1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) từ xưa đến nay vẫn luôn giữ vai trò quan
trọng trong đời sống hàng ngày của con người.
Hiện nay có nhiều khái niệm và LSNG khác nhau. Theo “ Đề án quốc
gia về bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 - 2020” có định nghĩa:
LSNG bao gồm tất cả những sản phẩm tái tọa được ngoài gỗ, củi và than,
LSNG được khai thác từ rừng đất rừng hoặc từ thân cây gỗ. LSNG bao gồm
các sản phẩm có sợi (gồm tre, nứa, mây, song…), các sản phẩm dùng làm
thực phẩm (gồm các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật và các sản phẩm từ
động vật), các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm triết xuất (gồm dầu
béo, tinh dầu, nhựa và tananh, thuốc nhuộm…), động vật và các sản phẩm
động vật không làm thực phẩm và làm thuốc (gồm động vất sống chim, côn
trùng sống, da, sừng, lông vũ và nhựa cánh kiến đỏ…), các sản phẩm khác…
(Đại học Lâm nghiệp, 10/2005) [1].
Vì vậy việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển LSNG góp phần bảo vệ
tính đa dạng sinh học, nguồn gen của hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nâng cao giá
trị sử dụng và giá trị kinh tế của các loài LSNG chủ yếu là định hướng nghiên
cứu lâu dài của các nhà lâm nghiệp nói chung và các nhà khoa học nghiên cứu
về LSNG nói riêng. Việc nghiên cứu xây dựng quy trình trồng chăm sóc, chế
biến LSNG là hoạt động cấp thiết hiện nay. Trong đó công tác tạo giống đóng
vai trò quan trọng không thể thiếu trong quy trình này.
Hiện nay có 2 phương pháp tạo giống phổ biến: phương pháp nhân giống
vô tính và phương pháp nhân giống hữu tính. Nhân giống bằng hom là phương
thức đang được áp dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính. Nhân giống
bằng hom có hệ số nhân giống cao, cây giữ được những đặc điểm di truyền quý từ
cây mẹ. Cây đồng đều thuận lợi cho việc chăm sóc, sớm ra hoa kết quả và có thể
sản xuất giống theo tính công nghiệp. Do những ưu việt của mình mà nhân giống
bằng hom đang được sử dụng hầu hết trong công tác chọn giống cây trồng (Mai
giâm hom như: chọn hom giâm, xử lí hom giâm, kỹ thuật cắt hom, kỹ thuật
giâm hom…cách pha chế thuốc tìm hiểu quá trình sinh trưởng của cây từ đó
áp dụng vào thực tế sản xuất.
Tạo cơ hội để sinh viên làm quen, tìm hiểu kiến thức ngoài thực tế giúp
cho công việc sau này.
Cây Mẫu đơn đỏ là cây LSNG thường dùng làm cảnh và làm thuốc.
2
3
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm loài cây nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm hình thái
Mẫu đơn đỏ (Ixora coccinea) hay Đơn đỏ, Trang đỏ, Long thuyền hoa,
Nam mẫu đơn. Thuộc bộ Gentianales, họ Rubiaceae, chi Ixora (Đại học quốc
gia Hà Nội, 2001) [1].
Mẫu đơn là một cây sống lâu năm, có thể cao 1 - 1.5m có thể cao đến
3m phân cành nhánh nhiều, lá rộng bản, mọc đối thẳng đứng, hình trứng tròn,
đầu lá có từ 3 - 5 khía, cuống lá dài, bề mặt lá màu xanh lục, mặt trái màu tro
lục có phấn trắng, trơn nhẵn không lông hoặc lông mịn nhỏ. Hoa lưỡng tính,
mọc đơn trên đầu cành, đường kính từ 10 - 30cm, nhiều nhụy đực, toàn bộ bị
hoa bàn bao vây, cánh nụ 5 màu lục, cánh hoa nguyên bản có từ 5 - 6 cánh,
trải qua thời gian di thực trồng một bộ phận cánh nhụy đực biến thành cánh
hoa, hoa trở thành cánh kép, có 3 - 4 tầng. Số cánh hoa ít gọi là “đa điệp”, hoa có
màu sắc từ trắng, vàng, phấn, đỏ, tím, tím than hoa kết thành trái chùm loại quả,
có bẹ chín nứt ra, gọi là loại cỏ “cốt đột” quả đầy lông mền mịn, quả màu đỏ tím
dài 5 - 6mm, rộng 6 - 7mm. Mỗi ô có một hạt, dài 4 - 5mm, rộng 3 - 4mm, phía
lưng phồng lên, còn phía bụng thì lõm vào (Đỗ Tất Lợi, 2006) [6].
