Bài giảng Luật NSNN
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ
LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Những vấn đề lí luận về NSNN
1.1.1. Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế và pháp lý
Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tài chính. Hiện tượng ngân
sách ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên cơ sở của nền kinh tế hàng hoá và sự
hình thành, phát triển của nhà nước.
Sau 3 lần phân công lao động xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phân hóa
các giai cấp trong xã hội, đặc biệt là phân công lao động xã hội lần thứ ba, kết quả là sự
ra đời của giai cấp thương nhân. Giai cấp thương nhân ra đời dẫn đến các quan hệ trao
đổi mua bán cũng phát triển mạnh mẽ, cùng với nó là sự xuất hiện của tiền tệ. Nhà nước
ra đời thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng tiền tệ trong lưu thông hàng hóa. Sự ra đời và tồn
tại của Nhà nước làm nảy sinh nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi Nhà nước
dùng quyền lưc chính trị để tập trung một bộ phận của cải của xã hội cho mình làm hình
thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước, tham gia quá trình phân phối của
cải với tư cách chủ thể quyền lực chính trị.
Trong thời kỳ đầu của lịch sử Nhà nước, quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà
nước (sau này được gọi là quỹ NSNN) mặc dù cũng được thiết lập và sử dụng cho nhu
cầu của Nhà nước nhưng không hoàn toàn mang đúng bản chất là NSNN như cách hiểu
hiện đại ngày nay, bởi lẽ:
- Việc thiết lập, quản lý và sử dụng hoàn toàn do người đứng đầu Nhà nước
quyết định mà không được kế hoạch hóa, không được xác định niên độ cũng như không
được quy định cụ thể bởi bất kỳ một luật lệ nào.
- Không có sự phân biệt và tách bạch một cách rạch ròi giữa các khoản chi tiêu
của Nhà nước và các khoản chi tiêu của người đứng đầu nhà nước và gia đình của họ.
Các khoản thu, chi của người đứng đầu nhà nước luôn được hiểu đồng nghĩa với các
khoản thu, chi của Bộ máy chính quyền Nhà nước.
Trong khi các khoản thu của Nhà nước chủ yếu được hình thành từ sự đóng góp
của dân chúng (với chế độ thuế khóa nặng nề và bất công) nhưng lại để đáp ứng cho nhu
cầu chi tiêu xa hoa, lãng phí của bộ máy chính quyền, cho những nhu cầu cá nhân của
thuật nghiệp vụ kinh tế (lập dự toán các khoản thu chi định thực hiện trong một
năm) mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý (phải trải qua giai đoạn xem
xét, biểu quyết thông qua tại quốc hội giống như việc ban hành một đạo luật để
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định cho các chủ thể tham gia
vào hoạt động ngân sách). Việc quốc hội biểu quyết thông qua NSNN thực chất
chính là Nhân dân thông qua cơ quan đại biểu của mình để quyết định các khoản
thu và việc sử dụng các khoản thu đó như thế nào cho nhu cầu công.
Ngân sách nhà nước không chỉ là một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà
còn là một đạo luật. NSNN sau khi được soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì
được chuyển sang cho cơ quan lập pháp xem xét và ban bố dưới hình thức một
đạo luật để thi hành. Điều này khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của
NSNN đối với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của một đất nước.
NSNN là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, được trao cho CP tổ
chức thực hiện nhưng phải đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Quốc hội. Quốc hội
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
thực hiện việc giám sát trực tiếp đối với hoạt động thực hành NS của CP nhằm
siểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trình thực thi ngân
sách.
Ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu
cầu lợi ích chung của toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng các lợi
ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào hay đẳng cấp xã hội nào.
