Quá trình hình thành thị trường Chứng khoán Việt Nam - Pdf 12

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Bộ môn kinh tế trính trị
********
Đề án kinh tế trính trị
đề tài
Quá trình hình thành thị trờng chứng khoán việt nam

Giáo viên hớng dẫn: PGS TS Vũ văn hân
Sinh viên thực hiện: Lê huy hoàn
Khoa : Ngân hàng tài chính
Hà nội 4-2003
2
MụC LụC
A. Phần mở đầu 4
B. Nội dung....................................................................................... ....5
Chơng I: Lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán,cơ sở
lí luận về sự hình thành của thị trờng chứng khoán 5
I: Lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán .....5
1. Những hoạt động giao dịch chứng khoán đầu tiên và thị trờng chứng
khoán bắt đầu hình thành .5
2. Bản chất và cơ cấu của thị trờng chứng khoán trong nền kinh tế hiện
đại ...6
2.1. Bản chất của thị trờng chứng khoán . .6
2.2. Cơ cấu của thị trờng chứng khoán . 7
II. Cơ sở lí luận về sự hình thành thị trờng chứng khoán 9
1.Nuyên nhân khách quan của sự hình thành thị trờng chứng khoán .9
2. Những điều kiện cần thiết cho sự hình thành thị trờng chứng khoán 10
2.1. Yếu tố con ngời ....10
2.2. Điều kiện vật chất ....10
2.3. Điều kiện lu thông tiền tệ ổn định . ...11
2.4 Cơ sở pháp lí .11

4
A. Phần mở đầu.
Con ngời có thể tồn tại đợc là nhờ vào hoạt động sản xuất của mình.
Sản xuất tạo ra của cải cho xã hội và nuôi sống xã hội. Hoạt động kinh tế là
hoạt động sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất. Khi nền kinh tế càng phát
triển tức là quá trình sản xuất càng đợc mở rộng, phát triển thì nó không chỉ
sản xuất ra của cải cho hiện tại mà còn đáp ứng cho cả tơng lai. Vì vậy đòi
hỏi cần có quá trình tái sản xuất mở rộng. Để có thể tăng sản lợng đầu ra
thì tất yếu phải tăng các nguồn lực đầu vào theo những tỉ lệ nhất định.
Những đầu vào đó có thể là vật chất nh nguyên, nhiên vật liệu nhng cũng
có thể là trình độ khoa học kĩ thuật mà tất cả đều đợc biểu hiện thông qua
việc tăng vốn đầu t và yêu cầu của qúa trình này là cần một khối lợng vốn
đầu t rất lớn. Chính vì vậy cần có sự huy động vốn lớn từ các khu vực cho
hoạt động sản xuất.
Vốn là nguồn lực sản xuất vì vậy đòi hỏi phải có thị trờng giành cho nó
và do đó thị trờng chứng khoán tất yếu đã hình thành. Đó là nơi diễn ra quá
trình trao đổi, luân chuyển vốn đầu t.
Khi thị trờng chứng khoán phát triển thì quá trình trao đổi vốn đầu t nói
chung và các loại tài sản tài chính nh cổ phiếu, trái phiếu nói riêng sẽ đ ợc
diễn ra một cách thuận lợi và có hiệu quả, việc này lại càng thúc đẩy quá
trình sản xuất phát triển.
Thị trờng chứng khoán ra đời từ rất sớm cùng với sự ra đời với các thị
trờng khác. Nó là công cụ tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển và đặc biệt
trong nền kinh tế thị trờng hiện đại ngày nay thì thị trờng chứng khoán đã
trở thành một yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế, nó ra đời và tồn tại
cùng với nền kinh tế thị trờng.Thông qua thị trờng chứng khoán, tình hình
hoạt động của nền kinh tế đợc phản ánh một cách trung thực và rõ nét, từ
đó giúp cho các chính phủ các quốc gia có những chính sách kinh tế xã hội
phù hợp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thị trờng chứng khoán là công cụ
giúp cho các chính sách kinh tế của nhà nớc có hiệu quả, mà hiệu quả nhất