2.1.2. Phân bố
Xuất xứ hoa từ cao nguyên Tây Bắc Trung Quốc, trong thung lũng Thiểm
Cam Ninh, Sơn cốc Ba quận thuộc dải Tần Linh. Hiên nay trong vùng núi các
được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên
phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một
tế bào ban đầu cho 2 tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành
phần hóa học giống như tế bào ban đầu.
Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều
chính xác cho các tế bào con, ở thời kỳ đầu của nguyên phân, NST tự tái bản
trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang để phân chia về các tế bào
con đảm bảo cho tế bào con có bộ NST như nhau. Nhờ có quá trình nguyên
phân mà khối lượng cơ thể tăng lên sau đó nhờ quá trình phân hóa các cơ
quan trong quá trình phát triển cá thể tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây
là quá trình đảm bảo cho cây con tồn tại tính trạng cây mẹ.
Hom cành và hom thân là hom được cắt từ một phần cây non từ chồi
hoặc cành non của cây. Một số loài như tre, Luồng hom giâm có thể là một
4
5
đoạn thân gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân. Hom của các loài cây
gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi
vượt). Các loại cành giâm thường là cành non, cành hóa gỗ ,chủ yếu là cành
nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy theo từng loài cây và điều kiện thời tiết lúc
giâm hom mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất.
Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây. Một số loài cây có thể dùng rễ
để giâm hom như: Xoan, Hồng…ngoài ra ở một số loài người ta có thể giâm
hom từ lá hoặc từ củ.
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất sứ của cây, có loài
hom có khả năng ra rễ cao, có loài hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ
tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt khả năng ra rễ tốt hơn là cành lấy
từ tán cây. Tùy từng loài mà lấy hom ở tuổi và vị trí nào cho phù hơp (Lê
Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
2.2.3. Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thanh rễ bất định
sát bên ngoài tượng tầng. Thời gian hình thành rễ của hom giâm ở các loài
cây khác nhau biến động khá lớn từ vài ngày với các loài cây dễ hình thành rễ
và tới vài tháng với các loài khó ra rễ như chè, trà mi, sến…
Mức độ hóa gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ
nhiều, hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính
là hiện tượng phổ biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt hom
cho đúng chiều (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm
2.2.4.1. Các nhân tố nội sinh
* Đặc điểm di truyền loài
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả
năng ra rễ như nhau. Nanda (1970) đã dựa trên khả năng ra rễ để chia ra các
loài cây gỗ thành 3 nhóm chính là:
• Nhóm có khả năng ra rễ cao gồm 29 loài như số loài thuộc các chi Malus sp,
Prunus sp, Pyus sp thuộc họ Rosaceae, một số chi khác như Aesculus sp,
Bauhinia sp
• Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó có các chi
Eucaluptus sp, Quercus sp
• Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài như các chi Malus sp, Prunus sp, Pyrus sp thuộc
họ Rosaceae…
6
7
Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối vì có một số
loài ở nhóm 2, nhóm 3 vẫn dễ ra rễ như gạo, liễu sam, vân sam. Do vậy, theo
khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là:
• Nhóm sinh sản bằng hom cành chủ yếu là thuộc họ Dâu Tằm (Moraceae) như
Dâu Tằm, Sung, Dương một số loài thuộc họ liễu (Salicaseae) và các loài
cây nông nghiệp như Sắn, Mía, Khoai lang, Rau muống đối với những loài
cây này khi giâm hom không cần phải xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường.
• Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở
cành cấp 1 cao hơn cành cấp 2, cấp 3, cành chồi vượt cao hơn cành lấy từ tán
cây, vì vậy đối với nhiều loài cây người ta thường xử lý cho cây ra chồi vượt
để lấy hom giâm. Tuy nhiên khả năng ra rễ của cành chồi vượt cũng thay đổi
theo vị trí lấy hom. Theo thực nghiệm thì đoạn ngọn có tỷ lệ ra rễ thấp nhất,
các đoạn giữa có tỷ lệ rễ tăng dần lên, đến đoạn gốc thì lại giảm xuống. Nhìn
chung cây non và cành nửa hóa gỗ cho tỉ lệ ra rễ cao nhất, song tùy loài cây
mà ảnh hưởng của tuổi cây và tuổi cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của
hom giâm được thể hiện khác nhau. Qua nghiên cứu mới xác nhận được tuổi
cây và tuổi cành thích hợp cho giâm hom ở từng loài (Lê Đình Khả, Dương
Mộng Hùng, 2003) [3].