1.1.3. Cơ cấu của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước được cầu trúc bởi hai phần: các khoản thu và các
khoản chi.
a) Cơ cấu các khoản thu của NSNN
- Các khoản thu có tính chất hoa lợi: Là khoản thu làm tăng ngân quỹ khả
dụng của ngân khố nhưng không làm tăng trái cụ của quốc gia; hoặc đó là khoản
thu làm giảm trái khoản của quốc gia nhưng không làm giảm ngân quỹ của quốc
khố. Các khoản thu này bao gồm: thu về thuế; thu từ hoạt động kinh tế của Nhà
hành trong năm đó.
- Được quy định tại Đ 1 và Đ 14 Luật NSNN 2002
Nguyên tắc ngân sách đơn nhất
Mọi khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một năm chỉ được phép
trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó là bản dự toán ngân sách nhà nước sẽ
được Chính phủ trình Quốc hội quyết định để thực hiện
Luật NSNN 2002 không có điều luật nào quy định một cách rõ ràng và
chính thức về nguyên tắc này.
Nguyên tắc ngân sách toàn diện
- Mọi khoản thu và mọi khoản chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong bản
DTNSNN hàng năm đã được QH quyết định; không được để ngoài DTNS bất kỳ
khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất.
- Các khoản thu chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng
từng khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục NSNN được duyệt không được
phép dùng riêng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể nào mà mọi khoản thu
đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi
Nguyên tắc ngân sách thăng bằng
Sự thăng bằng NS là sự cân bằng giữa tổng thu hoa lợi ( chủ yếu là thuế)
với tổng chi có tính chất phí tổn
Nếu tổng khoản thu có t/c hoa lợi > tổng chi có tính chất phí tổn: Thặng dư
(bội thu) NSNN
Nếu Ngược lại: Thâm hụt (bội chi) NSNN
Được ghi nhận tại K2Đ 8 Luật NSNN 2002
1.1.5. Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường và sự cần
thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động ngân sách nhà nước
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
Ngân sách nhà nước giữ vai trò là công cụ phân phối. Điều này được thể hiện
thông qua việc nhà nước huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của
nhà nước. Thông qua việc tiến hành cân đối giữa các khoản thu và chi của nhà nước, nhà
hoạt động NSNN, được các QPPL điều chỉnh, mang lại các quyền và nghĩ vụ pháp
lý cho các chủ thể thực hiện khi tham gia hoạt động NS
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
Về bản chất thuộc loại QH có t/c hành chính, thể hiện ở những đặc điểm:
+ Có ít nhất 1 bên chủ thể là CQ công quyền (CQNN có thẩm quyền)
+ Được xác lập=quy định PL chặt chẽ cả về điều kiện và cách thức xác lập
QH, quyền và NV của các bên
+ Khách thể là lợi ích KTXH, công cộng (thỏa mãn nhu cầu thực hiện các
chức năng cơ bản của NN)
Chương 2: TỔ CHỨC HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1. Tổ chức hệ thống NSNN
2.1.1. Khái niệm và mô hình tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống ngân sách là một thể thống nhất được tạo thành từ các bộ phận cấu
thành nên ngân sách: các khâu ngân sách. Giữa các khâu trong hệ thống ngân sách vừa độc
lập, vừa có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của
mình.
Hệ thống ngân sách thường được tổ chức tương ứng với hệ thống chính quyền nhà
nước nhưng không nhất thiết mỗi cấp chính quyền là một cấp ngân sách. Điều kiện cần và
đủ để một cấp chính quyền trở thành cấp ngân sách:
-Nhiệm vụ của cấp chính quyền tương đối toàn diện trên các lĩnh vực phát triển về
hành chính, xã hội kinh tế ở vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó quản lý.
-Tổng hợp các nguồn thu trên lãnh thổ mà cấp chính quyền đó quản lý có khả
năng giải quyết phần lớn nhu cầu chi tiêu của mình.
