, lấy lại niềm tin của các thị trường tài chính.
Nếu không vượt qua được những thách thức trên, khu vực Eurozone và đồng Euro
có thể sẽ phải đối mặt với sự tan rã trong những năm tới. Theo như nhận định của
ông Joseph Stiglitz - chuyên kinh tế đoạt giải Nobel thì: “Các chuyên gia kinh tế sẽ
không còn phải thảo luận câu hỏi liệu đồng Euro có sụp đổ hay không nữa mà là khi
nào và bao giờ điều đó sẽ xảy ra”.
II-Khả năng thống nhất tiền tệ của khu vực ASEAN
1 Đánh giá về các điều kiện của khối ASEAN
1.1 Khả năng hình thành một thị trường tự do di chuyển các yếu tố:
* Sự tự do lưu thông hàng hoá:
Cho đến nay các nước ASEAN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
những mục tiêu của Hiệp định này là:
Xây dựng một Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) có môi trường đầu tư thông thoáng và
rõ ràng hơn giữa các quốc gia thành viên, nhằm:
i). đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ các nguồn cả trong và ngoài ASEAN;
ii). cùng thúc đẩy ASEAN thành khu vực đầu tư hấp dẫn nhất;
iii). củng cố và tăng cường tính cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế của
ASEAN;
iv). giảm dần hoặc loại bỏ những quy định và điều kiện đầu tư có thể cản trở
các dòng đầu tư và sự hoạt động của các dự án đầu tư trong ASEAN;
v).Đảm bảo rằng việc thực hiện những mục tiêu trên sẽ góp phần hướng tới
tự do luân chuyển đầu tư vào năm 2020.
=>Như vậy :các nước Asean đang tiến tới thực hiện một khu vực thị trường tự do di
chuyển các yếu tố sản xuất nhằm bước đầu tiến tới thống nhất tiền tệ.
1.2 khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của khối:
Ổn định kinh tế vĩ mô là 1 trong những điều kiện quan trọng để hình thành một
liên minh tiền tệ. Môi trường kinh tế vĩ mô tương lai của các nước thành viên càng
ổn định thì các nước càng ít sử dụng đến các chính sách tiền tệ của riêng nước
14
mình để đối phó với các cú sốc. vì thế các nước chỉ cần sử dụng một chính sách tiền
tệ chung và như vậy sẽ dễ dàng tham gia vào một khu vực đồng tiền chung hơn.
Các nước ASEAN hiện đang hợp tác với nhau để hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ
mô của nước mình tiến tới một môi trường kinh tế vĩ mô ổn đinh. Và ở hội nghị cấp
cao ASEAN 14 - CC14 (27/2 – 1/3/2009), các nước ASEAN đã cam kết thúc đẩy hợp
tác và tăng cường phối hợp trong các chính sách kinh tế vĩ mô.
- Bình quân thu nhập theo đầu người của các nước ASEAN chênh lệch khá xa, cao
nhất là Singapore với 38 064$/người & thấp nhất là Myanmar với 465$/người.
Bình quân thu nhập đầu người của nhóm ASEAN 6 là 3 729$/người, cao gấp 4,6 lần
so với các nước CMLV (813$/người).
- về tốc độ tăng trưởng GDP bình quân, nhóm CLMV có mức tăng trưởng GDP là
6% cao hơn so với nhóm ASEAN 6 là 4.2%
– 1998, mục đích tạo ra một cơ chế bao gồm các thỏa thuận hoán đổi song phương
giữa các nước ASEAN và ASEAN + 3, thông qua việc thành lập một quỹ tiền tệ của
khu vực ASEAN có sự tham gia của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Sáng kiến Chiềng Mai gồm hai nội dung chính là:
- Mở rộng Thoả thuận Hoán đổi ASEAN (ASA) cho 10 nước thành viên ASEAN tham
gia
- Thiết lập một mạng lưới các Thoả thuận Hoán đổi Song phương (BSA) và Thoả
thuận mua lại (Repo) giữa các nước ASEAN và ba nước đối tác Nhật bản, Trung
quốc và Hàn quốc.
=>Trọng tâm của Sáng kiến Chiang Mai là thỏa thuận hỗ trợ tài chính giữa 13
nước, mục đích là tăng cường cơ chế hỗ trợ trong khu vực để đối phó với khủng
hoảng tiền tệ. Thỏa thuận này được xây dựng dựa trên Thoả thuận Swap ASEAN
trước đây (ASA), nhằm bổ sung cho cơ chế hợp tác tài chính quốc tế hiện nay và
góp phần ổn định tỷ giá trong khu vực.
Bản thỏa thuận đa phương hóa sáng kiến Chieng mai (CMIM).
28/12/2009 Bản thỏa thuận đa phương hóa Sáng kiến Chieng mai (CMIM) giữa Bộ
trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương ASEAN+3 và cơ quan quản
lý tiền tệ Hong Kong, Trung Quốc được ký kết sau khi đạt được sự thống nhất đối
với tất cả các cấu phần chính của CMIM tại Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3
(AFMM+3) vào tháng 5/2009 tại Bali, Indonesia.
CMIM được thành lập với mục tiêu tăng cường khả năng của khu vực nhằm đối phó
với các rủi ro và biến động ngày càng tăng của kinh tế toàn cầu. Các mục tiêu chính
của CMIM là giải quyết các khó khăn cán cân thanh toán và thanh khoản ngắn hạn
trong khu vực, đồng thời bổ sung các thỏa thuận tài chính quốc tế hiện hành.
