Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo doanh nghiệp công nghệ - Pdf 13


Bộ Khoa học và công nghệ
viện chiến lợc và chính sách khoa học và công nghệ
______________________________________ báo cáo tổNG HợP
Đề tài cơ sở:
Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của
tổ chức ơm tạo doanh nghiệp công nghệ
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Minh Nga
1.5.7 Tổ chức mạng lưới cộng tác 17
CHƯƠ
NG II. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI 18
2.1 VƯDNCN Hàn Quốc 18
2.1.1 Khái niệm về VƯDN ở Hàn Quốc 18
2.1.2 Các loại hình VƯDN 19
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của mô hình VƯDNCN 20
2.1.4 Vai trò và sự cần thiết thành lập VƯDNCN 21
2.1.5 Tác động của VƯDNCN 22
2.1.6 Chính sách đối với VƯDNCN 23
2.2 Vườn ươm DNCN Hoa Kỳ 25
2.2.1 Tổng quan VƯDNCN 25
2.2.2 Đánh giá hiệu quả của VƯDNCN 26
2.2.3 Đặc trưng được rút ra từ các bài học thực tiễ
n tốt nhất của VƯDNCN 27
2.2.4 Các vấn đề liên quan đến chính sách 29
2.3 Nhận xét từ kinh nghiệm nước ngoài 29
CHƯƠNG III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆT NAM VỀ VƯDNCN 31
3.1 Những nỗ lực nhà nước trên phương diện pháp lý 31
3.2 Tổng quan thực trạng về VƯDN ở Việt Nam 33
3.3 Nghiên cứu trường hợp 39
3.3.1 VƯDNCN của Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn quản lý (CRC) 39
3.3.2 VƯDNCNC trong khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh 45
3.4 Nhận xét 49
KẾT LUẬ
N VÀ KHUYẾN NGHỊ 52
4.1 Khuyến nghị một số biện pháp chính sách phát triển VƯDNCN 52
4.1.1 Hỗ trợ các hoạt động của VƯDNCN trong thời hạn nhất định 52
4.1.2 VƯDNCN hoạt động trên cơ sở hạch toán thu chi với sự hỗ trợ của nhà nước 53
4.1.3 VƯ hoạt động độc lập trong quan hệ với các cơ quan chính phủ 54

công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng dưới các khía cạnh khác và chưa đề cập đến
hình thức tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo DNCN. Chính vì những lý do trên, đề
tài “Nghiên cứu một số mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức ươm tạo DNCN” đã
được tiến hành nghiên cứu.
Ngoài chủ nhiệm đề tài, đề tài được hoàn thành với sự cộng tác và giúp đỡ đặc biệt của các
đồng nghiệp trong Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, đặc biệt là các đồng nghi
ệp
trong Ban Chính sách Khoa học (nay là Ban Chính sách nhân lực và Hệ thống tổ chức
KH&CN).

2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về vườn ươm DNCN
Mặc dù khái niệm về vườn ươm DNCN (VƯDNCN) đã được áp dụng hầu như ở tất cả các
nước trên thế giới, nhưng đối với nước ta, VƯDNCN còn là một khái niệm tương đối mới.
Các khái niệm về ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, VƯDN hay VƯDNCN còn
mới mẻ và gây ra không ít những hiểu biết nhầm lẫn giữa các khái niệm này (Bộ KHCN,
2005a). Dưới
đây xin nêu một số khái niệm được dùng phổ biến trên thế giới và các nước
đang phát triển về các hoạt động này.
Ươm tạo công nghệ (technology incubation) là quá trình nghiên cứu khoa học nhằm (i)
thích nghi và làm chủ công nghệ tiên tiến ngoại nhập; (ii) đổi mới, cải tiến công nghệ theo
hướng hiện đại hoá (technology innovation) làm tăng năng suất, giảm giá thành, tăng
cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (iii) sáng tạo công nghệ (new and advanced
technologies/ inventions).
Ươ
m tạo doanh nghiệp (business incubation) là quá trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp
trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro, khắc phục
những thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý, mạng lưới liên kết, tiếp cận
thị trường…, nâng cao khả năng tồn tại (survival rate) và sự phát triển ổn định của doanh

dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp theo yêu cầu riêng của các doanh nghiệp khách hàng; có một
giám đốc v
ườn ươm tại chỗ điều phối các nhân viên, các chuyên gia bên ngoài và các tổ
chức để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; giúp các doanh nghiệp trưởng thành
một khi các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của chương trình (mặc dù không vượt ra
ngoài các phương tiện và trang thiết bị của chương trình) (Ca, T.N. 2006).
Cũng giống như khái niệm ươm tạo, khái niệm VƯDN, VƯDNCN, VƯCN, VƯCNC là
những khái niệm cần làm rõ.
Vườ
n ươm DN (business incubator) là nơi cung cấp cơ sở vật chất, diện tích làm việc đa
dạng và cung cấp các hình thức tư vấn, dịch vụ hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng sự phát triển các
doanh nghiệp khởi sự với mục đích tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế địa phương.
Vườn ươm DNCN (technology business incubator) là một dạng của VƯDN tập trung vào
ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên công nghệ
(technology based enterprise).
VƯCN (technology incubator) là một dạng đặc biệt của VƯDN tập trung vào ươm tạo các
doanh nghiệp dựa trên một lĩnh vực công nghệ.
Vườn ươm DNCNC (high technology business incubator) là một dạng đặc biệt của VƯCN
tập trung vào ươm tạo các doanh nghiệp dựa trên lĩnh vực công nghệ cao (hi-tech or new
and advanced technology).
Î Như vậy, cả ba loại vườn ươm sau đều là một dạng đặc biệt của VƯDN và chúng đề
u
dựa vào công nghệ. Do vậy, trong đề tài sẽ gộp cả ba loại thành một và gọi chung là
VƯDNCN.

4
1.2 Phân biệt VƯDNCN với các loại vườn ươm khác
Nghiên cứu của Phillips, R.G. (2002) đã xác định ít nhất có ba vấn đề khác nhau giữa
VƯDNCN với những vườn ươm khác. Thứ nhất, VƯDNCN tập trung vào các doanh
nghiệp dựa vào công nghệ. Hầu hết các VƯDN nói chung hy vọng làm gia tăng tỷ lệ hình

Nghiên cứu của Trung, V. Đ. (2006) cũng chỉ ra một số đi
ểm khác biệt giữa VƯDNCN với
các VƯDN thông thường như sau:

5
- Có mối liên kết chặt chẽ với các đối tác chiến lược trong hoạt động, đặc biệt có sự
cam kết bảo trợ, hợp tác mạnh của các trường đại học, viện nghiên cứu KH&CN.
- Thành lập trong trường đại học kỹ thuật, trung tâm công nghệ, khu công nghệ cao
hoặc nơi gần nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật.
- Được giám sát, điều hành bở
i các chuyên gia có kinh nghiệm phát triển DNCN.
- Thường cung cấp các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật và các thiết bị chuyên dùng,
phòng thí nghiệm.
Qua các nghiên cứu ở trên cho thấy không có sự khác biệt về các quan điểm khi đề cập đến
VƯDNCN. Tóm lại, VƯDNCN có một số đặc điểm không thể trộn lẫn so với các VƯDN
thông thường.
1.3 Vai trò của VƯDNCN
1.3.1 VƯDNCN - cơ chế chuyển giao công nghệ
VƯDNCN có thể được xem như một môi trường chuyển giao kết quả nghiên cứu từ khu
vực nghiên cứu hàn lâm hoặc sử dụng tri thức nhận được trong môi trường hàn lâm đến thị
trường. Do đó, chuyển giao công nghệ (CGCN) được tiến hành thông qua:
• Chuyển giao trực tiếp tri thức và/ hoặc công nghệ xuất phát từ khu vực nghiên cứu;
• Các mối quan hệ thường xuyên với các tổ chức nghiên cứu đặc biệt – quan hệ được
thiết lập giữa các tổ chức cho phép sự truyền bá thông tin, tri thức và di chuyển cán bộ;
• Các quan hệ không thường xuyên với một hoặc một loạt các tổ chức.
Như vậy, việc tạo ra cầu nối giữa hai môi trường hàn lâm và công nghiệp cho phép thúc
đẩy hơn nữa sự truyền bá thông tin hoặc tri thức công nghệ, đồng thời nó cũng cho phép sự
điều chỉnh nhất định: các doanh nghi
ệp có thể xác định tốt hơn nhu cầu của họ và do đó
đầu vào của các doanh nghiệp thoả đáng hơn; bên cạnh đó các tổ chức nghiên cứu cũng thu

công viên KH&CN. Vườn ươm là một phần của tiến trình thống nhất để hỗ trợ các doanh
nghiệp trong đó thương mại hoá các thành quả R&D có nguồn gốc từ công viên. Ở Đức,
73% trung tâm ươm tạo DNCN được thiết lập bên cạnh các trường đạ
i học hoặc các viện
nghiên cứu khác.
VƯDNCN còn do các cơ quan nhà nước thành lập với sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở
KH&CN có định hướng trọng tâm vào thương mại hoá các công nghệ gần gũi với thị
trường. Ví dụ, Trung tâm công nghệ ứng dụng của đại học SanDiego – California – là một
tổ chức do chính quyền thành lập dựa trên mối liên kết với các phòng thí nghiệm quốc gia,
chuyên cung cấp cho DNV&N các d
ịch vụ tạo điều kiện thuận lợi để khởi sự cũng như
những lợi ích mang tính bổ trợ cho các doanh nghiệp và doanh nhân. Các phòng thí nghiệm
quốc gia, như các phòng thí nghiệm của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ - NASA – cũng
đang xây dựng vườn ươm riêng của mình và thiết lập các quan hệ hợp tác với các vườn
ươm đang tồn tại như là một biện pháp để đẩy nhanh tốc độ
phổ biến các công nghệ mới.
Tại Anh, khu nhiên liệu hạt nhân Anh trong công viên công nghệ (không thuộc trường đại

