1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về
việc triển khai dự án “Cải thiện cuộc sống cho phụ nữ đơn thân”, Hội liên
hiệp phụ nữ Thành phố Hà Nội đã tổ chức khảo sát phụ nữ đơn thân trên địa
bàn thành phố tháng 9 năm 2007. Kết quả: có 5325 phụ nữ đơn thân của
12/14 quận huyện của Hà Nội. Trong đó, huyện Sóc Sơn có số phụ nữ đơn
thân cao nhất (2506 người), quận Ba Đình có số phụ nữ đơn thân ít nhất là 41
người. Hầu hết phụ nữ đơn thân gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Có 47%
phụ nữ đơn thân (2503 người) có nhu cầu được vay vốn để phát triển kinh tế, cải
thiện mức sống gia đình; 12,62% có nhu cầu được đào tạo nghề (672 người).
Ngoài ra, có 27,81% phụ nữ (1481 người) có nhu cầu được trợ cấp khó khăn,
miễn giảm học phí học của con, hoặc được khám chữa bệnh miễn phí.[12]
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời thấu hiểu được những thiệt thòi và
khó khăn của người phụ nữ nghèo nhưng lại phải gánh vác tất cả những công
việc mà không có phái mạnh bên mình và họ phải là trụ cột của gia đình.
Được sự tài trợ của tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới, Trung tâm hỗ trợ phát triển
vì phụ nữ và trẻ em phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ huyện Sóc Sơn, Thành phố
Hà Nội và huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện dự án “Tạo cơ hội
phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng
Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; và 2 xã Thăng Bình và Công Liêm, huyện Nông
Cống, tỉnh Thanh Hóa” với tổng kinh phí là 3.149.088.000 VND.
Thời gian thực hiện dự án là 3 năm, bắt đầu từ tháng 01 năm 2008 đến
ngày 31/12/2010. Mục tiêu tổng thể của dự án là “Góp phần vào sự phát triển
công bằng và bền vững nhằm giảm nghèo cho các phụ nữ thiệt thòi tại Hà Nội
và Thanh Hóa” được cụ thể hóa thành hai mục tiêu cụ thể đó là Thúc đẩy
PNNCH tham gia tích cực hơn vào các lĩnh vực quyền và ra quyết định trong
những việc có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ; Cải thiện chất lượng
nữ nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - Hà
Nội đến đời sống kinh tế xã hội của các hộ gia đình có phụ nữ nghèo chủ hộ.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các hoạt động thực tế của dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ
nữ nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai
đoạn 2008-2010.
2
3
- Đánh giá thực tế tình hình sản xuất, đời sống của PNNCH tại 3 xã Nam Sơn, Bắc
Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - Hà Nội.
- Đánh giá sự ảnh hưởng của dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ
nghèo chủ hộ" tại 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn
2008-2010.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên có cơ hội tìm hiểu và tiếp cận thực tế thông qua việc
tiếp cận với các hoạt động thực tiễn của dự án.
- Vận dụng những kiến thức đã được học tại trường và thực tiễn qua đó
có thêm kiến thức, đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tiễn phục vụ công tác
sau này.
1.4.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Thấy được quá trình triển khai, những khó khăn còn tồn tại và những
hiệu quả mà dự án đem lại cho người dân 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ,
huyện Sóc Sơn - Hà Nội.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khái niệm cơ hội
điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ
thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường[18].
- Khái niệm nghèo: Theo ESCAP (1993) : Nghèo là tình trạng của một
bộ phận không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người, những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát
triển và phong tục tập quán của từng địa phương[16].
- Phụ nữ nghèo chủ hộ là những người phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn bị
chồng bỏ hoặc chồng mất, hoặc vì một lý do nào khác mà họ không có một
người đàn ông bên mình. Đó là những phụ nữ góa, ly dị hay ly thân, hoặc có
con mà không có chồng. Những gia đình này thường là những gia đình dễ bị
tổn thương trước những cú sốc về thiên tai, kinh tế[12].