B. Nội dung:
Chơng I: Lịch sử hình thành và phát triển thị trờng
chứng khoán,Cơ sở lí luận về sự hình thành thị trờng
chứng khoán.
I. lịch sử hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán.
1. Những hoạt động giao dịch chứng khoán đầu tiên và thị trờng chứng
khoán bắt đầu hình thành.
Vào khoảng giữa thế kỉ 15 ở thành phố trung tâm buôn bán ở phơng
tây, các thơng gia thờng tụ tập ở những quán cà phê để thơng lợng việc mua
bán, trao đổi các loại hàng hoá nh: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá
khoán động sản Điểm đặc biệt là trong những cuộc th ơng lợng này các
thơng gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại
tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc thơng
lợng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng mua bán, trao đổi thực
hiện ngay, kể cả những hợp đồng cho tơng lai 3 tháng, 6 tháng hoặc năm
sau mới thực hiện.
Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số ngời
tăng lên. Đến cuối thế kỉ 15 khu chợ riêng này trở thành một thị trờng và
thời gian họp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày. Trong các
phiên họp chợ này họ thống nhất với nhau những quy ớc cho các cuộc th-
6
ơng lợng. Dần dần những quy ớc đó đợc tu bổ hoàn chỉnh thành các quy tắc
có giá trị bắy buộc đối với những ngời tham gia. Từ đó thị trờng chứng
khoán bắt đầu hình thành.
Buổi họp chợ đầu tiên của giai đoạn này xảy ra năm 1453 trong một lữ
quán của gia đình vanber tại bruges (bỉ). Trớc lữ quán này có một bảng
hiệu vẽ hình ba túi gia với một từ tiếng pháp " bourse", tức là "mậu dịch tr-
ờng" hay còn gọi là "sở giao dịch".
Mậu dịch trờng là một bảng hiệu chung, ba túi gia tợng trng cho ba nội
dung của mậu dịch trờng: mậu dịch trờng hàng hoá, mậu dịch trờng ngoại

phiếu và trái phiếu cũng chính là hai dạng của chứng khoán. Chứng khoán
nghĩa là bằng cứ, giấy trắng mực đen về quyền sở hữu.
Quá trình phát triển kinh tế xã hội đã dần dần làm biến đổi các khái
niệm và các yếu tố của nền kinh tế, có khái niệm cũ mất đi, có khái niệm
mới ra đời, có khái niệm giữ nguyên đợc hình thức cũ nhng nội dung của
nó đã bao hàm nhiều cái mới hoặc chỉ đợc biểu hiện trong những khoảng
không gian và thời gian nhất định.Thị trờng chứng khoán là một trong
những khái niệm nh vậy.
Ngày nay ở các nớc có nền kinh tế phát triển, thị trờng chứng khoán đ-
ợc quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán
trung và dài hạn. Việc mua bán này đợc diễn ra ở thị trờng sơ cấp khi ngời
mua mua đợc chứng khoán lần đầu từ những ngời phát hành chứng khoán
và ở thị trờng thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đợc phát
hành từ thị trờng sơ cấp. Xét về mặt hình thức, các hoạt động mua bán trao
đổi chuyển nhợng các chứng khoán chỉ là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ
chứng khoán, còn xét về thực chất đây chính là quá trình vận động t bản ở
hình thái tiền tệ, tức là quá trình chuyển t bản sở hữu sang t bản kinh
doanh. Các quan hệ mua bán chứng khoán trên thị trờng chứng khoán phản
ánh sự thay đổi các chủ thể sở hữu về chứng khoán. Chủ thể tham gia thị tr-
ờng chứng khoán với t cách là ngời bỏ vốn đầu t, anh ta là chủ sở hữu t
bản, còn khi tham gia với t cách là ngời sử dụng vốn đầu t, anh ta thực hiện
chức năng t bản kinh doanh. Do đó, thị trờng chứng khoán xét về bản chất
không phải chỉ phản ánh các quan hệ trao đổi mua bán một số lợng nhất
định các t liệu sản xuất và các khoản vốn bằng tiền, mà là các quyền sở hữu
t liệu sản xuất và vốn bằng tiền. Nói cách khác, thị trờng chứng khoán là
nơi mua bán quyền sở hữu về t bản. T bản hiện nay đợc lu thông nh một
hàng hoá thông thờng có giá trị và giá trị sử dụng. Thị trờng chứng khoán là
là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá.
2.2. cơ cấu của thị trờng chứng khoán .
a. Theo phơng diện pháp lí, thị trờng chứng khoán đợc chia thành hai