Thỏa thuận CMIM, với tổng quy mô là 120 tỷ đôla sẽ cung cấp các hỗ trợ tài chính
thông qua các giao dịch hoán đổi tiền tệ cho các bên tham gia CMIM khi gặp khó
khăn cán cân thanh toán hoặc thanh khoản ngắn hạn. Từng bên tham gia CMIM
theo các quy định và điều khoản trong thỏa thuận sẽ được quyền hoán đổi đồng
16
bản tệ với đồng đôla Mỹ với số tiền được xác định bằng mức đóng góp của nước đó
định
Các vấn đề cơ bản Kiểm điểm (quy mô Quỹ,
mức vốn góp, hệ số vay),
Tái chấp nhận thành viên,
xem xét tư cách thành
viên, các điều khoản cho
vay.
Đồng thuận
Các vấn đề cho vay Quyết định cho vay Biểu quyết theo đa số
Gia hạn khoản vay, đánh
17
giá trường hợp mất khả
năng thanh toán
=>Như vậy có thể thấy những sáng kiến và tiến bộ trên của ASEAN dù còn kiêm tốn
nhưng đã có những đóng góp quan trọng trong nỗ lực ổn định hợp tác của khu vực
để ổn định tài chính, ngăn ngừa và hạn chế tác hại của khủng hoảng, là tiền đề
quan trọng trong việc tiến tới việc kết tỷ giá chặt chẽ hơn trong tương lai.
2.4 Khả năng hình thành một NHTW độc lập với một chính sách tiền tệ và
một đồng tiền thống nhất.
Khi hợp nhất tiền tệ, các nước sẽ cùng nhau thành lập NHTW chung, Ngân
hàng này chịu trách nhiệm đưa ra các biện pháp ổn định tiền tệ chung cũng như
chính sách tiền tệ cho các nước thành viên (như NHTW Châu Âu). Hiện tại các nước
ĐNA chưa có kế hoạch cụ thể về việc thành lập Ngân hàng trung ương chung mặc
dù đã có ý tưởng như việc thành lập Viện tiền tệ Châu Á hay Quĩ tiền tệ Châu á (các
năm 1997 rùi 2000,đến Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 12 (AFMM12)
3-4/4/2008 cũng họp về vấn đề này).
Về đồng tiền chung, hiện các nước ASEAN đang cân nhắc hai khả năng: sử
dụng một đồng tiền bản tệ hoặc hình thành một đồng tiền mới.
Về khả năng lấy một đồng bản tệ trong khu vực làm đồng tiền chung thì
đồng đôla Singapore được có thể được chọn, với lý do nền kinh tế Singapore có khả
Cụ thể, các nước thành viên sẽ được hưởng những lợi ích quan trọng
và căn bản như sau:
- Châu Á sẽ thực sự đi vào con đường hội nhập quốc tế, có giải
pháp cụ thể ứng phó với quá trình toàn cầu hóa kinh tế.
- Thị trường chung châu Á sẽ trở nên thực sự thống nhất và có hiệu
quả hơn.
- Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối.
- Giảm thiểu rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro về tỷ giá hối đoái,
tăng cường sự ổn định tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng
thời khuyến khích đầu tư, kích thích tăng trưởng, thúc đẩy kinh
tế phát triển, tìm lại tốc độ tăng trưởng cao, hạn chế thất
nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới.
3. Những ảnh hưởng của đồng tiền chung ASEAN tới các quốc gia
thành viên
3.1 Ảnh hưởng tích cực
19
Từ những lợi ích mà đồng tiên chung ASEAN có thể mang lại, ta có
thể suy ra được những tác động tích cực nếu ASEAN có một đồng tiên
chung tới các quốc gia thành viên như là:
- Đối với các nước có nhiều giới hạn trong việc thực hiện hiệu quả
chính sách tiền tệ độc lập thì đây là một thuận lợi. Điều này
xuất phát từ thị trường vốn ở các nước này còn nhỏ và Ngân
hàng Trung Ương còn yếu, do đó thành tích trong việc điều
hành chính sách tiền tệ còn chưa cao. Vì vậy, những mất mát về
kinh tế là không lớn đối với các nước này. Mặt khác, việc gia
nhập một Liên minh tiền tệ sẽ giúp các nước này tạo được một
sự ổn định về mặt vĩ mô cho nền kinh tế nhờ vào những nước
mà trước đây đã có được những thành tích tốt trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ trước khi tham gia Liên minh tiền tệ.
- Thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư nội khối, giảm rủi ro gắn
động lại, cũng như tiến trình chuyên môn hóa sản xuất sẽ xảy ra
đối với các quốc gia thành viên.
- Thực tế, mức độ phát triển kinh tế giữa các nước là không đồng đều (về
trình độ công nghiệp hóa, thu nhập, mức sống, dự trữ ngoại tệ, tỉ lệ lạm
phát, vốn đầu tư, trình độ công nghệ,…). Nếu các nước gia nhập Liên
minh thì các nền kinh tế ốm yếu có thể nhanh chóng tạo ra rắc rối cho
những nền kinh tế mạnh hơn như cuộc khủng hoảng khu vực đồng tiền
chung Euro ở Liên minh châu Âu đã minh chứng. Nhưng khoảng cách
giữa Hy Lạp và Đức còn hẹp hơn nhiều so với vực thẳm kinh tế hiện
đang ngăn cách giữa Cam-pu-chia – một trong những quốc gia kém phát
triển nhất thế giới và Singapore – một trong những nước giàu nhất.
- Sự tranh chấp chủ quyền đất liền, vùng biển đảo, đặc biệt là tranh chấp
biển Đông và các cuộc xung đột sắc tộc - tôn giáo, phong trào li khai và
chủ nghĩa khủng bố đang có xu hướng gia tăng cùng với sự bất ổn về
chính trị trong một số nước thành viên cũng sẽ làm cho mâu thuẫn xã
hội thêm sâu sắc, ảnh hưởng trực tiếp đến việc liên minh tiền tệ ASEAN.
21