Hệ thống ngân sách ở Việt Nam:
-Từ sau Cách mạng tháng 8 đến trước 1967: Việt Nam chỉ tồn tại 1 ngân sách duy
nhất được gọi chung là ngân sách nhà nước, ở đó không có sự phân định thẩm quyền giữa
các cấp chính quyền nhà nước trong quản lý ngân sách nhà nước. Mỗi cấp chính quyền chỉ
là một đơn vị dự toán của ngân sách nhà nước. Mọi hoạt động huy động các nguồn tài
chính đều nhằm hình thành quỹ ngân sách nhà nước tập trung và mọi chi tiêu từ quỹ tiền tệ
Nội dung: Các cấp NS là những bp cấu thành của một ht NS thống nhất và duy
nhất. Mỗi cấp NS đều có hoạt động thu, chi của mình nhưng các hđ đó phải nhất quán,
cùng dựa trên những chuẩn mực, định mức nhất định và phải tuẩn thủ cùng 1 c.sách, c.độ
về thu, chi NS
Yêu cầu:
- Phải thể chế hóa thành PL mọi chủ trương, cs, t.chuẩn, đ.mức về thu, chi NS
- Phải đảm bảo sự nhất quán trên pv toàn quốc về h.thống và chuẩn mực k.toán,
về p.thức b.cáo, về tr.tự lập, phê chuẩn, chấp hành và q.toán NSNN
-Phải tạo cspl cho việc t.lập mqh giữa NS cấp trên và NS cấp dưới trong việc điều
chuyển nguồn vốn giữa các cấp NS này
-Đảm bảo tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp ngân sách, có cơ chế
phân cấp và quản lý phù hợp để phát huy được tính tự chủ, kích thích khai thác nguồn thu
của các cấp ngân sách địa phương, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương.
Nguyên tắc độc lập và t.chủ của các cấp NSNN
Đảm bảo cho các cấp CQ/cấp NS có thể chủ động trong việc t.hiện chức
năng của mình
- Cần phân giao các nguồn thu và n.vụ chi cho các cấp NS đồng thời cần cho
phép mỗi cấp NS có quyền qđ NS cấp mình trên cs tuân thủ các c.độ, cs, t.chuẩn,
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
đ.mức về thu , chi NS của NN
- QH có quyền qđ n.vụ thu, chi cho NS TW và NS cấp tỉnh, HĐND cấp tỉnh
qđ n.vụ thu, chi cho NS cấp huyện và xã thuộc địa bàn q.lý
Nguyên tắc tập trung quyền lực trên c.sở phân định thẩm quyền giữa các
cấp CQNN trong hoạt động NS
Tập trung quyền lực thể hiện ở:
- Quyền qđ của QH và sự điều hành thống nhất của CP đ.với NSNN
- Vai trò chủ đạo của CQ TW trong việc s.d NSTW để t.h những n.vụ chiến
lược, q.trọng của QG, những cs điều tiết kt vĩ mô…
Phân định thẩm quyền là x.định rõ q.hạn & tr.nhiệm of từng cấp CQ trong việc t.h
mọi cấp ngân sách mà dựa trên khả năng thu, nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách mà
ngân sách cấp trên sẽ thực hiện việc cấp bổ sung.
- Không được dùng ngân của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp ngân sách khác.
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước
cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ
ngân sách cấp trên cho cấp ngân sách thực hiện nhiệm vụ đó.
2.2.3. Thẩm quyền quyết định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa
các cấp ngân sách
Luật NSNN 2002 quy định cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi hai cấp ngân
sách TƯ và ngân sách địa phương đồng thời đề ra các nguyên tắc định hướng việc
phân phối thu, chi của cơ quan quyền lực nhà nước cấp tỉnh khi phân bổ nguồn thu
và nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách huyện và xã trên địa bàn tỉnh quản lý
Quốc hội có thẩm quyền quyết định chi tiết việc phân phối thu, chi cho hai
cấp NS là cấp TƯ và cấp tỉnh.
HĐND tỉnh quyết định việc phân giao nguồn thhu và nhiệm vụ chi cụ thể
cho từng cấp ngân sách huyện và xã thuộc địa bàn của tỉnh phù hợp với đặc thù,
khả năng và nhu cầu của địa phương.