*Sự tồn tại của lá trên hom.
Lá là cơ quan quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây,
đồng thời là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán tác dụng của các chất kích
thích ra rễ đến các bộ phận của hom. Lá là cơ quan điều tiết các chất điều hòa
sinh trưởng ở giâm hom, vì thế khi giâm hom nhất thiết phải để lại một diện
tích lá cần thiết. Không có là thì hom giâm không thể ra rễ, song để lại diện
tích quá lớn thì quá trình thoát hơi nước quá mạnh làm hom bị héo và chết
trước lúc có thể ra rễ. Khi chuẩn bị hom giâm, hom phải có 1 - 2 lá, và phải
cắt bớt một phần phiến lá, chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá (Lê Đình Khả,
Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
* Kích thước hom
Đường kính và chiều dài hom cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom
giâm. Các trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng cho thấy chiều dài hom Bạch
đàn, keo từ 7 - 10cm, Phi lao 10 - 12cm là thích hợp. Tuy nhiên, để xác định
kích thước hom thích hợp cho mỗi loài cây cần phải xác định bằng thực
nghiệm (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
8
9
*Các chất điều hòa sinh trưởng
Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là quan trọng
9
10
Điều kiện chiếu sáng cho cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng đến khả
năng ra rễ của hom giâm. Và điều kiện lấy hom ở xa nơi giâm hom cũng ảnh
hưởng đến khả năng ra rễ và sinh trưởng của hom giâm (Lê Đình Khả, Dương
Mộng Hùng, 2003) [3].
* Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một nhân tố ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm.
Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm
hom. Một số loài cây có thể giâm hom quanh năm, song nhiều loài cây có tính
thời vụ rõ rệt. Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) thì mùa mưa là mùa
giâm hom có tỉ lệ ra rễ nhiều nhất ở các loài cây, trong khi một số loài khác
lại có tỉ lệ ra rễ nhiều hơn và mùa xuân. Hom được lấy trong các thời kỳ cây
mẹ hoạt động sinh trưởng mạnh có tỉ lệ ra rễ cao hơn các thời kỳ khác (Lê
Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
Thời vụ giâm hom đạt kết quả thấp hay cao thường gắn liền với yếu tố
cơ bản là diễn biến khí hậu trong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái
sinh lý của cành. Hầu hết các loài cây đều sinh trưởng mạnh trong mùa xuân -
hè (mùa mưa) và sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông. Vì thế,
thời kỳ giâm hom tốt nhất cho các loài cây là các tháng xuân - hè và đầu thu.
* Ánh sáng
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của mọi sinh
vật. Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong việc ra rễ của hom giâm (Tewari,
1994). Không có ánh sáng và không có lá thì hom giâm không có hoạt động
quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không thể có hoạt động
ra rễ
Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo
nhiệt độ cao nên thường làm giảm đáng kể tỷ lệ ra rễ. Chất lượng ánh sáng
cũng ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Theo Kiomiasov
(1964) thì ánh sáng tự nhiên là cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi tùy theo loài, theo mức độ hóa
gỗ của hom. Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp
làm tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá.
Trong mùa lạnh thời gian phun và thời gian ngắt quãng có thể kéo dài, trong
mùa nắng thì ngược lại. Nên áp dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại để xây
dựng vườn ươm giâm hom kỹ thuật cao có thể điều tiết các yếu tố cần thiết
cho giâm hom hợp lý (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
11
12
* Giá thể và môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần vào thành công của giâm hom, các giá thể được
dùng hiện nay chủ yếu là cát tinh mùn cưa, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B hoặc
có sự trộn lẫn giữa chúng với cát tinh.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng không khí tốt và
duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước (trừ trường hợp giá
thể là môi trường nước), không bị nhiễm nấm bệnh. Độ pH khoảng 6 - 7.
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom cây Bạch đàn
trắng trong các loại ruột bầu khác nhau tại Đông Nam Bộ của GS. TS Lê Đình
Khả, Kỹ sư Đoàn Thị Bích, Trần Cự cho thấy:
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa, tỷ lệ ra rễ của hom là 74.1%.
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu, tỷ lệ ra rễ của hom
giâm là 72.1%.
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% xơ dừa, tỷ lệ ra rễ của hom là 74.1%.
