385 câu hỏi và đáp về hóa học đời sống - Pdf 13


385 câu hỏi và đáp về hóa học với đời sống
1
Lời nói đầu
Giáo dục thế kỉ 21 dựa trên cơ sở xây dựng xã hội học tập với 4 trụ cột là:
- Học để biết (cốt lõi là hiểu)
- Học để làm (trên cơ sở hiểu)
- Học để cùng sống với nhau (trên cơ sở hiểu nhau)
- Học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân)
Mặt khác trước sự bùng nổ thông tin và sự lão hoá nhanh của kiến thức
con người muốn tồn tại và phát triển đều phải học thường xuyên, học suốt
đời.
Hoá học là một khoa học nghiên cứu các chất và sự biến đổi của chúng.
Các chất tạo nên mọi vật thể của thế giới vô sinh và hữu sinh, chính chúng tạo
nên cả cơ thể chúng ta.
Hoá học chế ra những chất rắn hơn kim cương, bền hơn sắt thép, trong
hơn pha lê, đẹp hơn nhung lụa.
Cuốn sách “385 câu hỏi và đáp về hoá học với đời sống” giúp các em
học sinh mở rộng kiến thức hoá học và nhất là tập vận dụng kiến thức để giải
thích các hiện tượng thường gặp trong đời sống, lao động sản xuất, thiên
nhiên và môi trường. Cuối sách giúp cho sự hiểu biết về hoá học của các em
sâu sắc,hơn và hữu ích hơn.
Đối với các thầy cô giáo, cuốn sách cung cấp thêm tư liệu để cho các
bài dạy học trên lớp phong phú, sinh động hơn và hấp dẫn hơn.
Tác giả
2
1. Phèn chua là chất gì ?
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali. ở dạng tinh thể ngậm
24 phân tử H
2
O nên có công thức hoá học là K

xuống làm trong nước.
Anh đừng bắc bậc làm cao
Phèn chua em đánh nước nào cũng trong
Phèn chua rất cần cho việc xử lí nước đục ở các vùng lũ để có nước
trong dùng cho tắm, giặt.
Vì cục phèn chua trong và sáng cho nên đông y còn gọi là minh phàn
(minh là trong sáng, phàn là phèn).
Theo y học cổ truyền thì:
Phèn chua, chua chát, lạnh lùng
Giải độc, táo thấp, sát trùng ngoài da
Dạ dày, viêm ruột, thấp tà
Dùng liều thật ít, thuốc đà rất hay
Phèn chua làm hết ngứa, sát trùng vì vậy sau khi cạo mặt xong, thợ cắt
tóc thường lấy một miếng phèn chua to xoa vào da mặt cho khách.
Phèn chua dùng để bào chế ra các thuốc chữa đau răng, đau mắt, cầm
máu, ho ra máu (các loại xuất huyết).
3
2. Hàn the là chất gì ?
Hàn the là chất natri tetraborat (còn gọi là borac) đông y gọi là bàng sa
hoặc nguyệt thạch, ở dạng tinh thể ngậm 10 phân tử H
2
O (Na
2
B
4
O
7
.10H
2
O).