2.2. Vai trò của phụ nữ
2.2.1. Vai trò vốn có của người phụ nữ
Con người là hoa của đất và người phụ nữ là hương hoa của cuộc đời.
Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa nhân loại. Nói như Hồ Chủ tịch “Muốn
giải phóng giai cấp trước hết là giải phóng phụ nữ”. Vai trò của người phụ nữ
luôn được xã hội coi trọng và ghi nhận. Phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng
trong xã hội, không chỉ giỏi công việc gia đình mà còn tích cực tham gia công tác
xã hội, gặt hái nhiều thành công trên các lĩnh vực. Vai trò của người phụ nữ trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước càng được khẳng định một cách rõ nét hơn. Đó là
những vai trò sản xuất, tái sản xuất và vai trò cộng đồng.
2.2.1.1. Vai trò sản xuất
Lịch sử loài người từ trước đến nay đã ghi nhận phụ nữ bao giờ cũng có vai trò quan
trọng đối với gia đình và xã hội. Đối với xã hội, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất
ra của cải để nuôi sống con người.
Ở Việt Nam, Mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho Giáo nhưng do những điều
kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế và xã hội quy định nên vai trò phụ nữ luôn được đề cao.
Trước hết là một quốc gia nông nghiệp lúa nước cho phép phụ nữ tham gia vào mọi khâu
trong quá trình sản xuất, các truyền thuyết dân gian về “bà mẹ lúa” cùng với tín ngưỡng
dân gian thờ nữ thần còn khá phổ biến cho tới tận ngày nay đã phản ánh công lao của phụ
nước[13].
2.2.1.2.Vai trò tái sản xuất
Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người
để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền văn hoá nhân loại và là lực lượng
6
7
không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của
nhân loại.
Trước hết phải nói rằng, phụ nữ có ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc và sự ổn định
của gia đình. Đối với gia đình, phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu, là
người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan
hệ gia đình. Bất kỳ ở thời đại nào, quốc gia nào, dân tộc nào sự ảnh hưởng của người phụ
nữ cũng có sức lan tỏa rộng lớn và thẩm thấu vào từng tế bào của xã hội tạo nên nó, nuôi
sống nó. Họ là người vợ hiền, luôn sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi và những đắng cay cùng
chồng để giữ cho cuộc sống gia đình hạnh phúc. Không chỉ giúp đỡ chồng trong công việc
gia đình, người vợ còn động viên, đưa ra những lời khuyên chân thành giúp chồng trong
công việc, đóng góp vào thành công sự nghiệp của chồng. Phụ nữ còn là những người mẹ
hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo, là người mẹ luôn
sẵn sàng hy sinh lợi ích của bản thân với mong muốn con cái trưởng thành và thành đạt
trong cuộc sống. Họ là những người mẹ, người vợ luôn tiếp sức cho chồng con vượt qua
những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích cho gia đình, xã hội. Họ là những người
mẹ, người thầy đầu tiên của con người, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, là hạt nhân xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn dân cư. Có một câu danh ngôn nổi tiếng đã nói:
“Phụ nữ làm cho cách xử thế ở đời được trau chuốt và khiến người ta chuộng sự lễ độ. Họ là thầy dạy
chân chính về mĩ quan và là người khích lệ mọi hi sinh. Hiếm có người đàn ông nào yêu thương họ mà
lại là người man rợ”.(G. Legouve).
Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động
viên kịp thời. Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở những người phụ nữ, người
vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống. Chính
họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích.
lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây
dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ
nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò của
phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp
quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam[13].
2.2.2. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong nông nghiệp
Bên cạnh những vai trò vốn có nói trên, phụ nữ Việt Nam còn đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, họ lại là những
đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Điều đó được Tổ Chức Nông Lương
Liên Hiệp Quốc khẳng định và nhấn mạnh, phụ nữ là thành phần đóng góp
quan trọng và đáng kể vào nền kinh tế cũng như an toàn thực phẩm, nhưng họ
cũng là thành phần thiệt thòi và yếu thế hơn nam giới về mặt sở hữu đất canh
8
9
tác cũng như những phương tiện sản xuất, chưa được tiếp cận đúng mức với
những nguồn tài nguyên cần thiết để nâng cao năng lực sản xuất của mình. Đó
là khoảng cách hoặc sự mất cân bằng giới trong nông nghiệp, FAO kết luận.