2.2.4. Các khoản thu và chi của các cấp NSNN
a. Các khoản thu của NSTW
* Các khoản thu cố định gồm:
- Thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu.
- Thuế lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành.
- Các khoản thuế và thu khác về dầu khí.
- Thu hồi vốn của NSTW tại các tổ chức kinh tế, lợi tức từ vốn góp của Nhà nước,
thu hồi tiền cho vay, thu từ quỹ dự trữ tài chính của TƯ.
- Các khoản phí và lệ phí quy định nộp vào ngân sách Nhà nước Trung ương.
- Thu kết dư ngân sách TƯ.
- Các khoản thu từ viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, tổ chức quốc
+Chi thuờng xuyên hỗ trợ cho các tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, xã hội-nghề nghiệp thuộc trung ương.
+Chương trình quốc gia do Trung ương thực hiện.
+Chi hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội theo luật định.
* Chi đầu tư phát triển:
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
+ Đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi
vốn;
+Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn cổ phần,
liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực quan trọng, cần thiết phải có sự tham
gia của Nhà nước.
+Chi bổ sung dự trừ nhà nước dưới dạng bổ sung cho dự phòng ngân sách trung
ương.
+Chi hỗ trợ tài chính, bổ sung vốn, hỗ trợ và thưởng xuất khẩu cho các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật.
+Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà
nước do cơ quan trung ương thực hiện
+Chi hỗ trợ các tổ chức tài chính của nhà nước do trung ương quản lý
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương.
- Chi bổ sung cho ngân sách địa phương
- Chi cho vay theo quy định của pháp luật.
- Chi viện trợ
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
c. Các khoản thu của NS địa phương
* Thu cố định: Khoản thu phát sinh tại địa phương và địa phương được hưởng
100%, bao gồm:
+Thuế nhà, đất
+Thuế tài nguyên
+Thuế môn bài
quyền địa phương. Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư
xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.
d. Các khoản chi của NS địa phương
- Chi thường xuyên: bao gồm
+Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá
thông tin, văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học công nghệ môi trường các hoạt
động sự nghiệp khác do địa phương quản lý.
+Chi cho an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội (phần giao cho địa
phương);
+Chi cho hoạt động của cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã
hội ở địa phương…
+Chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề
nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật
+Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý
+Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
+Trợ giá theo chính sách của nhà nước
- Chi đầu tư phát triển.
+Đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội do địa phương quản lý
+Đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính nhà nứoc theo
quy định pháp luật.
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luât
-Chi trả nợ gốc và lãi những khoản tiền huy động cho đầu tư xây dựng công trình,
kết cấu hạ tầng thông qua việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương.
- Chi bổ sung cho ngân sách Nhà nước cấp dưới.
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
Chương 3: PHÁP LUẬT VỀ QUÁ TRÌNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
3.1 Chế độ lập dự toán NSNN
3.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động lập dự toán ngân sách nhà
3.1.2. Các căn cứ của việc lập dự toán NSNN
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh; chỉ tiêu,
nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc
điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên của từng vùng như: dân số theo
vùng lãnh thổ, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội do cơ quan có thẩm quyền thông báo đối
với từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương,
từng địa phương và đơn vị;
- Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; định mức phân bổ ngân sách; chế độ, tiêu
chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định; trường hợp cần sửa đổi,
bổ sung các văn bản này thì phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và ban hành trước
thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Trong đó:
+ Đối với thu ngân sách nhà nước, việc lập dự toán phải căn cứ vào mức tăng
trưởng kinh tế, các chỉ tiêu liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách;
+ Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào những dự án đầu
tư có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định tại Quy chế quản lý vốn đầu tư và xây
dựng và phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm, kế hoạch tài chính 5 năm; đồng thời
ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai của các chương trình, dự án đã được
cấp có thẩm quyền quyết định đang thực hiện;
+ Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải tuân theo các chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trong đó:
● Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương: căn cứ định mức phân bổ chi ngân sách trung ương do Thủ tướng Chính phủ
quyết định, ban hành định mức phân bổ chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc, bảo đảm
đúng về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực.