- Nếu ruột bầu là 50% xơ dừa + 50% than trấu, tỷ lệ ra rễ của hom là 63.9%.
- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom giâm là 67.3%
- Nếu ruột bầu 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48.3%.
- Nếu ruột bầu là 100% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62.5%.
* Các nhân tố của chất kích thích
- Loại thuốc
Các loại chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong
Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [3].
- Thời gian xử lý:
Cùng loại thuốc cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau sẽ cho
tỷ lệ ra rễ khác nhau
Giữa nồng độ, thời gian, nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định:
nồng độ thấp thời gian xử lý lâu hơn và ngược lại, nhiệt độ không khí cao cần
xử lý nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn và ngược lại (Lê Đình Khả, Dương
Mộng Hùng, 2003) [3].
Phương pháp xử lý
Hom thường được xử lý bằng 2 phương pháp: ngâm phần gốc vào dung
dịch chất kích thích ra rễ. Nếu nồng độ thấp ngâm từ 3 – 6 giờ, nếu nồng độ cao
ngâm từ 5 – 10 giây.Chấm phần gốc của hom vào hóa chất kích thích dạng bột từ
0.5 – 1 cm (Mai Quang Trường, Lương Thị Anh, 2007) [10].
Tóm lại, để giâm hom thành công thì phải thực hiện đầy đủ đồng bộ các
biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ, đến cấy hom giâm, tạo điều
kiện thích hợp nhất cho hom giâm ra rễ.
13
14
2.3. Những nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng và phát triển cây Mẫu đơn
đỏ trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, đóng vai trò vô cùng to lớn
đối với sự sống trên trái đất. Rừng là lá phổi xanh của nhân loại tuy nhiên
hiện nay với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế đã làm suy giảm nghiêm
trọng nguồn tài nguyên quý giá này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con
người. Với tình hình trên con người ngày càng trú trọng và đầu tư vào trồng
rừng, để trồng rừng có hiệu quả thì công tác nhân giống vô cùng quan trọng.
Với sự đóng góp của các nhà khoa học nghành lâm nghiệp đã và đang nỗ lực
tìm ra những phương pháp tạo giống cây mới đóng góp vào cải thiện giống
cây rừng.
hom cây rừng nói chung và những cảnh quan nói riêng. Năm 1976, lần đầu
tiên Việt Nam đã thử nghiệm nhân giống hom với một số loài cây như Bạch
đàn, Thông được tiến hành tại Phù Ninh, Phú Thọ.
Năm 1984, Nguyễn Ngọc Tâm đã giâm hom thành công loài cây Mỡ từ
cây non hoặc gốc trưởng thành. Ông cho biết tỷ lệ ra rễ là 40% ở hom chưa
hóa gỗ ở cây Mỡ khi các hom này chưa được xử lý với thuốc 2.4D nồng độ
50ppm trong 3 giây .
Năm 1990, Nguyễn Hoàng Nghĩa nhân giống cây Sở bằng hom cành xử lý
thuốc NAA ở một công thức thích hợp cho tỷ lệ ra rễ ở hom giâm là 80%
(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [8]. Lê Đình Khả và Đoàn Thị Bích giâm hom
Bạch đàn trắng bằng thuốc xử lý IBA nồng độ 75ppm cho tỷ lệ ra rễ cao hơn
27.5% so với công thức đối chứng (Lê Đình Khả và các cộng sự,1997) [5].
Từ năm 1990 trở lại đây, các nhà khoa học Lê Đình Khả, Phạm Văn
Tuấn và Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành giâm hom các loài Bạch đàn
(1990 - 1991), cây Sở (Lạng Sơn, 1990), Keo lá chàm và Keo lai (1995),
Bách xanh (1999), Pơ mu (Lâm Đồng, 1997), Thông đỏ (Ba vì, 1995).
Trung tâm nghiên cứu cây rừng viện khoa học Việt Nam sau một thời
gian nghiên cứu đã thực hiện thành công việc sản xuất cây hom Bạch đàn
trắng và Keo lai theo kế hoạch của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
phê duyệt trong 3 năm 1996 - 1998.
Theo bản tin dự án trồng mới 5 triệu ha rừng số 4 - 2005 nhân giống
một số loài cây rừng bằng phương pháp giâm hom đã có nhiều triển vọng:
15
16
- Đối với Pơ mu có độ tuổi từ 2 - 8 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc đã
qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85 - 95% khi xử lý bằng NAA 1.5% với giá thể
làm bằng cát hay trực tiếp trong túi bầu.