Những nguồn tài nguyên cần thiết được kể ra là đất canh tác, phân bón,
thuốc trừ sâu, nguồn nước tưới, cơ giới tức máy cày, máy tưới, máy gặt, rồi
thì những thông tin về sự cải tiến, kỹ thuật hay phương pháp gieo trồng ứng
dụng khoa học vào nông nghiệp, nguồn hỗ trợ tài chính cho sản xuất. Tất cả
những điều đó phụ nữ nông thôn không được biết đến nhiều, không được
phục vụ nhiều như nam giới. Đó là lời ông Hiroyuki Konuma, phó tổng giám
đốc Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, cũng là người đại diện khu vực
của tổ chức tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nói rằng tại một quốc gia
nông nghiệp như Việt Nam, số phụ nữ nông thôn nắm phần chủ động về tài
sản tức được vay tiền để sản xuất trong nông nghiệp chỉ chiếm 24% so với
33% phía nam giới. Mặt khác, những phương tiện hỗ trợ để sản xuất và phát
triển đối với phụ nữ vùng nông thôn Việt Nam chỉ vào khoảng 7,5% so với
33% phía nam giới.
phụ nữ, đồng thời kết hợp tăng cường giáo dục cho chị em về sức khỏe cá
nhân và cộng đồng. Dự án được bắt đầu khởi động từ ngày 29 tháng 7
năm 2006. Sau thời gian thí điểm, dự án đang được triển khai thực hiện
rộng khắp trên toàn quốc.
Đối tượng hưởng lợi của dự án thí điểm “Hỗ trợ phụ nữ nghèo lập
nghiệp” là các hội viên phụ nữ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa có việc
làm ổn định, có nhu cầu kinh doanh tạo thu nhập do Hội liên hiệp phụ nữ Việt
Nam lựa chọn và giới thiệu.
Theo hoạt động của dự án, các hội viên nữ sẽ được trang bị phương tiện
làm việc miễn phí, được tham gia các khóa đào tạo phát triển kỹ năng kinh
doanh và tiếp thị để có thể tự mình bán hàng một cách hiệu quả. Đồng thời,
các hội viên sẽ được cung cấp thông tin về thị trường, hướng dẫn về khu vực
bán hàng và hỗ trợ kế hoạch làm việc giúp phát triển, mở rộng hoạt động kinh
doanh của mình.
Các hội viên tham gia cũng sẽ được nhận một khoản thu nhập cố định để
giúp cải thiện cuộc sống ngoài số lợi nhuận có thể thu được qua bán hàng [17].
2.3.2. Dự án: "Giảm nghèo và phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ dân tộc thiểu
số huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn"
Dự án được thực hiện từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 2 năm 2007. Với
mục tiêu là xây dựng năng lực cho người dân và cán bộ địa phương để đạt
10
11
được mục tiêu giảm nghèo và tiến bộ vì phụ nữ dân tộc thiểu số dựa trên việc
sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách bền vững và các cơ hội của địa
phương một cách hiệu quả.
Dự án được triển khai dựa trên cách tiếp cận có sự tham gia (thực chất là áp dụng
quy chế dân chủ cơ sở vào thực tiễn) đã có ảnh hưởng tích cực tới cách làm việc của cán
bộ tham gia ban quản lý dự án và và cán bộ phụ nữ xã, thôn. Trên thực tế, quy chế dân chủ
cơ sở đã được áp dụng thành công trong dự án.