7
học) đã thu hút được một số lớn DNV&N công nghệ cao và sự hỗ trợ của các nhà tư vấn.
Hoàn toàn không phải là một tầm nhìn ngắn hạn trong R&D, các VƯDNCN cũng được coi
là một công cụ để hỗ trợ các DNCN nhỏ đang hoạt động có thể tiếp cận tới các công nghệ
và trang thiết bị hiện đại mà bản thân họ không có khả năng hoặc sẽ phải mất quá nhiề
u
thời gian và chi phí để tự phát triển.
Các quốc gia công nghiệp mới hoặc đang chuyển đổi như Mehico, cộng hoà Séc, Hungary,
Ba Lan và Nga cũng đã phát triển các chương trình ươm tạo doanh nghiệp, chủ yếu tập
trung vào các DNCN mới thành lập. Đến những năm 1990 thì Hàn Quốc cũng bắt đầu hình
thành một số vườn ươm để thúc đẩy tạo lập và phát triển các DNV&N. Vào năm 1994, Hàn
Quốc có 5 Trung tâm đổi mới công nghệ - một hình th

cơ sở các mục tiêu phát triển kinh tế ở quy mô vùng, khuyến khích tạo công ăn việc làm và
kết cấu lại khu vực sản xuất công nghiệp. Gần đây, VƯDN đã được xem như là một phần
trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho các đối tượng lao động.
Về phía các VƯDNCN, việc hình thành hình thức vườn ươm này xuất phát từ những thất
bại trên thị trường hoặc là t
ừ các thể chế gây trở ngại cho việc thương mại hoá và phổ biến
công nghệ của các doanh nghiệp khởi sự. Mức độ rủi ro cao hơn gắn với hoạt động R&D
thường làm gia tăng những nguy cơ vốn dĩ đã gắn liền với giai đoạn khởi sự của doanh
nghiệp. Các dịch vụ ươm tạo công nghệ sẽ giúp giảm nhẹ những rủi ro này, nh
ư vậy sẽ góp
phần nâng cao khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sau khi cân nhắc kỹ tỷ lệ
tồn tại của các DNCN cho thấy rằng các DNCN thực sự ít phải chịu rủi ro. Ngoài ra,
VƯDNCN cũng thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ DNCN như biện pháp làm tăng doanh
thu từ các khoản chi cho R&D của Nhà nước bằng cách hỗ trợ việc thương mại hoá và phổ
biến công ngh
ệ.
1.3.4 VƯDNCN - công cụ chính sách
Lý do cơ bản khiến nhà nước cần phải hỗ trợ cho các VƯDN nói chung là tình trạng thất
bại trên thương trường của nhiều DNV&N đã dẫn đến hiện tượng nản chí trong việc thành
lập doanh nghiệp mới của nhiều doanh nhân. Các chủ DNV&N phải đối mặt với nhiều trở
ngại khi bắt đầu khởi sự doanh nghiệp, mà những trở ngại chính xuất phát từ yêu cầu phải
đầ
u tư cho các tài sản cố định và chi phí thâm nhập thị trường cao trong khi doanh nghiệp
lại thiếu cơ hội tiếp cận tới các nguồn tài trợ từ các định chế tài chính một cách bình đẳng
trong cùng một môi trường với các doanh nghiệp lớn, thiếu thông tin thị trường, thiếu năng
lực xử lý các vấn đề đòi hỏi kỹ thuật cao, điều quan trọng hơn là trình độ quản lý doanh
nghiệp còn yếu kém.
Trong nhiều trường hợp, những mục tiêu của VƯDNCN phản ánh nội dung chính sách của
chính phủ, trong đó những tổ chức này hoạt động ở cấp địa phương, cấp vùng và quốc gia.
Tại Anh, mục tiêu phát triển các công viên khoa học là nhằm cung cấp các dịch vụ ươm