- Đối với cây Bách xanh ở độ tuổi từ 2 - 10 tuổi lấy cành của cây trưởng thành
hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85 - 95% khi xử lý IBA 1% với giá thể
bằng cát.
bình10-15
0
, độ cao trung bình 50-70m, địa hình thấp dần từ Tây bắc xuống
Đông Nam.
Vườn ươm khoa lâm nghiệp thuộc trung tâm thực hành thực nghiệm
của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Nằm ở khu vực chân đồi, hầu
hết đất ở đây là loại đất Feralit phát triển trên đá Sa thạch. Do vườn ươm mới
chuyển đến về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở
đồi tương đối tốt.
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
Độ sâu
tầng đất
(cm)
Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất
Mùn N P
2
0
5
K
2
O N P
2
O
5
K
2
O PH
1-10 1.776 0.024 0.241 0.035 3.64 456 0.90 3.5
10-30 0.670 0.058 0.211 0.060 3.06 12 0.44 3.9
30-60 0.711 0.034 0.131 0.107 0.107 3.04 3.05 3.7
2 17.3 80 10.8
3 16.7 82 9.3
4 23.4 83 30.1
5 27.8 84 20.6
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn cầu Gia Bẩy)
Qua bảng 2.2 ta thấy rằng, khí hậu khu vực vườn ươm Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên từ tháng 2 – 5 có nhiệt độ, độ ẩm không khí trung bình
thích hợp cho việc giâm hom.
18
19
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hom Mẫu đơn đỏ lấy tại trường
Đại học Nông Lâm
3.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu
Chuẩn bị hom, theo dõi và thu thập thông tin từ ngày 23/2/2012 đến
ngày 20/5/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài nghiên cứu những nội dung sau:
- Xác định thời gian ra rễ của hom theo định kỳ 10 ngày một lần
- Xác định tỷ lệ ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ cuối đợt thí nghiệm
- Xác định chất kích thích và nồng độ phù hợp cho giâm hom cây Mẫu đơn đỏ
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Số hom sống
- Số hom ra rễ
- Số rễ/ hom (cái)
- Chiều dài rễ
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các bước tiến hành
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu
150ppm, 200ppm, 250ppm, 300ppm lên giâm hom cây Mẫu đơn đỏ.
Mỗi công thức thí nghiệm có 30 hom. Tiến hành thí nghiệm với 3 lần
lặp lại và thí nghiệm được bố trí theo công thức:
- Công thức I: nồng độ NAA là 150ppm.
- Công thức II: nồng độ NAA là 200ppm.
- Công thức III: nồng độ NAA là 250ppm.
- Công thức IV: nồng độ NAA là 300ppm.
- Công thức V: công thức không dùng thuốc (công thức đối chứng).
Giữa các công thức được ngăn cách với nhau bởi những khoảng đất.
Mỗi công thức sử dụng 30 hom thí nghiệm và đều nhắc lại 3 lần. Mỗi
lần nhắc lại có một ô đối chứng, mỗi ô đối chứng có 30 hom. Như vậy tổng số
hom của toàn thí nghiệm là 450 hom giâm. Ta có sơ đồ bố trí thí nghiệm cho
các công thức như sau:
20
21
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí các công thức thực nghiệm
Lần nhắc lại Công thức thí nghiệm
1
I (150ppm)
Đối chứng
II (200ppm)
III (250ppm)
IV (300ppm)
2
I (150ppm)
Đối chứng
II (200ppm)
III(250ppm)
IV (300ppm)
3
Vòm che vừa đủ rộng để nilon không chạm vào hom gây ảnh hưởng đến
khả năng ra rễ của hom.
* Xử lý giá thể
Đất đóng vào bầu và xếp vào luống, tiến hành xử lý bằng dung dịch thuốc
tím (KMnO
4
) 0.3% trước khi căm hom 24h và được tưới thấm ướt cả bầu đất.
Trước khi giâm hom 1h tưới rửa bằng nước sạch rồi tiến hành cắm hom.
* Tiêu chuẩn của giâm hom
Hom ngọn cây Mẫu đơn đỏ ở trạng thái bánh tẻ, khỏe mạnh không sâu
bệnh, không bị tổn thương cơ giới, có chiều dài từ 10 -15cm có thể có một
ngọn hoặc một số nhánh nhỏ, có lá tồn tại trên hom.