Mì chính là muối natri của axit glutaric, một amino axit tự nhiên, quen
thuộc và quan trọng. Mì chính có tên hoá học là monosodium glutamat, viết
tắt là MSG. MSG có trong thực phẩm và rau quả tươi sống ở dạng tự do hay ở
4
dạng liên kết với protein hoặc lipít. Tuy ở hàm lượng thấp, song chức năng
của nó là một gia vị, tăng vị cho thực phẩm, làm nổi bật sự tươi sống, còn
trong chế biến làm tăng sự ngon miệng. Người Hoa (và nhiều dân tộc Châu á)
đã lợi dụng chức năng này trong kĩ xảo ẩm thực để chế biến các món ăn thêm
phần ngon miệng trong các nhà hàng Trung Quốc. Bản thân MSG không phải
là một vi chất dinh dưỡng và chỉ có MSG tự do dạng đồng phân L mới là chất
tăng vị, còn ở dạng liên kết với protein và lipit thì không có chức năng này.
Những thức ăn giàu protein như sữa, thịt, cá… chứa nhiều MSG dạng liên
kết. Ngược lại ở rau, quả, củ lại tồn tại ở dạng tự do như nấm có 0,18%, cà
chua 0,14%, khoai tây 0,1%.
Người Nhật lúc đầu phân lập MST từ tảo biển, còn ngày nay MSG
được tổng hợp bằng công nghệ lên men.
Mì chính là một gia vị nhà hàng, đôi khi hỗ trợ cho một kĩ thuật nấu ăn
tồi, thường bị lạm dụng về liều lượng.
Đã có những phát hiện về di chứng của bệnh ăn nhiều mì chính mà
người ta gọi là “hội chứng hiệu ăn Tàu”: Nhẹ thì có cảm giác ngứa ran như
kiến bò trên mặt, đầu hoặc cổ có cảm giác căng cứng ở mặt. Nặng thì nhức
đầu, chóng mặt, buồn nôn.
Như vậy mì chính có độc hại không? Đã không ít lần MSG được đem
ra bàn cãi ở các tổ chức lương nông thế giới (FAO) Y tế thế giới (WHO). Uỷ
ban chuyên gia về phụ gia thực phẩm (JECFA). Lần đầu tiên (1970) được
quy định rằng lượng MGS sử dụng an toàn hàng ngày là 0 →120mg/kg thể
trọng, không dùng cho trẻ em dưới 3 tháng tuổi. Năm 1979 lại được quy định
tăng lên là - 150mg/kg thể trọng. Tới năm 1986 JECFA lại xem xét lại và xác
định là MSG “không có vấn đề gì”.
Tóm lại, MSG là an toàn trong liều lượng cho phép. Điều đáng lưu ý là

visco, sản xuất từ năm 1905, đến nay vẫn chưa mất ý nghĩa. Sợi visco thu
6
được từ dung dịch xenluloza đậm đặc trong xút loãng. Từ năm 1910 đến
1920, người ta tiến hành sản xuất công nghiệp từ xenlulozơ axetat.
Lịch sử sợi tổng hợp bắt đầu năm 1932. Lúc đó, ở Đức bắt đầu sản
xuất công nghiệp sợi tổng hợp đầu tiên là polivinylclorua dùng vào mục đích
kỹ thuật. Khi clo hoá tiếp polivinylclorua ta được nhựa peclovinyl, từ đó có
thể sản xuất ra loại sợi bền về mặt hoá học: sợi clorin. Năm 1930, người ta bắt
đầu sản xuất sợi từ nhựa poliamit, là polime tổng hợp tương tự protein. Trong
phân tử của chúng, cũng giống như trong protein, có các nhóm amit- CO-NH-
lặp lại nhiều lần. Các sợi poliamit đầu tiên là nilon và capron, về một số tính
chất còn tốt hơn cả tơ thiên nhiên. Những sợi tổng hợp có bản chất hoá học
khác như polieste, poliolefin (trên cơ sở trùng hợp etylen),v.v… cũng xuất
hiện.
Vê nguyên lý, công nghệ sản xuất sợi tổng hợp là đơn giản: đùn khối
nóng chảy hoặc dung dịch polime qua những lỗ rất nhỏ của khuôn kéo vào
một buồng chứa không khí lạnh, tại đây, quá trình đóng rắn xảy ra, biến dòng
polime thành sợi. Bằng cách đó, ta thu được sợi capron và nilon.
Chỉ tơ hình thành liên tục được cuốn vào ống sợi.
Nhưng không phải tất cả các loại sợi hoá học đều được sản xuất đơn
giản như vậy. Quá trình đóng rắn sợi axetat xảy ra trong môi trường không
khí nóng, để đóng rắn chỉ tơ của sợ visco và một loại sợi khác lại xảy ra trong
các bể đông tụ chứa các hoá chất lỏng được chọn lọc đặc biệt. Trong quá trình
tạo sợi, trên các ống sợi người ta còn kéo căng để các phân tử polime dạng
chuỗi trong sợi có một trật tự sắp xếp chặt chẽ hơn (sắp xếp song song nhau).
Khi đó, lực tương tác giữa các phân tử tăng lên làm độ bền cơ học của sợi
cũng tăng lên. Nói chung, tính chất của sợi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác nhau như thay đổi tốc độ nén ép, thành phần và nồng độ các chất trong
bể đông tụ, nhiệt độ của dung dịch kéo sợi và của bể đông tụ (hoặc buồng
không khí), thay đổi kích thước lỗ của khuôn kéo. Lỗ càng nhỏ thì sợi càng