● Đối với các địa phương: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ định mức phân bổ
chi ngân sách địa phương do Thủ tướng Chính phủ quyết định, ban hành định mức phân
bổ chi ngân sách cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh và cấp dưới.
● Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách, việc lập dự toán căn cứ vào các chính
sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
● Đối với các cơ quan hành chính thực hiện chế độ khoán biên chế và kinh phí
phố trực thuộc trung ương.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương
căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán
ngân sách của Bộ Tài chính và căn cứ yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của bộ, cơ quan, thông
báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông
tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, căn cứ vào định hướng
phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, căn cứ khả năng
cân đối ngân sách địa phương, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách
cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp dưới.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương, Uỷ ban nhân dân các cấp, khi thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước
cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp dưới bảo đảm số thu không thấp hơn
số kiểm tra về thu, số chi phải phù hợp với số kiểm tra về tổng mức và cơ cấu.
- Trước ngày 10 tháng 6 năm trước, Bộ Tài chính thông báo số kiểm tra dự toán
ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nội dung số kiểm tra
gồm:
+ Tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương.
+ Tổng số thu, chi và một số lĩnh vực chi quan trọng đối với các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương.
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
b) Lập dự tóan NSNN
Lập dự toán ngân sách địa phương
Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét dự toán ngân
sách của các đơn vị thuộc tỉnh, dự toán thu do cơ quan thuế, cơ quan hải quan lập (nếu
có), dự toán thu, chi ngân sách của các huyện; lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên
địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách tỉnh (gồm dự toán ngân sách huyện, xã và dự toán
cần thu khi có nhu cầu chi. Nếu biểu quyết các khỏan thu trước các khỏan chi là phí phạm
vì có thể có những khoản thu mà quốc gia không thực sự cần đến.
- Trường hợp dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương
chưa được Quốc hội quyết định, Chính phủ lập lại dự toán ngân sách nhà nước, phương
án phân bổ ngân sách trung ương trình Quốc hội vào thời gian do Quốc hội quyết định.
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
Trường hợp dự toán ngân sách địa phương chưa được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ
ban nhân dân lập lại dự toán ngân sách trình Hội đồng nhân dân vào thời gian do Hội
đồng nhân dân quyết định, nhưng không được chậm hơn ngày 10 tháng 01 năm sau đối
với ngân sách cấp tỉnh, ngày 20 tháng 01 năm sau đối với ngân sách cấp huyện, ngày 30
tháng 01 năm sau đối với ngân sách cấp xã
d) Phân bổ ngân sách trung ương, giao dự toán ngân sách nhà nước
1) Sau khi dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương đã
được Quốc hội quyết định, Bộ Tài chính có trách nhiệm:
- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách
trung ương, đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, trình Chính phủ trình Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách trung ương
và ngân sách từng địa phương đối với các khoản thu phân chia theo quy định
- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách
trung ương, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia
các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trình Thủ tướng
Chính phủ quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương theo từng lĩnh vực; nhiệm vụ thu,
chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương, mức bổ sung cân đối (nếu có), mức bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung
ương, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách trung ương cho từng tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương trước ngày 20 tháng 11 năm trước;
- Hướng dẫn nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
.
Chấp hành ngân sách bao gồm chấp hành thu ngân sách, chấp hành chi ngân sách và họat
động điều chỉnh dự tóan ngân sách.