Người dân địa phương đã tiếp cận tốt hơn với dịch vụ công như dịch vụ thú y, dịch
hoạt động mua phân bón, vôi Hình thức khác, cho vay vốn tổ chức cùng mua hiện vật
hoặc tiền mặt để xây nhà vệ sinh, chuồng gia súc, bồn nước, nền nhà, lều chứa phân…
Hoặc vay vốn vay nhỏ ngắn hạn để mua đường, men vi sinh để ủ phân vi sinh hoặc để mua
phân hóa học, giống [6].
2.4. Dự án: "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo chủ hộ"
* Khái niệm: dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ nghèo
chủ hộ" là dự án phát triển mang ý nghĩa to lớn về cả mặt kinh tế và xã hội,
góp phần tạo cơ hội cho họ phát triển công bằng, giảm bớt những thiệt thòi,
khó khăn của những phụ nữ nghèo, làm trụ cột gia đình. Tổ chức tài trợ: Bánh
mỳ cho Thế giới, Tổ chức điều hành: Trung tâm hỗ trợ phát triển vì phụ nữ và
trẻ em, đối tác địa phương: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống và Sóc
Sơn, thời gian thực hiện là 36 tháng (1/2008 – 12/2010), tổng tài chính:
3,149,088,000 đồng.
* Mục tiêu dài hạn: Góp phần vào sự phát triển công bằng và bền vững
nhằm giảm nghèo cho các phụ nữ thiệt thòi tại Hà Nội và Thanh Hóa.
* Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu cụ thể thứ nhất: PNNCH tham gia tích cực hơn vào các lĩnh vực
quyền và ra quyết định vào những việc có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
- Mục tiêu cụ thể thứ hai: Điều kiện sống của các PNNCH tại 5 xã dự án
(của huyện Sóc Sơn và Nông Cống) được cải thiện.
* Các kết quả mong đợi
- Các kết quả để đạt mục tiêu cụ thể thứ nhất
+ Nhận thức của PNNCH được nâng cao về phương pháp tham gia, các
nguyên tắc dân chủ cơ sở, cách tiếp cận dựa trên quyền và hiểu biết về pháp
luật Việt Nam;
+ PNNCH tham gia tích cực hơn vào quá trình ra các quyết định có liên
quan đến cuộc sống của họ.
12
13
- Các kết quả để đạt mục tiêu cụ thể thứ hai
- Tác động từ dự án "Tạo cơ hội phát triển công bằng cho phụ nữ
nghèo chủ hộ" tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội giai đoạn 2008-2010 đến nhận
thức của PNNCH.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1. Thông tin thứ cấp
- Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp được từ các bài báo, bài viết,
sách, các báo cáo và các văn bản có liên quan đến dự án đã được công bố.
14
15
- Thu thập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND
huyện, xã từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet
3.3.1.2. Thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát: là phương pháp qua quan sát trực tiếp hay gián
tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn
nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: là phỏng vấn dựa trên danh mục
các câu hỏi cần đề cập đến. Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tùy
thuộc vào ngữ cảnh hoặc đối tượng phỏng vấn.
- Phương pháp chọn mẫu:
+ Chọn điểm điều tra: Đề tài chọn ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ làm địa bàn
nghiên cứu.
+ Chọn mẫu điều tra: Trong số 264 hộ PNNCH của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng
Kỳ, chọn mỗi xã 20 hộ. Trong đó cơ cấu mẫu điều tra như sau:
Xã
Hộ nghèo Hộ đã thoát nghèo
Tổng
Số lượng
Tỷ lệ
(%)
+ Phía Tây: Giáp xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn.
- Vị trí địa lý xã Bắc Sơn
Xã Bắc Sơn nằm về phía Bắc của huyện Sóc Sơn, cách trung tâm huyện
15 km. Địa giới hành chính được xác định như sau:
+ Phía Đông: Giáp xã Bắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
+ Phía Tây: Giáp xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn.
+ Phía Nam: Giáp xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ huyện Sóc Sơn.
+ Phía Bắc: Giáp xã Vạn Phái, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Vị trí địa lý xã Nam Sơn.