nơi mà các doanh nghiệp đã bị suy thoái và hoạt động đình trệ. Với các BIC, chính phủ
trung ương cũng như chính quyền địa phương và vùng đã hỗ trợ trực tiế
p hoặc gián tiếp
cho các VƯDNCN.
Ở Đức, các VƯDNCN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hợp tác giữa
các tổ chức tư nhân và nhà nước ở địa phương nhằm phát triển kinh tế của vùng.
VƯDNCN cũng có một mục tiêu điển hình đối với chính phủ các bang là nó chứng tỏ
những nỗ lực của họ trong việc phát triển kinh tế vùng và tạo công ăn việc làm. Đi
ều này
rất quan trọng khi mà Chính phủ các nước không có khả năng tài trợ lâu dài cho nhiều
ngành công nghiệp đã sa sút và xu thế toàn cầu hoá cho thấy rằng các biện pháp hỗ trợ trực
tiếp sẽ không có hiệu quả bởi cách làm như vậy.
Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế nói chung, các vườn ươm là công cụ của chính sách để
đối phó lại những thách thức kinh tế đặc thù. Tại Nhật Bản, các chính sách phát triển vùng
biểu hiện trong hoạt
động hỗ trợ của vườn ươm và các sáng kiến có liên quan được dẫn dắt
bởi ý đồ tập trung các nguồn lực tri thức và công nghiệp xung quanh các khu đô thị lớn. Ở

10
Đức, mạng lưới các trung tâm ươm tạo DNCN (ADT) đã nhanh chóng trở thành một công
cụ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ở các bang miền Đông và điều này có ích cho quá trình
tái thống nhất nước Đức. Ngoài ra, các vườn ươm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng kết cấu hạ tầng, cả trên khía cạnh vật chất lẫn phi vật chất. Tại Ý, các trung tâm
đổi mới nhằm vào khu vực các ngành công nghiệp không phát triển theo cụm doanh nghiệp
và những nơi có cơ sở hạ tầng yếu kém gây cản trở đến sự phát triển những DNV&N.
1.4.2 Thương mại hoá công nghệ
Trường đại học là nơi có nhiều ý tưởng công nghệ cần được thương mại hoá, vì vậy
VƯDNCN trong trường đại học hoặc liên kết với trường đại học có thể thực hiện được việc
thương mại hoá công nghệ. Trên thực tế cho thấy có sự đa dạng trong các mối liên kết giữa
VƯDNCN với trường đại học. Các kết quả nghiên cứu của các trườ

DNV&N không chỉ từ các trường đại học mà còn cả từ các trung tâm nghiên cứu ứng dụng.
1.4.3 Khuyến khích tinh thần kinh thương
Khuyến khích tinh thần kinh thương thông qua vườn ươm là một mục tiêu khác mà nhà
nước đặt ra và hỗ trợ. Một trong những mục tiêu chính của những VƯDNCN ở miền Đông
nước Đức cũng như ở Nga và các nước Đông Âu khác là phát triển tinh thần kinh thương
và tạo ra các DNV&N trong các nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Tinh
thần kinh thương ngày càng được nhận thức như là một yếu tố quan trọng trong quá trình
đổi m
ới và để tạo ra các DNCN. Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể tạo các chi nhánh,
ví dụ ở Mỹ, sự phát triển của những DNCN mới gắn liền với sự tăng lên của các hoạt động
kinh doanh độc lập của các doanh nhân. Tuy nhiên, số các doanh nhân mới này không phải
hoàn toàn là các nhà nghiên cứu và phát triển công nghệ hay những cá nhân có trình độ
KH&CN cao đứng ra sáng lập các DNCN. Mặc dù vậy, nhìn chung thì nhiều bằng chứng
cho thấy tỷ lệ những người sáng lập có học v
ị khoa học cao đang tăng lên trong những năm
gần đây.
Các VƯDNCN, đặc biệt các VƯDNCN đặt tại các trường đại học có thể hoạt động như là
một phòng thí nghiệm để thương mại hoá các ý tưởng xuất phát từ nghiên cứu và cung cấp
dịch vụ đào tạo cho các doanh nhân. Ngoài ra, thông qua việc thiết lập mạng lưới tài trợ
cho doanh nghiệp ươm tạo, bao gồm các tổ chức đầu t
ư và các nhà đầu tư, các vườn ươm
có thể củng cố mối liên kết giữa khu vực tài chính và các chủ doanh nghiệp.
1.5 Các chức năng dịch vụ của VƯDNCN
1.5.1 Bản chất của việc tổ chức các dịch vụ ươm tạo công nghệ
Khác với các VƯDN và vườn ươm hỗn hợp nói chung, những VƯDNCN chỉ cung cấp
những dịch vụ đặc thù và có giá trị giá tăng cao. Trong khi chỉ có một số ít vườn ươm đủ
mạnh để cung cấp toàn diện các dịch vụ, thì hầu hết các vườn ươm phải được tài trợ hoặc
dựa trên việc liên kết với các nguồn lực tư nhân và nhà nước sẵn có. Địa điểm cũ
ng là một
vấn đề cho các doanh nghiệp làm dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, các VƯDNCN vẫn bị