3.2.1. Chấp hành thu ngân sách
Chấp hành thu ngân sách là quá trình tổ chức thu và quản lý nguồn thu của ngân
sách nhà nước. Hệ thống tổ chức thu ngân sách nhà nước bao gồm các cơ quan thuế, hải
quan và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu. Các cơ quan này phải có trách nhiệm
kiểm sóat các nguồn thu NSNN, xác định và thông báo số phải nộp cho NSNN cho các cá
nhân, tổ chức. Các tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế,
phí, lệ phí và các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Trường hợp chậm nộp mà không được phép sẽ bị cưỡng chế nộp theo quy định của pháp
luật.
Toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước,
trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc Nhà
nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
3.2.2. Chấp hành chi ngân sách
Chấp hành chi NSNN là quá trình tổ chức chi ngân sách nhà nước và quản lý các
khỏan chi của NSNN. Quá trình chi NSNN được qui định như sau:
1) Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân sách, các cơ
quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ
và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Đối với các
Bộ, Tổng cục được tổ chức theo ngành dọc, chưa có điều kiện phân bổ và giao dự toán
trực tiếp đến các đơn vị sử dụng ngân sách, thì có thể phân bổ đến đơn vị dự toán cấp II
và uỷ quyền cho đơn vị này phân bổ, giao dự toán cho đơn vị sử dụng ngân sách trực
thuộc, song Bộ, Tổng cục phải tổng hợp và chịu trách nhiệm về toàn bộ dự toán ngân
sách đã phân bổ và giao cho đơn vị sử dụng ngân sách.
2) Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng
loại của Mục lục ngân sách nhà nước. Đối với các nhiệm vụ chi về chương trình mục tiêu
quốc gia; chi mua sắm, sửa chữa lớn; chi sự nghiệp kinh tế, dự toán năm giao cho đơn vị
sử dụng còn được phân theo tiến độ thực hiện từng quý.
nhất thì cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước tạm cấp kinh phí theo quy định .
9) Khi cần điều chỉnh dự toán ngân sách giữa các đơn vị trực thuộc mà không làm thay
đổi tổng mức và chi tiết dự toán được giao, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách
lập giấy đề nghị điều chỉnh phân bổ dự toán, gửi cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước
cùng cấp.
Cơ quan tài chính cùng cấp thẩm tra đề nghị điều chỉnh dự toán theo quy định. Trong
vòng 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị điều chỉnh của đơn vị dự toán, cơ
quan tài chính phải trả lời bằng văn bản gửi cơ quan, đơn vị phân bổ và Kho bạc Nhà
nước cùng cấp.
Trên cơ sở thống nhất ý kiến với cơ quan tài chính cùng cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị
phân bổ ngân sách quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các đơn vị trực
thuộc; đồng gửi cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi
giao dịch.
10) Trường hợp đơn vị dự toán cấp I cần phải điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị
trực thuộc song không làm thay đổi tổng mức dự toán Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban
nhân dân đã giao cho đơn vị thì phải có sự thống nhất của cơ quan tài chính cùng cấp.
11). Trường hợp cơ quan tài chính phát hiện việc chấp hành dự toán ngân sách của đơn vị
sử dụng ngân sách chậm, có khả năng không hoàn thành được mục tiêu hoặc chi không
hết dự toán được giao thì có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách, hoặc đề
nghị Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân có giải pháp kịp thời hoặc điều chỉnh nhiệm
vụ, dự toán để bảo đảm sử dụng ngân sách đúng theo mục tiêu, chế độ quy định, tiết
kiệm, có hiệu quả ngân sách nhà nước.
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
12) Trường hợp được bổ sung dự toán từ nguồn dự phòng ngân sách hoặc tăng thu ngân
sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền, đơn vị dự toán cấp I phải phân bổ cho đơn
vị sử dụng theo đúng mục tiêu được giao gửi cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước cùng
cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch.
3.2.3. Điều chỉnh dự tóan NSNN
Trong quá trình chấp hành ngân sách, dự tóan NSNN sẽ đượ điều chỉnh trong các trường
- Cần phân bổ lại ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
3.3. Quyết toán NSNN
Quyết tóan NSNN là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại quá trình lập và chấp hành
NSNN. Quyết tóan NSNN được thực hiện tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận
lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách ở những chu
trình tiếp theo
2
.