Xã Nam Sơn nằm ở phía Bắc huyện Sóc Sơn cách trung tâm huyện Sóc
Sơn 14 km. Địa giới hành chính xã được xác định giáp các xã trong huyện:
+ Phía Đông: Giáp xã Hồng Kỳ và xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn.
+ Phía Tây: Giáp xã Minh Trí và xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn.
+ Phía Nam: Giáp xã Quang Tiến và xã Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn.
+ Phía Bắc: Giáp xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn.
4.1.1.2. Tình hình sử dụng đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của
ngành nông nghiệp, là một trong những nguồn lực đóng vai trò quyết định
16
17
khả năng phát triển của nông nghiệp, nông thôn và nâng cao mức sống nông
dân. Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ năm
2011 được thể hiện trong bảng 4.1 sau:
Bảng 4 Tình hình sử dụng đất đai của 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn,
Hồng Kỳ năm 2011
ST
T
Loại đất
Xã Nam Sơn Xã Bắc Sơn Xã Hồng Kỳ
Hiện
9
55,82
1 Đất sản xuất nông nghiệp
581,09 19,80
2048,7
3
53,6
3
501,79 34,90
1.1 Đất trồng cây hàng năm
515,87 17,58 837,83
21,9
3
501,79 34,90
1.2 Đất trồng cây lâu năm
45,82 1,56 871,1
22,8
0
- -
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 19,4 0,66 170 4,45 - -
1.4 Đất nông nghiệp khác - - 169,8 4,45 - -
2 Đất lâm nghiệp 1198,78 40,84 370,2 9,69 300,8 20,92
II Đất phi nông nghiệp
777,37 26,49
1300,8
6
34,0
6
487,7
5
Nam Sơn diện tích đất trồng lúa chiếm 82,5% , Bắc Sơn có 36,2%, Hồng Kỳ
có 95,3% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Con số trên cho thấy, cây
lúa vẫn là cây trồng chính trong nông nghiệp của ba xã. Ngoài ra, tỷ lệ đất
dành cho phi nông nghiệp ở ba xã cũng có xu hướng tăng trong những năm
gần đây và chiếm khoảng 26,5% tổng diện tích đất của xã Nam Sơn, 34,1%
tổng diện tích đất của xã Bắc Sơn; 33,9% tổng diện tích đất của xã Hồng Kỳ.
18
19
Tuy nhiên, diện tích đất chưa sử dụng và có khả năng sản xuất nông nghiệp ở
ba xã vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chính vì vậy cần có sự đôn đốc của chính quyền địa
phương để đưa vào sử dụng, trành lãng phí nguồn tài nguyên đất của địa
phương. Cụ thể là ở Nam Sơn có 377,76 ha chiếm 12,87% diện tích tự nhiên
của xã, ở Bắc Sơn có 100 ha, chiếm 2,6%; ở Hồng Kỳ có 147,56 ha, chiếm
10,3% diện tích tự nhiên của toàn xã.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Tình hình kinh tế
Bảng 4 Tình hình kinh tế của ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ năm
2011
Chỉ tiêu
Xã Nam Sơn Xã Bắc Sơn Xã Hồng Kỳ
Giá trị
(triệu
đồng)
Cơ
cấu
(%)
Giá trị
(triệu
đồng)
Cơ
9
23,3
Thương mại dịch vụ
10.499,
0
12,70 5.845,98 6
10.81
7
16,4
(Nguồn: UBND ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, năm 2012)
Qua bảng 4.2. ta thấy:
Tình hình sản xuất của xã Nam Sơn năm 2011 đã có bước phát triển tốt, cơ cấu kinh
tế hợp lý cùng với đẩy mạnh chuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ theo hướng nông- lâm nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư
cơ sở hạ tầng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Trong đó thu nhập về trồng trọt và chăn nuôi là chủ
yếu, nhưng thu nhập thấp, mức sống của người dân chưa cao. Tổng giá trị thu được năm 2011 là
82.684 triệu đồng. Trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đạt 48.840,4 triệu đồng, chiếm
59,07%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 23.344,6 triệu đồng, chiếm 28,23%; thương mại
dịch vụ 10.499,00 triệu đồng, chiếm 12,7%.