- Các dịch vụ tư vấn pháp luật,
- Thiết lập mạng lưới cộng tác (networking).
Các VƯDNCN có xu hướng hỗ trợ mạnh hơn các VƯDN nói chung trong việc tìm ki
ếm
nguồn tài trợ, các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề tiếp thị.
1.5.2 Dịch vụ cơ sở hạ tầng
Bên cạnh dịch vụ hành chính và cho thuê văn phòng, các VƯDNCN phải có khả năng cho
người thuê vườn ươm tiếp cận tới các phương tiện đặc thù như các phòng thí nghiệm và
các thiết bị kiểm nghiệm. Trong khi một số vườn ươm có các phòng thí nghiệm quy mô lớn
với đầy đủ thiết bị tại chỗ, thì nhiều vườn ươm chỉ có các hoạt động ươm công nghệ và
thường không đáp ứng đủ các nhu c
ầu khác đối với doanh nghiệp trong vườn ươm.
Ngày càng có nhiều VƯDNCN nhỏ nhưng có khả năng cung ứng dịch vụ của vườn ươm lại
lớn nhờ vào khả năng sử dụng các phòng thí nghiệm và các thiết bị thử nghiệm được tiến

13
hành thông qua hợp doanh/hợp đồng với các trường đại học, các cơ quan CGCN, hoặc là
thuê mua thiết bị. Với các vườn ươm nằm trong các công viên KH&CN, cơ sở hạ tầng
thường được công viên cung cấp hoặc có thể được cung cấp thông qua các quan hệ liên kết
với các trường đại học chủ quản hoặc các cơ quan bên ngoài (như các phòng thí nghiệm,
các trung tâm nghiên cứu quốc gia). Công viên KH&CN Laval của Canada đã khai trương
một vườn ươm có tên gọ
i là Trung tâm đổi mới công nghệ sinh học Quebec. Các doanh
nghiệp được ươm tạo có khả năng tiếp cận các cơ sở của công viên như các phòng thí
nghiệm, khu sản xuất thử nghiệm và tiếp cận với các chi nhánh nghiên cứu của các doanh
nghiệp dược phẩm lớn đặt trong công viên.
1.5.3 Hỗ trợ công tác quản lý doanh nghiệp
Chủ sở hữu của DNCN luôn đòi hỏi các bí quyết (know-how) của doanh nghiệp phải được
phát triển và thương mại hoá thành những sản phẩm mang tính đổi mới cao. Sự hỗ trợ công
tác quản lý của các VƯDNCN bắt đầu bằng việc đánh giá và lựa chọn các khách hàng đến

trường đại học sẽ xác định các chính sách và mục tiêu phát triển vườn ươm, lựa chọn và
thuê nhà quản lý cho vườn
ươm và các quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài. Đối với
các doanh nghiệp thuê vườn ươm, vì do các doanh nghiệp này đều là DNV&N nên không
có Hội đồng quản trị. Ban cố vấn của vườn ươm sẽ bù đắp vai trò này bằng các hoạt động
giống như bộ phận giám sát và hướng dẫn về kế hoạch và quản lý kinh doanh của doanh
nghiệp. Các ban cố vấn đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập các mạng lướ
i đang
phát triển, qua đó giúp doanh nghiệp thuê vườn ươm tiếp cận một cách thuận lợi tới các
nguồn thông tin, công nghệ và tài chính. Trong nhiều trường hợp, các nhà tư bản mạo hiểm
hoặc những người bảo trợ doanh nghiệp với tư cách cá nhân sẽ cùng tham gia vào ban tư
vấn/cố vấn để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tăng nguồn tài trợ bằng vốn cổ phần.
Giống như
Ban cố vấn, các nhà quản lý năng động và lành nghề sẽ có vai trò quan trọng
trong sự thành công của các vườn ươm và doanh nghiệp được ươm tạo. Các nhà quản lý
vườn ươm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lựa chọn doanh nghiệp được ươm tạo
và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Tại Anh, một nghiên cứu về các nhà quản lý công viên
khoa học cho thấy các doanh nghiệp thuê vườn ươm tỏ thái độ hài lòng về các nhà quản lý,
những người rất năng động trong các công tác thường ngày, mặc dù chức năng của các nhà
quản lý có xu hướng tập trung vào các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu hơn là về thông
tin kinh doanh hoặc về các mối quan hệ với các tổ chức giáo dục bậc đại học (Westhead và
Storey, 1994). Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới cộng tác và hỗ trợ tham vấn, các nhà quản
lý của vườn ươm có thể giúp đỡ các doanh nghi
ệp thuê vườn ươm tuyển dụng đội ngũ nhân
viên có trình độ.
1.5.4 Trợ giúp kỹ thuật
Một trong các mục tiêu chủ chốt của các VƯDNCN là đẩy nhanh tốc độ chuyển giao và
truyền bá các bí quyết công nghệ. Kinh nghiệm từ các vườn ươm tại Đại học Maryland và
Viện nghiên cứu công nghệ Georgia (Mỹ) cho thấy một môi trường CGCN phù hợp là cần
thiết cho các doanh nghiệp trong vườn ươm để có thể tiếp thu và ứng dụng công nghệ cho