C
6
H
4
Là một sterol chính có phổ biến trong mô người, động vật và một số
thực vật, dưới dạng tự do hay este với axit béo mạch dài là chất cần thiết cho
cơ thể (thành phần của protein, huyết thanh, màng tế bào, chất tạo homon giới
tính, axit mật…) nhưng nếu có nhiều cholesterol trong máu sẽ tạo điều kiện
cho chất béo giàu axit béo no bám vào thành trong của động mạch đến mức
có thể ngăn máu không lưu thông.
9. ADN là chất gì ?
Là những axit nucleic và có phân tử khối lên tới hàng chục triệu đvc (hay u).
ADN là thành phần chủ yếu của nhiễm sắc thể trong nhân tế bào của
phần lớn sinh vật, có vai trò quyết định những đặc trưng di truyền bằng cách
điều chỉnh sự tổng hợp protein trong tế bào.
10. Quả ớt và hạt tiêu chứa chất cay là chất gì ?
Chúng có những loại ancaloit khác nhau. Ancaloit là loại hợp chất hữu
cơ có chứa nitơ có tính bazơ, thường có nguồn gốc thực vật, đa số có cấu trúc
phức tạp, thường là các chất dị vòng.
Ancaloit trong ớt có tên là capsicain. Chất này pha loãng 10 vạn lần
vẫn còn rất cay.
Ancaloit trong hạt tiêu là hai chất có tên là chavixin và piperin. Chất
chavixin tạo ra vị cay hắc của hạt tiêu.
11. Cồn khô là chất gì ?
ở các nhà hàng thường dùng loại cồn khô để đốt thay cho bếp ga khi ăn
các món lẩu. Đó chính là cồn được cho vào một chất hút dịch thể, loại bột này
hiện được sản xuất vì nhiều mục đích khác nhau: cho vào tã lót, cho vào đất
chống trạng thái hạn hán kéo dài, cho vào cồn… thí dụ chất norsocryl của
hãng Snow Business có thể biến một lượng dung dịch có trọng lượng lớn hơn
chất này tới 500 lần thành chất khô.

2
O, hoặc biểu diễn thành phần chính
là CaOCl
2
. Chất bột trắng, mùi clo, phân huỷ trong nước và trong axit, điều
chế bằng cách cho clo tác dụng với vôi tôi.
2Ca(OH)
2
+ 2Cl
2
→ Ca(OCl)
2
+ CaCl
2
+ 2H
2
O
15. Nước Boocđo là gì ?
Là hồn hợp dung dịch đồng sunfat và sữa vôi, dùng làm chất diệt nấm
cho cây trồng, nhất là cho cà chua, nho (chữa bệnh xoăn lá do nấm)
16. Nước cường toan là gì ?
Là hỗn hợp gồm một thể tích dung dịch axit nitric đặc và 3 thể tích
dung dịch axit clohidric đặc. Có tính oxi hoá mạnh, hoà tan được vàng, bạch
kim và hợp kim không tan trong các dung dịch axit vô cơ thông thường.
17. Nước đá khô là gì ?
10
Là cacbon đioxit CO
2
ở dạng rắn, khi bay hơi thu nhiệt rất lớn, làm hạ nhiệt
độ của môi trường xung quanh. Dùng bảo quản thực phẩm khi chuyển đi xa.