Đồng thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền xã Bắc Sơn, nền kinh tế của
nhân dân xã Bắc Sơn đã có những bước phát triển khá, đời sống của nhân dân từng bước
19
20
được cải thiện và nâng lên. Tổng giá trị sản xuất của xã năm 2011 đạt 97.433 triệu đồng.
Trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đạt 77.946,4 triệu đồng, chiếm 80%; công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 13.640,62 triệu đồng, chiếm 14%; thương mại dịch vụ
đạt 5.845,98 triệu đồng, chiếm 6%.
Xã Hồng Kỳ cũng là xã có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
với tổng giá trị sản xuất năm 2011 là 65.960 triệu đồng. Trong đó nông lâm
nghiệp thủy sản đạt 39.774 triệu đồng, chiếm 60,3%; công nghiệp xây dựng
4.2 Phi nông nghiệp Hộ 639 306 548
5 Lao động trong độ tuổi Người 5.359 8.507 6.104
+ Nông nghiệp Người 3.752 7.084 4.383
+ Công nghiệp, tiểu thủ công Người 702 685 821
20
21
nghiệp, xây dựng
+ Dịch vụ, thương mại Người 905 738 900
6 Trình độ lao động
Đã qua đào tạo Người 1.018 1.524 1.282
Chưa qua đào tạo Người 4.341 6.983 4.822
7 Tỷ lệ lao động thiếu việc làm % 27 20 30
(Nguồn: UBND ba xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ năm 2012)
21
22
Qua bảng số liệu 4.2 ta có thể thấy:
- Xã Nam Sơn có tổng dân số là 8838 người với 2130 hộ, và được phân
bố ở 6 thôn trong toàn xã. Tổng số lao động trong độ tuổi là 5359 người trong
đó lao động nông nghiệp chiếm 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ chiếm
30%. Tỷ lệ lao động có kiến thức phổ thông, tiểu học chiếm 30%, trung học
cơ sở chiếm 50%, trung học phổ thông chiếm 20.%. Tỷ lệ lao động được đào
tạo chuyên môn so với tổng số lao động là 35%. Số lao động đi làm việc
ngoài địa phương chiếm 12%. Nguồn nhân lực dồi dào chủ yếu lao động
bằng nghề nông nghiệp và lao động chân tay, số lao động làm nghề nông
nghiệp ít được đào tạo. Trong khi đó số lao động trẻ, có trình độ văn hóa trung
học phổ thông và được đào tạo học nghề ngày một tăng hơn phù hợp với phát
triển kinh tế - xã hội theo công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Xã Bắc Sơn có 3.512 hộ với 14.682 nhân khẩu, trong đó: Số lao động
trong độ tuổi là 8.507 người, chiếm 58% dân số. Bao gồm lao động sản xuất
nông nghiệp 7.084 người chiếm 83,3%; Lao động công nghiệp, tiểu thủ công
mọi việc gia đình và xã hội mà còn phải đối mặt với các định kiến xã hội nặng
nề. Sóc Sơn là huyện có số PNNCH đông nhất thành phố Hà Nội với số lượng
cụ thể được thể hiện qua bảng 4.4.