Quỹ Scot ở Anh. Việc tiếp cận được với quỹ đầu tư mạo hiểm là dấu hiện thông th
ường
của một doanh nghiệp khởi sự từ vườn ươm. Chùm doanh nghiệp phần mềm (software
business cluster) là một vườn ươm kết hợp giữa tư nhân và nhà nước ở Silicon Valley được
dành riêng để ươm tạo các doanh nghiệp phần mềm có tiềm năng lớn đã hỗ trợ 5 triệu USD
vốn mạo hiểm cho 2 trong số 15 doanh nghiệp thuê vườn ươm của mình (SJBC, 1997).
Ở Tây Ban Nha và Ý, một công cụ khác cho phép tạo điề
u kiện thuận lợi trong việc tìm
kiếm được nguồn tài trợ là các khoản tín dụng tương hỗ có bảo đảm dựa trên những cam
kết bảo lãnh thanh toán nợ cho các thành viên của các tập đoàn doanh nghiệp. Đối với các
VƯDNCN liên kết với trường đại học, việc cấp vốn có điều kiện về đặc quyền đối với
thành quả đổi mới sản phẩm công nghệ t
ương lai là một phương thức giúp cho các DNCN
đang trong giai đoạn khởi sự được hùn vốn cổ phần. Bản thân vườn ươm cũng có thể cấp
vốn cổ phần cho các doanh nghiệp trong vườn ươm nếu thấy các doanh nghiệp này có khả
năng tạo ra được lợi nhuận tương lai cho vườn ươm cũng như cho sự tăng trưởng của chính

16
mình. Ví dụ VƯDNCN Arizona đã thành lập riêng Quỹ vốn sơ khởi (seed capital), nhờ quỹ
này mỗi doanh nghiệp được ươm tạo có thể nhận ngay lập tức một khoản đầu tư sơ khởi trị
giá 25.000 USD. Ở Israel, VƯDNCN được phép sở hữu 20% giá trị tài sản của doanh
nghiệp được ươm tạo. Trong khi đó, các Trung tâm đổi mới doanh nghiệp châu Âu (BIC)
được đầu tư trực tiếp vào 23% giá trị
của dự án. Các biện pháp trên không chỉ trực tiếp
giúp đỡ các doanh nghiệp khách hàng phát triển trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng mà
còn có thể tìm kiếm được sự hỗ trợ và quan tâm của các nhà đầu tư bên ngoài, bao gồm cả
các nhà bảo trợ doanh nghiệp.
1.5.6 Tư vấn pháp luật
Các doanh nghiệp trong VƯDNCN cũng cần đến các dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan
đến các vụ chuyển nhượng sở hữu, sáp nhập, liên doanh, dự thảo các hợp đồng cấp phép và

thành công của các VƯDNCN. Các vườn ươm có thể tổ chức các diễn đàn/hội nghị về đầu
tư, trong đó quy tụ các nhà đầu tư tiềm năng và các chủ doanh nghiệp thuê vườn ươm. Ví
dụ, Viện nghiên cứu Ottawa – Carlton (Canada) đều tổ chức các hội nghị hằng tháng nhằ
m
trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà điều hành doanh nghiệp. Các VƯDNCN cũng ngày càng
tăng cường cộng tác với các vườn ươm khác ở trong vùng hoặc thậm chí ở các quốc gia
khác để mở rộng các nguồn thông tin của mình. Đây cũng chính là cách thức để thiết lập
thị trường cho các doanh nghiệp thuê vườn ươm của mình và đa dạng hoá cơ sở khách
hàng. Ví dụ tại Áo, 6 Trung tâm đổi mới vùng ở bang Salzburg đã được kế
t nối nhờ Siêu lộ
dữ liệu Salzburg – đây là một mạng lưới rộng cho phép các doanh nghiệp có thể truy cập
vào mạng quốc tế. Ngoài ra, việc duy trì chặt chẽ các quan hệ với các doanh nghiệp đã
trưởng thành và rời khỏi vườn ươm cũng rất quan trọng.
Xu hướng hiện nay đối với các VƯDN nói chung và VƯDNCN nói riêng là cung cấp cả
dịch vụ cho các doanh nghiệp bên ngoài khu vực vườn ươm, được coi là các khách hàng
liên k
ết (có thể gồm cả các doanh nghiệp đã trưởng thành của vườn ươm). Việc VƯDNCN
phục cho các khách hàng liên kết không chỉ giúp nâng cao lợi nhuận của vườn ươm mà còn
là một cách để tiếp thị và giúp các doanh nghiệp thuê vườn ươm hợp tác với các doanh
nghiệp bên ngoài.
Trong khi hầu hết các VƯDNCN được trang bị các phương tiện và cơ sở vật chất ngay tại
đây, một số vườn ươm bắt đầ
u được hình thành nhưng lại không có phương tiện, cơ sở vật
chất mà chỉ được đảm bảo bởi những nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp và công nghệ cho
các DNV&N đang hoạt động. Lý do của việc hình thành những vườn ươm như vậy là vì
các vườn ươm cần có thời gian để xây dựng hoặc tiếp thu cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị
phù hợp hơn với nhu cầu c
ủa khách hàng. Lý do khác là liên quan tới các chi phí của vườn
ươm có cơ sở vật chất thiết bị với quy mô lớn. Trên thực tế, có một số vùng có ít doanh
nghiệp, tỷ lệ khách thuê của vườn ươm không đủ để vườn ươm có thể trang trải phần kinh