22.Cao su là gì ?
Cao su là vật liệu có tính đàn hồi (đặc tính có thể biến dạng khi chịu lực
bên ngoài tác dụng nhưng lại trở lại hình dạng ban đầu khi lực tác dụng không
còn). Cao su có thể bị kéo dãn gấp 10 lần chiều dài ban đầu. Tính đàn hồi của
cao su là do tính linh hoạt của các phân tử trong mạch polime. Tuy nhiên
trong thực tế, cao su là hỗn hợp các polime, nên nếu lực ngoài tác động quá
11
mạnh thì cao su mất hoàn toàn tính đàn hồi. Vào năm 1839, nhà hoá học Mĩ
Charles Goodyear đã phát minh ra kĩ thuật lưu hoá cao su có tác dụng làm
tăng đặc tính cơ lí của cao su, do đó mở rộng rất nhiều khả năng ứng dụng của
nó.
Cao su thiên nhiên là poli-cis-isopren được lấy chủ yếu từ cây cao su
(Hevea barasiliensis) được trồng nhiều ở Nam Mĩ. Cây cao su được trồng ở
nước ta từ năm 1887 và hiện nay được trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông
Nam Bộ.
Cao su tổng hợp (Cao su Buna, cao su Buna-S, …) được phát triển
mạnh từ chiến tranh thế giới lần II do sự khan hiếm cao su thiên nhiên. Hầu
hết các cao su tổng hợp đều là sản phẩm của công nghiệp dầu mỏ.
23. Teflon là chất gì ?
Teflon có tên khoa học là politetrafloetilen (-CF
2
-CF
2
-)n.Đó là loại
polime nhiệt dẻo, có tính bền cao với các dung môi và hoá chất. Nó bền trong
khoảng nhiệt độ rộng từ - 190
0
C đến + 300
0
C, có độ bền kéo cao (245 -

-6
m) gọi là
sợi thuỷ tinh.
Bằng phương pháp li tâm hoặc thổi không khí nén vào dòng thuỷ tinh
nóng chảy, ta thu được những sợi ngắn gọi là bông thuỷ tinh. Sợi thuỷ tinh
không giòn và rất dai, có độ chịu nhiệt, độ bền hoá học và độ cách điện cao,
độ dẫn điện thấp.
Nguyên liệu để sản xuất sợi thuỷ tinh dễ kiếm, rẻ tiền, việc sản xuất
khá đơn giản, nên hiện nay được dùng rộng rãi trong các lĩnh vực kĩ thuật
khác nhau: sản xuất chất dẻo thủy tinh: làm vật liệu lọc; chế tạo vật liệu cách
điện: may áo bảo hộ lao động chống cháy, chống axit; lót cách nhiệt cho các
cột chưng cất: làm vật liệu liên kết trong chế tạo máy, xây dựng; chế tạo sợi
quang v.v
b- Sợi quang, còn gọi là sợi dẫn quang, là loại sợi bằng thuỷ tinh thạch
anh được chế tạo đặc biệt, có độ tinh khiết cao, có đường kính từ vài
micromet đến vài chục micromet. Do có cấu tạo đặc biệt, nên sợi quang
truyền được xung ánh sáng mà cường độ bị suy giảm rất ít. Sợi quang được
dùng để tải thông tin đã được mã hoá dưới dạng tín hiệu xung laze. Một cặp
sợi quang nhỏ như sợi tóc cũng có thể truyền được 10000 cuộc trao đổi điện
thoại cùng một lúc. Hiện nay, sợi quang là cơ sở cho phương tiện truyền tin
hiện đại, phát triển công nghệ thông tin, mạng internet điều khiển tự động,
máy đo quang học v.v…
13
Cáp quang là các sợi quang được bọc các lớp đồng, thép và nhựa.
26. Thuốc chuột là chất gì ?
Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống.
Vậy thuốc chuột là gì ? Cái gì đã làm chuột chết ? Nếu sau khi ăn thuốc mà
không có nước uống nó chết mau hơn hay lâu hơn ?
Thuốc chuột là Zn
3