* Cắt hom
Đầu hom cắt vát nghiêng 1 góc 45º. Dùng dao sắc để tránh dập nát và
tạo bề mặt nghiêng tiếp xúc với thuốc dễ hơn khi xử lý, thuận lợi cho việc
hình thành mô sẹo thúc đẩy hom ra rễ. Tỉa bớt lá ở gần gốc để cắm hom dễ
dàng bơm hơn.
Hom cắt để theo một chiều từ gốc đến ngọn để khi cắm thao tác nhanh.
Toàn độ hom cắt xong cho vào chậu nước. Sau đó ta tiến hành ngâm các hom
đã cắt vào thuốc xử lý nấm cho hom giâm. Sau đó ta bỏ hom đã xử lý nấm ra,
chờ cho hom ráo nước thì tiến hành xử lý bằng thuôc kích thích ra rễ.
* Cắm hom
Trước khi cắm hom ta tiến hành tưới qua luống giâm bằng nước lã sạch
vừa rửa sạch phần thuốc tím đọng lại vừa bổ sung thêm độ ẩm cho giá thể
trước khi giâm hom.
22
23
Hom sau khi được cắt rửa sạch bằng nước lã ngâm vào dung dịch thuốc
Viven C50 0.15% trong vòng 10 phút để diệt nấm bệnh, sau đó vớt ra rửa lại
bằng lã sạch để ráo nước rồi chấm vào dung dịch thuốc kích thích ra rễ sau đó
24
phải tưới 2 lần/ngày, lượng nước tưới khoảng 1 - 1.5 lít/2m
2
bầu, có thể phun
ở dạng sương hoặc dạng hạt to hơn.
Giai đoạn sau 25 – 35 ngày tuổi: lúc này rễ đã hình thành cây hút được chất
dinh dưỡng và nước từ đất. Do vậy phải tưới nước thường xuyên 1 lần/ ngày,
lượng nước tưới 2 - 2.5 lít/2m
2
bầu. Có thể dùng ô doa để tưới cho hom giâm, khi
thời tiết thay đổi thì lượng nước tưới cũng như số lượng tưới tăng hoặc giảm.
Giai đoạn 35 ngày tuổi trở đi thì bộ rễ phát triển mạnh cây con đã hoàn
chỉnh và khỏe mạnh vì vậy có thể tưới 1 - 2 ngày tưới 1 lần.
- Điều chỉnh ánh sáng
Đa số các loài cây giâm hom đều cần ánh sáng tán xạ khoảng 40 - 50%
trong quá trình thí nghiệm tôi đã điều chỉnh ánh sáng cụ thể như sau:
Giai đoạn từ khi cắm hom đến 15 ngày tuổi: phủ kín vòm che bằng
nilon trắng nhằm đảm bảo hom có đủ ánh sáng để quang hợp, tổng hợp chất
dinh dưỡng để nuôi hom. Giàn che phủ bằng lưới đen có chiều cao phù hợp
cho đi lại chăm sóc thuận tiện.
Giai đoạn từ 15 - 35 ngày tuổi: lúc này hom đã ra rễ có thể sống độc lập
ngoài môi trường. Tôi tiến hành bỏ dần nilon ở vòm che ra vào buổi tối và
những lúc trời mát, vào những lúc trời nắng to lại đậy lại. Làm như vậy nhằm
giúp cây dần thích nghi được với điều kiện môi trường.
Giai đoạn sau 35 ngày tuổi: bỏ hẳn vòm che nhưng vẫn để lại lưới đen
trên mái che. Đây là thời kỳ huấn luyện cây hiệu quả giúp cây có khả năng
thích ứng cao với môi trường khi đem ra trồng.
- Thu thập số liệu
Sau khi giâm hom tôi tiến hành chăm sóc và bắt đầu theo dõi về dấu
hiệu và sự hình thành mô sẹo của hom giâm và từ hình thành mô sẹo là cơ sở
(công thức 4)
Σ số hom ra rễ
Chỉ số ra rễ = Số rễ TB/hom x chiều dài rễ TB
(công thức 5)
Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng nồng độ tại mỗi công thức có thể ảnh
hưởng tới khả năng ra rễ hay không tôi dùng phương pháp phân tích phương
sai một nhân tố để kiểm tra. Ta coi mỗi nồng độ của các công thức là một
nhân tố.
Số liệu thu thập được sẽ được hệ thống tính toán thông qua các quy
trình toán học trong toán học Lâm nghiệp và sẽ được trình bày ở phần phụ lục
(Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi, 1996) [5].
25