Bảng 4 Số lượng PNNCH của huyện Sóc Sơn và 3 xã năm 2007
STT Đơn vị hành chính
Số lượng PNNCH
(người)
Tỷ lệ
(%)
1 Huyện Sóc Sơn 2506 100
2 Xã Nam Sơn 142 5,7
3 Xã Bắc Sơn 86 3,4
4 Xã Hồng Kỳ 70 2,8
(Nguồn: Hội liên hiệp phụ nữ huyện Sóc Sơn)
Theo kết quả của cuộc khảo sát phụ nữ đơn thân của Hội liên hiệp phụ
nữ thành phố Hà Nội, trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng 9 năm 2007 có
5325 phụ nữ đơn thân của 12/14 quận huyện Hà Nội. Trong đó, huyện Sóc
Sơn có số phụ nữ đơn thân cao nhất (2506 người), chiếm 47% số phụ nữ đơn
thân của Thành Phố Hà Nội. Huyện Sóc Sơn là huyện nghèo của Thủ đô có
25 đơn vị hành chính xã, trong đó 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn và Hồng Kỳ có số
phụ nữ đơn thân là 298 người, chiếm 11,9% số phụ nữ đơn thân của Huyện,
chiếm 5,6% tổng số phụ nữ đơn thân của Thành phố Hà Nội. Theo kết quả
thống kê trên, có thể thấy được rằng huyện Sóc Sơn là huyện có nhiều phụ nữ
thiệt thòi nhất và rất cần có các sự quan tâm, giúp đỡ, động viên và chia sẻ
23
24
thông qua các chương trình, dự án từ Chính phủ, các tổ chức trong nước và
nước ngoài, đặc biệt là UBND 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ để giúp họ
vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, thoát khỏi sự mặc cảm, tự ti. Tạo
cho họ những cơ hội và giúp họ biết cách nắm bắt những cơ hội ấy để có thể
CLB, quan tâm đến đời sống của các thành viên, thăm hỏi và giúp đỡ các
thành viên lúc đau ốm, bệnh tật.
- Sau ba năm thực hiện dự án đã có tất cả 41 NST đã được thành lập,
trong đó Nam Sơn có 19 NST, Bắc Sơn có 8 nhóm, Hồng Kỳ có 14 nhóm. Dự
án hỗ trợ mỗi CLB 20.000.000 đồng để làm vốn ban đầu cho các NST. Từng
24
25
CLB tự xây dựng quy chế sử dụng số tiền vốn này, theo đó mỗi NST được
vay với lãi suất thấp số tiền 5.000.000 - 7.000.000 đồng trong vòng 1 năm để
thực hiện mô hình sinh kế, sau đó sẽ quay vòng cho nhóm khác. Các hoạt
động được chọn làm mô hình trình diễn ở các NST rất đa dạng bao gồm chăn
nuôi (nuôi bò, lợn thịt và/hoặc sinh sản, gà, vịt, cá) và trồng trọt (trồng bí cao
sản, lúa, ngô, cây giống). Hình thức hoạt động của các NST không giống nhau
tại hai địa phương. Các thành viên trong từng NST cùng chung nhau làm mô
hình. Các nhóm khác cũng hoạt động theo cách tương tự. Mỗi NST thống
nhất cách làm chung nhưng chia về cho các hộ tự làm, nhóm trưởng là người
chịu trách nhiệm theo dõi, lập sổ thu chi cho từng thành viên để hạch toán
kinh tế. Các chị đặt cho NST của mình những cái tên rất ý nghĩa như: nhóm
“Đồng lòng”, nhóm “Đoàn kết”, nhóm “Hy vọng”, nhóm “Mong đợi”. Mặc
dù hình thức hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung các NST đã hoạt động
có hiệu quả. Thời gian đầu khi mới đi vào hoạt động có một số nhóm bị thua
lỗ do gặp rủi ro trong sản xuất (dịch bệnh đối với vật nuôi và bão lụt đối với
cây trồng), nhưng các chị không bỏ cuộc mà vẫn kiên trì làm tiếp.
Như vậy, tham gia hưởng lợi từ dự án đã mang lại lợi ích kinh tế cho các
PNNCH, đồng thời thông qua hoạt động NST mà chị em biết cách làm việc
nhóm, biết cách hạch toán kinh tế và quản lý vốn minh bạch. Đây là nơi để
các PNNCH mạnh dạn áp dụng những kiến thức mới học hỏi được từ các lớp tập
huấn vào sản xuất để rút kinh nghiệm, cùng trao đổi bàn bạc để đạt được kết quả
tốt nhất. Khi gặp khó khăn các chị cùng nhau tìm cách khắc phục. Chính vì thế
tình đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm được tăng cường, chị em gắn bó với