nồng độ cao hơn chúng có tác dụng tiêu diệt cây cỏ. Từ đó chúng được sản
xuất ở quy mô công nghiệp dùng làm chất diệt cỏ phát quang rừng rậm. Trong
quá trình sản xuất 2,4-D và 2,4,5-T luôn tạo ra một lượng nhỏ tạp chất là
đioxin. Đó là một chất cực độc, tác dụng ngay ở nồng độ cực nhỏ (cỡ phần
tỉ) , gây ra những tai hoạ cực kì nguy hiểm (ung thư, quái thai, dị tật…).
14
OCH
2
COOH
Cl
Cl
2,4-D
OCH
2
COOH
Cl
Cl
2,4,5-T
Cl
Cl
Cl
O
OCl
Cl
§ ioxin
Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam , Đế quốc Mĩ rải xuống Miền Nam
nước ta hàng vạn tấn chất độc màu da cam trong đó chứa 2,4-D , 2,4,5-T và
đioxin mà hậu quả của nó vẫn còn cho đến ngày ngay.
28. Đen ailin là chất gì ?
Trang phục màu đen được nhiều người ưa chuộng.

=
N N
CH
2
C
CH
3
OCO
CH
3
n
Nhiều nước sản xuất thuỷ tinh hữu cơ với những tên khác nhau: acripet
(Nhật), điakon (Anh), impelex(Mĩ) veđril (ý)
30. Tuyết nhân tạo làm từ chất gì ?
Khi giả làm tuyết rơi ở rạp hát hay phim trường, giới kĩ xảo đều dùng tuyết
nhân tạo bằng chất dẻo. Tuy nhiên, khi xong việc, họ không thể thu gom hết
chúng, nhất là trên các bậu cửa, dẫn đến ô nhiễm môi trường. Các nhà hoá học
Đức đã tạo ra một loại tuyết mới, rất dễ phân huỷ, vì làm từ…tinh bột khoai tây.
Sản phẩm này là của Frithjof Baumann và cộng sự ở Viện công nghệ
Hoá học Fraunhofer ở Karlsruhe (Đức). Để làm ra nó, người ta có thể dùng
tinh bột khoai tây, ngô, thậm chí tảo biển. Khi được phun vào trong không
khí, loại tinh bột này hoá thành một dạng bọt xốp, trông giống như tuyết. Tuy
nhiên đến lúc này, Baumann vẫn chưa thể làm cho tuyết giả rơi dưới dạng
bông, mà chỉ có thể mô phỏng cách rơi của các cụm tuyết lớn. vì thế nhóm
nghiên cứu vẫn đang tiếp tục cải tiến nó.
Khi được dấp ẩm vừa phải, tuyết khoai tây sẽ dính kết với nhau vừa đủ
để đắp người tuyết hay tạo ra các cột băng, còn khi phun đẫm nước, chúng sẽ
tan ra. Trong không khí loại tuyết này rơi rất đẹp, nhưng nó không hiện ra
trên mặt đất, vì quá nhẹ.
Các nhà nghiên cứu của viện Fraunhofe đã thử nghiệm chúng trong nhà

2
) có nhiều trong cây thuốc lá. Nó là chất lỏng sánh
như dầu, không màu, có mùi thuốc lá, tan được trong nước. Khi hút thuốc lá,
nicotin thấm vào máu và theo dòng máu đi vào phổi. Nicotin là một trong
những chất độc mạnh (từ 1 đến 2 giọt nicotin có thể giết chết một con chó),
tính độc của nó có thể sánh với axít xianhiđric HCN. Nicotin chỉ là một trong
số các chất hoá học độc hại có trong khói thuốc lá (trong khói thuốc lá có
chứa tới 1400 hợp chất hoá học khác nhau). Dung dịch nicotin trong nước
được dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng. Những người nghiện thuốc lá
thường mắc bệnh ung thư phổi và những bệnh ung thư khác.
• Cafein :( C
8
H
10
N
4
O
2
) có nhiều trong hạt cà phê, lá chè. Cafein là chất
kết tinh không màu, vị đắng, tan trong nước và rượu. Cafein dùng trong y học
với lượng nhỏ có tác dụng gây kích thích thần kinh. Nếu dùng cafein quá mức
sẽ gây bệnh mất ngủ và gây nghiện.
17
• Moocphin: Có trong cây thuốc phiện, còn gọi là cây anh túc. Moocphin
có tác dụng làm giảm hoặc mất cảm giác đau đớn. Từ moocphin lại tinh chế được
heroin có tác dụng hơn moocphin nhiều lần, độc và rất dễ gây nghiện.
• Hassish:là hoạt chất có trong cây cần sa còn gọi là bồ đà có tác dụng chống
co giật, chống nôn mửa nhưng có tác dụng kích thích mạnh và gây ảo giác.
• Thuốc an thần như là seduxen, meprobamat… có tác dụng chữa
bênh, gây mất ngủ, dịu cơn đau nhưng có tác dụng gây nghiện.