3.3.1.Về mặt số liệu
Số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Nội dung báo cáo quyết
toán ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao (hoặc được cơ
quan có thẩm quyền cho phép) và chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước. Thủ trưởng
đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung
thực, đầy đủ; chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi, hạch toán, quyết toán ngân sách
sai chế độ.
Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị
dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp phải gửi kèm các báo cáo sau đây:
1) Bảng cân đối tài khoản cuối ngày 31 tháng 12 và bảng cân đối tài khoản sau khi kết
thúc thời gian chỉnh lý quyết toán.
2) Báo cáo thuyết minh quyết toán năm; thuyết minh quyết toán phải giải trình rõ nguyên
nhân đạt, không đạt hoặc vượt dự toán được giao theo từng chỉ tiêu và những kiến nghị
nếu có.
Báo cáo quyết toán năm, gửi các cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác
nhận của Kho bạc Nhà nước cùng cấp về tổng số và chi tiết.
3.3.2. Về mặt nội dung
Báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấp chính quyền địa
phương không được quyết toán chi lớn hơn thu. Cấp dưới không quyết toán các khoản
4) Đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm duyệt báo cáo quyết toán của các đơn vị trực
thuộc, tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm (gồm báo cáo quyết toán của đơn vị mình
và báo cáo quyết toán của đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc), gửi cơ quan tài chính
đồng cấp. Đối với đơn vị dự toán thuộc ngân sách trung ương, Bộ Tài chính có trách
nhiệm thẩm định quyết toán năm trong thời gian tối đa 30 ngày, kể từ ngày nhận được
báo cáo quyết toán; đối với đơn vị dự toán thuộc ngân sách địa phương, Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh quy định thời gian thẩm định quyết toán cụ thể, nhưng phải đảm bảo thời gian
quyết toán theo quy định của Điều 67 của Luật Ngân sách nhà nước. Trong phạm vi 10
ngày kể từ khi đơn vị dự toán cấp I nhận được thông báo nhận xét quyết toán năm của cơ
quan tài chính, đơn vị dự toán cấp I phải thực hiện xong những yêu cầu trong thông báo
nhận xét quyết toán của cơ quan tài chính.
Trường hợp đơn vị dự toán cấp I có ý kiến không thống nhất với thông báo nhận xét
quyết toán của cơ quan tài chính thì phải trình Uỷ ban nhân dân đồng cấp (nếu là đơn vị
dự toán thuộc cấp chính quyền địa phương) hoặc trình Thủ tướng Chính phủ (nếu là đơn
vị dự toán thuộc trung ương) để xem xét và quyết định. Trong khi chờ ý kiến quyết định
của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và Thủ tướng Chính phủ thì mọi quyết định của cơ quan
tài chính phải được thi hành.
5) Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan tài
chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp
I.
6) Đối với các công trình xây dựng cơ bản, các chương trình dự án quốc gia, kết thúc
năm ngân sách chủ đầu tư lập báo quyết toán thực hiện vốn đầu tư trong năm theo từng
công trình, dự án gửi Kho bạc Nhà nước và cơ quan tài chính đồng cấp. Việc duyệt, thẩm
định quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo quy định riêng của Bộ trưởng Bộ Tài
chính.
3.3.3.2.Trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi ngân
sách nhà nước hàng năm của ngân sách các cấp chính quyền
1) Mẫu biểu báo cáo quyết toán năm của ngân sách cấp dưới lập gửi cơ quan tài chính
cấp trên theo hệ thống mẫu biểu quyết toán qui định.
2) Ban Tài chính xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã (theo
Đồng thời, gửi Kho bạc Nhà nước huyện nghị quyết phê chuẩn quyết toán của Hội đồng
nhân dân cấp huyện.