TTĐMCN được hình thành để hỗ trợ cho hoạt động R&D và đổi mới công nghệ theo nhu
cầu của khu vực công nghiệp, tập trung đầu tư các nguồn lực vào khu vực trường đại học
hoặc viện nghiên cứu và tiến tới thương mại hoá với sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp hay các
cơ quan nhà nước. Với quan niệm như vậy thì TTĐMCN gần giống/ tương tự như các công
viên công nghệ.
VƯDNCN ở Hàn Quốc được coi như một mô hình kinh doanh của các trường đại học, các
viện nghiên cứu Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức tư nhân nhằm thúc đẩy
và trợ giúp các doanh nghiệp mới có hàm lượng công nghệ cao. VƯDNCN khác biệt với
VƯCN hay TTĐMCN trong việc tăng cường hỗ
trợ thương mại hoá công nghệ đã được
triển khai trước chứ không tập trung các hoạt động khởi sự của các doanh nghiệp.
VƯDNCN cũng khác với VƯDN nói chung ở chỗ chúng liên quan đến các DNCN hay
CNC.

19
2.1.2 Các loại hình VƯDN
VƯDN theo tài trợ
VƯDN của Nhà nước: do Chính phủ hay các cơ quan địa phương thành lập với mục tiêu
phục hồi nền kinh tế, tạo việc làm và phát triển kinh tế vùng.
VƯDN của trường đại học: được thành lập bởi một trường đại học, góp phần vào việc phát
triển của cộng đồng địa phương, tăng cường tiềm lực độc lập của trường
đại học nhờ vào
việc tăng các quỹ nghiên cứu và tận dụng những lợi ích, thương mại hoá một cách nhanh
chóng các kết quả R&D, xác định vị trí thích hợp cho các hoạt động phối hợp chung giữa
trường đại học và khu vực sản xuất, kinh doanh.
VƯDN tư nhân: do các doanh nghiệp tư nhân thành lập nhằm hỗ trợ một cách chọn lọc các
DNV&N có triển vọng và thu lợi nhuận qua việc đầu tư vào chính doanh nghi
ệp được ươm
tạo.
VƯDN liên doanh giữa nhà nước và tư nhân: do các cơ quan nhà nước, các trường đại học

nghệ, thiết bị cho các khách hàng của mình.
VƯDN chuyên biệt về chức năng: được tổ chức theo chức năng với một nhà quản lý và ba
hay bốn phòng ban chuyên môn. VƯDN được phân thành các b
ộ phận như: quản lý và kế
hoạch, hỗ trợ hoạt động và tư vấn quản trị, các dịch vụ được cung cấp đến doanh nghiệp
được nhận đầu tư.
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của mô hình VƯDNCN
VƯDNCN có các đặc thù phù hợp với các điều kiện khác nhau, chẳng hạn như mục đích
và địa điểm xác định. Tuy nhiên, đối với bất kỳ VƯDNCN nào cũng cần xem xét đến ba
yếu tố cơ bản là nhà đầu tư, tổ chức vận hành, doanh nghiệp thuê trong vườn ươm.
Thứ nhất, nhà đầu tư cung cấp cho vườn ươm các nguồn vốn đầu tư xây dựng/cho thuê,
mua thiết bị và triển khai hoạt động. Các nhà đầu tư thương mại thường đầu tư trực tiếp
cho các doanh nghiệp có triển vọng để thuê vườn ươm.Các nhà đầu tư tư nhân sở hữu cổ
phần hoặc trong các doanh gnhiệp triển vọng và thu lợi nhuận từ các cổ phần này khi
doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thứ hai, tổ chức vận hành hướng dẫ
n các hoạt động thực tiễn chẳng hạn như chọn lựa,
ươm tạo và kiểm chứng sự trưởng thành của các doanh nghiệp khách hàng với sự hỗ trợ tài
chính từ các nhà đầu tư. Các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ quan Chính phủ
cũng thường gánh vác một số trách nhiệm nhất định.
Tổ chức vận hành cung cấp các phương tiện ươm tạo thông thường, hướng dẫ
n quản lý và
sắp xếp tìm kiếm các nguồn vốn cho các doanh nghiệp khách hàng nhưng cũng nhận được
tiền cho thuê vườn ươm và thu phí từ dịch vụ tư vấn.
Nhìn chung, các nhà quản lý VƯDNCN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và nghĩa vụ tài
chính. Vấn đề quan trọng nhất của VƯDNCN là tìm được một nhà quản lý được chính