trong không khí tạo ra CO
2
, phản ứng toả
nhiệt. Nhiệt toả ra được tích góp dần, khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì
than sẽ tự bốc cháy.
35. Vì sao khi đốt, khí CO cháy còn khí CO
2
lại không cháy?
Do trong CO
2
, nguyên tử C đã có số oxi hoá cao nhất là +4 rồi. Trong
CO nguyên tử C mới có số oxi hoá +2, khi tác dụng với O
2
nó tăng lên +4.
2 4
2 2
2CO O 2CO
+ +
+ →
36. Vì sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại K, Na,
Mg, bằng khí CO
2
?
Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong khí
quyển CO
2
Thí dụ: 2Mg + CO
2
→ 2MgO + C
37. Vì sao không dùng chai thuỷ tinh mà phải dùng chai bằng nhựa

40. Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Do ban đêm không có ánh sáng cây không quang hợp, chỉ hô hấp nên
hấp thụ khí O
2
và thải ra khí CO
2
làm trong phòng thiếu O
2
và quá nhiều CO
2
.
Ban ngày do có ánh sáng mặt trời, cây quang hợp nên hấp thụ CO
2

thải ra O
2
(nhớ chất diệp lục)
6nCO
2
+ 5nH
2
O (C
6
H
10
O
5
)
n
+ 6nO

3
dùng để chế thuốc đau dạ dày (bao tử) vì nó làm giảm lượng
axit HCl trong dạ dày nhờ phản ứng:
NaHCO
3
+ HCl → NaCl + CO
2
+ H
2
O
20
as
clorophin
44. Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối (NH
4
)
2
CO
3
được
dùng làm bột nở?
(NH
4
)
2
CO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng
bánh (NH
4

47. Vì sao không dùng nước chè khi uống tân dược?
Trong lá chè có chứa 20% tanin và 1 → 1,5% cafein, các chất này có
thể liên kết với một số hoạt chất của tân dược, do đó làm giảm hiệu quả của
thuốc.
48. Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
Trong sữa có thành phần protein gọi là cazein. Khi vắt chanh vào sữa
sẽ làm tăng độ chua tức làm giảm độ PH của dung dịch sữa. Tới PH đúng với
điểm đẳng điện của cazein thì chất này sẽ kết tủa. Khi làm phomat người ta
cũng tách cazein rồi cho lên men tiếp. Việc làm đậu phụ cũng theo nguyên tắc
tương tự như vậy.
49. Vì sao ăn sắn (củ mì) hay măng có khi bị ngộ độc?
21
t
0
Ăn sắn hay măng bị ngộ độc khi chúng chứa nhiều axit xianhiđric
(HCN). ở dạng tinh khiết axit xianhidric là chất khí mùi hạnh nhân, có vị
đắng và rất độc. Nhiệt độ nóng chảy là - 13,3
0
C, tan trong nước, rượu, ete và
là axit rất yếu. Trong thiên nhiên gặp ở dạng liên kết trong một số thực vật
(hạt mận, đào, củ sắn, măng tươi).
Sắn luộc hay măng luộc hoặc xào nấu có vị đắng là chứa nhiều axit
xianhiđric, có nguy cơ bị ngộ độc. Khi luộc sắn cần mở vung để axit
xianhiđric bay hơi. Sắn đã phơi khô, giã thành bột để làm bánh thì khi ăn
không bao giờ bị ngộ độc vì khi phơi khô axit xianhiđric sẽ bay hơi hết.
Trong công nghịêp axit xianhiđric được điều chế bằng cách oxi hoá hỗn
hợp khí metan (CH
4
) và amoniac (NH
3