4) Sở tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu ngân sách nhà nước phát sinh
trên địa bàn huyện, quyết toán thu, chi ngân sách huyện; lập quyết toán thu, chi ngân sách
cấp tỉnh; tổng hợp lập quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh và báo cáo
quyết toán thu, chi ngân sách địa phương bao gồm: quyết toán thu, chi ngân sách cấp
tỉnh; quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu chi ngân sách cấp xã trình
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét gửi Bộ Tài chính, đồng thời trình Hội đồng nhân dân
tỉnh phê chuẩn. Trường hợp báo cáo quyết toán năm của ngân sách tỉnh do Hội đồng
nhân dân tỉnh phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do Uỷ ban nhân dân
tỉnh đã gửi Bộ Tài chính thì Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo bổ sung, gửi Bộ Tài chính. Sau
khi được Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn, trong phạm vi 5 ngày, cơ quan tài chính gửi
báo cáo quyết toán đến các cơ quan sau:
- 01 bản gửi Hội đồng nhân dân tỉnh;
- 01 bản gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh;
- 01 bản gửi Bộ Tài chính;
- 01 bản gửi Kiểm toán Nhà nước;
- 01 bản lưu tại Sở tài chính tỉnh.
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
Đồng thời, gửi Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh nghị quyết phê chuẩn quyết toán của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh.
5) Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
tỉnh, quyết toán thu, chi ngân sách địa phương và quyết toán thu, chi ngân sách của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương; lập báo
cáo quyết toán thu, chi ngân sách trung ương; tổng hợp lập báo cáo tổng quyết toán thu,
chi ngân sách nhà nước trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội phê chuẩn; đồng gửi
cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
6) Cơ quan thu có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân có nhiệm
vụ nộp ngân sách nhà nước lập các chứng từ thu ngân sách nhà nước theo đúng mẫu quy
chi được cấp có thẩm quyền quyết định tiếp tục được thực hiện trong năm sau.
Kết dư ngân sách được xử lý như sau:
Biên soạn: ThS. Trần Thùy Linh
Bài giảng Luật NSNN
1) Kết dư ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh được chuyển 50% vào quỹ dự trữ tài
chính, 50% vào thu ngân sách năm sau. Trường hợp quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới
hạn theo quy định thì chuyển toàn bộ vào thu ngân sách năm sau.
2) Kết dư ngân sách cấp huyện và ngân sách xã được chuyển vào thu ngân sách năm sau
(100%).
CHƯƠNG IV
PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
4.1. Khái niệm và phân loại thu ngân sách Nhà nước:
4.1.1. Khái niệm thu NSNN và pháp luật thu NSNN
Thu ngân sách Nhà nước là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhằm tập trung một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị theo những hình thức
và biện pháp phù hợp để hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước.
Xét về bản chất, thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ phân phối của cải
xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Đó là việc nhà nước dùng quyền
lực chính trị của mình để tham gia vào việc phân chia của cải xã hội được các chủ thể
khác nhau trong xã hội tạo ra. Đối tượng của hoạt động thu ngân sách Nhà nước là của
cải xã hội biểu hiện dưới hình thức giá trị.
Nội dung vật chất của thu ngân sách nhà nước thể hiện ở việc nhà nước tập trung
vào trong tay mình những nguồn vốn tiền tệ để hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước.
Đây là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nứơc nhằm đảm bảo chức năng và nhiệm vụ
của bộ máy nhà nước là phục vụ lợi ích công cộng và duy trì sự tồn tại của nhà nước. Do
đó, thu ngân sách nhà nước là hoạt động có vai trò quan trọng của nhà nước, góp phần tạo
ra thu nhập tài chính để đáp ứng nhu cầu công cộng và nhu cầu chi tiê của bộ máy nhà
nước.
Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của các nguồn của cải mà Nhà nước quy định
các hình thức và biện pháp phù hợp nhằm tập trung một phần của cải xã hội vào quỹ ngân