21
quyền, các ngân hàng, giới các nhà KH&CN tôn trọng. Một nhà quản lý VƯDNCN cần có
các năng lực về kỹ thuật và quản lý, nắm vững các đặc thù của quy trình khởi sự DNV&N.

việc tạo ra các dự án kinh doanh mạo hiểm công nghệ. VƯDNCN củng cố, bồi dưỡng đội
ngũ lao động có chất lượng cao và năng lực nghiên cứu bền vững.
Từ một hệ thống phát triển tập trung hoá, hiện nay đang diễn ra một sự chuyển dịch tập
trung vào việc khôi phục nền kinh tế địa phương do yêu cầu của các chính quyền s
ở tại.

22
VƯDNCN cung cấp những phương tiện quan trọng cho kiểu hệ thống phát triển dựa trên
nguyên tắc phi tập trung hoá này.
Để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, VƯDNCN cần thiết cho việc xây dựng
các hệ thống phát triển công nghệ trên bình diện quốc gia. VƯDNCN thiết lập một hệ
thống hợp tác thông qua việc tổ chức mạng lưới các tổ chức hàng đầu trong hệ
thống phát
triển công nghệ phi tập trung hoá là điều cần thiết.
2.1.5 Tác động của VƯDNCN
Thuận lợi đối với các doanh nghiệp khách hàng của VƯDNCN
Giảm các khoản đầu tư và chi phí hoạt động ban đầu nhờ giá thuê rẻ và việc sử dụng chung
nhiều loại phương tiện.
Hỗ trợ của VƯDNCN trong việc quản lý, công nghệ, thông tin, tài chính và tư vấn, bù đắp
cho sự thiếu kinh nghiệm quản lý của các nhà sáng lập doanh nghiệp mới, do đó cho phép
họ có điều kiện tập trung phát triể
n sản phẩm và thị trường.
Khách thuê sẽ giảm bớt rủi ro và sai sót bằng việc chia sẻ các kinh nghiệm và đạt được sự
liên kết năng động với các doanh nghiệp khác trong VƯDNCN thông qua việc chia sẻ các
nguồn lực cho phát triển.
Tất cả những thuận lợi như vậy sẽ giúp giảm bớt rủi ro đầu tư và kinh doanh, tăng cường
khả năng tồn tại và thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thuậ
n lợi như trên sẽ còn
phụ thuộc nhiều vào mỗi nhà đầu tư.
Thứ nhất, nhà đầu tư là nhà nước: VƯDNCN của nhà nước là tạo việc làm và phục hồi,

tư tập trung vào một số ngành công nghiệp tăng trưởng cao.
Tóm lại, việc thành lập các VƯDNCN có thể nâng cao tỷ lệ thành công của các DNCN
m
ới thành lập, đồng thời đóng góp vào sự phát triển của kinh tế địa phương. Hơn nữa
VƯDNCN còn tạo ra một môi trường khuyến khích việc thành lập dnKH&CN và thương
mại hoá các kết quả nghiên cứu. Hiệu quả khác của VƯDNCN là nâng cao khả năng tồn tại
và phát triển cho các DNCN, vì vậy thúc đẩy cạnh tranh quốc tế và các cơ cấu công nghiệp
ở trình độ cao.
2.1.6 Chính sách đối với VƯDNCN
Những vấn đề trong việc triển khai VƯDNCN
Có một vấn đề khác biệt quan trọng giữa Hàn Quốc và một số quốc gia tiên tiến khác (đặc
biệt là Hoa Kỳ) liên quan đến cơ chế 4M (tiền-money, nhân lực-men, nguyên liệu-materials
và quản lý-management), các yếu tố then chốt cho nghiên cứu và tạo ra doanh nghiệp. Do
vậy, cần phải tính đến những khác biệt trong việc thành lập và triển khai kế hoạch hoạt
động phù hợp cho VƯDNCN.
Các doanh nghiệp nước ngoài rất năng động và thường tham gia nghiên cứu chung với các
trường đại học, uỷ thác nghiên cứu và trao tặng học bổng, trong khi đó các doanh nghiệp
Hàn Quốc tham gia tương đối thấp vào các hoạt động này.
Tại các quốc gia tiên tiến, quan niệm phát triển địa phương/vùng thông qua các mối liên
kết hữu cơ giữa các tổ hợp nghiên cứu, các tổ hợp công nghệ và các trường đại học là phổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status