bạc có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh. Chỉ cần
5
1
tỉ gam bạc trong 1 lít nước
cũng đủ diệt các vi khuẩn. Không cho vi khuẩn phát triển nên giữ cho thức ăn
không bị ôi thiu.
53. Vì sao dùng dao (bằng thép) cắt lê, táo thì bề mặt chỗ cắt sẽ bị
đen ?
Trong lê, táo và nhiều loại trái cây có chứa tanin. Tanin còn gọi là axit
tanic, nó tác dụng với sắt tạo thành sắt (III) tanat có màu đen. Tanin có vị
chát, quả hồng có vị chát do rất nhiều tanin.
Tanin tinh khiết là chất bột màu vàng, dễ tan trong nước.
Có khi không dùng dao bằng sắt để cắt lê, táo, hồng mà sau một lúc,
chỗ cắt vẫn bị thâm đen đó là do kết quả của nhiều biến đổi hoá học. Trong
phân tử tanin có chứa nhiều gốc phenol, các gốc này rất mẫn cảm với ánh
sáng và rất dễ bị oxi hoá bởi oxi của không khí biến thành các oxit có màu
đen. Vì vậy tanin thường được bảo quản trong các bình thuỷ tinh sẫm màu.
Trong công nghiệp tanin dùng để thuộc da và chế mực màu đen.
54. Vì sao hơ con dao ướt lên ngọn lửa, con dao sẽ có màu xanh ?
Đó là do ở nhiệt độ cao sắt tác dụng với nước tạo nên oxit sắt từ Fe
3
O
4
lấp lánh màu lam. Lớp áo màu lam này là tấm màng bảo vệ sắt, làm cho sắt
không bị gỉ và không bị ăn mòn.
ở các nhà máy người ta đem các chế phẩm bằng thép cho vào dung dịch
natri nitrat hoặc hỗn hợp natri nitrat và natri hidroxit ở nhiệt độ từ 140 ->
150
0
C. Sau một thời gian nhất định trên bề mặt sẽ sinh ra một lớp mỏng mầu

đường quá sớm hoặc nấu thịt bò, thịt lợn không nên cho muối quá sớm vì
cũng sẽ khó nấu nhừ.
58. Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh ?
Nếu bạn cho một thìa đường glucozơ vào lưỡi trong cảm giác ngọt
ngào cảm nhận được còn có cảm giác mát lạnh. Vì sao vậy ? Glucozơ tạo ra
một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đường trong quá trình
hoà tan là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh.
59. Vì sao thức ăn nấu khê cháy dễ gây ung thư ?
Theo các chuyên gia của tổ chức y tế thế giới, nấu thức ăn quá cháy dễ
gây ung thư. Chất asparagin trong thực phẩm dưới nhiệt độ cao sẽ kết hợp với
đường tự nhiên trong rau quả, hay các thực phẩm giàu chất cacbohiđrat tạo
thành chất acylamid, tác nhân chính gây ra bệnh ung thư.
ăn nhiều thịt hun khói và các chất bảo quản thực phẩm chứa nitrosamin
có trong rau ngâm, thịt hun khói làm gia tăng ung thư miệng, thực quản, thanh
quản, dạ dày. ăn nhiều chất béo có liên quan đến ung thư vú, đại tràng, trực
tràng, niêm mạc tử cung.
Thuốc trừ sâu nitrofen là chất gây ung thư và dị tật bào thai. Hoá chất
độc hại ethinnylestradiol và bisphenol A có trong túi nilong và hộp nhựa tái
sinh dùng đựng thức ăn gây hại cho bào thai.
60. Vì sao gạo nếp lại dẻo ?
Tinh bột có 2 loại amilozơ và amilopectin nhưng không tách rời nhau,
trong mỗi hạt tinh bột, amilopectin là vỏ bao bọc nhân amilozơ. Amilozơ tan
được trong nước, amilopectin hầu như không tan, trong nước nóng
amilopectin trương lên tạo thành hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo
của hạt có tinh bột. Trong mỗi hạt tinh bột, lượng amilopectin chiếm 80%,
amilozơ chiếm khoảng 20%, nên cơm gạo tẻ, ngô tẻ, bánh mì, thường có độ
dẻo bình thường. Tinh bột trong gạo nếp, ngô nếp chứa lượng amilopectin rất
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status