thị trờng thứ cấp là thị trờng mua đi bán lại các chứng khoán đã đợc phát
hành ở thị trờng sơ cấp.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp
không phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung,
về mục đích của từng loại thi trờng. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái
phiếu ở thị trờng sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu t cho quá trình
phát triển kinh tế. Còn ở thị trờng thứ cấp, dù việc giao dịch diẽn ra rất
nhộn nhịp, có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng
khoán đợc mua đi bán lại, nhng không làm tăng thêm quy mô vốn đầu t.
Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể này
sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán.
Thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp gộp lại đợc gọi là thị trờng chứng
khoán. Hai thị trờng này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau đợc ví nh hai
bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trờng sơ cấp là cơ sở, là tền đề. Thị
trờng thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trờng sơ cấp thì sẽ chẳng có
chứng khoán để lu thông trên thị trờng thứ cấp, và ngợc lại, nếu không có
thị trờng thứ cấp thì việc chuyển đổi chứng khoán thành tiền sẽ rất khó
9
khăn, khiến cho nhà đầu t sẽ dè dặt khi mua chứng khoán. Do đó thị trờng
sơ cấp sẽ bị thu nhỏ, hạn chế khả năng huy động vốn cho nền kinh tế.
Việc phân biệt thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp chỉ có ý nghĩa về
mặt lí thuyết. Trong thực tế, tổ chức thị trờng chứng khoán không có sự
phân biệt đâu là thị trờng sơ cấp, đâu là thị trờng thứ cấp. Nghĩa là trong
một thị trờng chứng khoán vừa có giao dịch của thị trờng sơ cấp, vừa có
giao dịch của thị trờng thứ cấp, vừa có hoạt động phát hành chứng khoán
mới, vừa có hoạt động mua bán chứng khoán đã phát hành.
c. Nếu căn cứ phơng thức giao dịch, thị trờng chứng khoán đợc chia
thành thị trờng giao dịch ngay, thị trờng tơng lai. Nếu căn cứ vào các đặc
điểm các loại chứng khoán thì thị trờng chứng khoán có thể chia thành thị
trờng cổ phiếu, thị trờng trái phiếu, thị trờng công cụ có nguồn gốc chứng

chứng khoán nhà nớc, các trái phiếu của các pháp nhân, thể nhân có khả
năng thanh toán và đòi hỏi sự giao lu, chuyển đổi từ chủ sở hữu này sang
chủ sở hữu khác.
- Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng cao, làm cho các quan hệ thị
trờng nội địa nhanh chóng thay đổi theo xu hớng phát triển của thị trờng
thế giới.
Những lí do cơ bản nói trên đã dẫn đến sự xuất hiện thị trờng chứng
khoán nh một hiện tợng kinh tế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
2. Những điều kiện cần thiết cho sự hình thành thị trờng chứng
khoán.
Để có thể xây dựng một thị trờng chứng khoán đòi hỏi khách quan phải
xây dựng những yếu tố nền tảng cho nó là cơ sở cho thị trờng chứng khoán
hình thành và hoạt động. Theo kinh nghiệm của một số nớc đã có thị trờng
chứng khoán phát triển sớm thì để có một thị trờng chứng khoán cần có
năm điều kiện sau:
2.1. Yếu tố con ngời.
Yếu tố con ngời là vấn đề cần phải quan tâm, nhân tố quyết định tính
thực thi của thị trờng chứng khoán, yếu tố này bao gồm:
- Các đối tợng tác nghiệp trên thị trờng chứng khoán.
- Các đối tợng tham gia quản lí nhà nớc đối với hoạt động của thị trờng.
- Các chuyên gia chứng khoán.
Các chủ thể này nói chung phải am hiểu về thị trờng chứng khoán, có một
trình độ chuyên môn nghiệp vụ kinh nghiệm nhất định. Do đó phải có ch-
ơng trình đào tạo nâng cao trình độ cho họ để có khả năng quản lí thị trờng
chứng khoán. Về lâu dài cần phải đa chơng trình thị trờng chứng khoán
vào trong các trờng đại học, cao đẳng, trung học kinh tế tài chính ngân
hàng.
2.2 Điều kiện vật chất.
Đó là nền kinh tế hàng hoá và quan hệ thị trờng phát triển.

Hệ thống pháp lí là cơ sở đảm bảo cho thị trờng chứng khoán hoạt
động có trật tự, có quy tắc ổn định và đạt hiệu quả. Cơ sở pháp lí bao gồm
hệ thống pháp luật và quy chế cần thiết cho hoạt động của thị trờng chứng
khoán.
Nếu xét về nội dung cần đề cập đến ba vấn đề chủ yếu sau:
- Pháp luật đảm bảo sự quản lí của nhà nớc đối với việc hình thành, tổ chức
và hoạt động của thị trờng chứng khoán.
-Pháp luật xác lập quy chế quản lí của các chủ thể khác nhau tham gia các
quan hệ thị trờng chứng khoán và cơ quan pháp chế pháp lí bảo vệ những
quyền và lợi ích hợp pháp, tính độc lập và sự bình đẳng của các chủ thể đó.
- Pháp luật điều chỉnh các chức năng, các hình thức và các hoạt động của
thị trờng chứng khoán trong mỗi thời kì nhất định của sự phát triển nền
kinh tế.
2.5 Điều kiện kĩ thuật.
Đó là cơ sở máy móc thiết bị, phơng tiện thông tin, tính toán, văn
phòng giao dịch cần thiết cho việc thành lập, vận hành hệ thống thông tin
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status