ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH LỢI THẾ
CẠNH TRANH CỦA GỐM SỨ VIỆT NAM
TẠI HOA KỲ
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GỐM SỨ CỦA
VIỆT NAM
I-Khái quát về gốm sứ VN………………………………………….5
a) Khái quát về gốm sứ VN………………………………………………5
b) Quy trình làm gốm mỹ nghệ………………………………… 8
II-Tình hình xuất khẩu gốm sứ VN
sang các nước trong thời gian qua……………………………… 10
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU GỐM MỸ NGHỆ
CỦA MỸ
I- Phân tích tình hình nhập khẩu gốm mỹ nghệ của Mỹ………………13
II- Những thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu gốm mỹ nghệ sang thị trường
Mỹ ……………………………………………………………………… 15
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA
GỐM MỸ NGHỆ VN TẠI HOA KỲ
I- Phân tích lợi thế cạnh tranh của gốm mỹ nghệ VN
1.Yếu tố thâm dụng……………………………………………………19
2. Những điều kiện về nhu cầu
2.1.Thị Trường nội địa…………………………………………… 23
2.2.Thị trường Mỹ ………………………………………………….23
3 Những ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan………………………24
4.Chiến lược, cấu trúc của các xí nghiệp và sự cạnh tranh……………25
5. Cơ hội,vận may rủi…………………………………………………….28
6.Chính phủ …………………………………………………………… 29
II- Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam………………………….32
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GỐM SỨ CỦA
3
VIỆT NAM
I-Khái quát về gốm mỹ nghệ VN:
a) Khái quát về gốm mỹ nghệ VN:
Đồ gốm được làm chủ yếu từ đất và qua nung mới thành sản phẩm. Sự phát
triển không ngừng của kinh tế, xã hội, của kỹ thuật đã tạo điều kiện cho chất liệu
gốm ngày càng phát triển đa dạng. Với việc sử dụng thành phần nguyên liệu và lò
nung không giống nhau, đã cho ra nhiều loại gốm khác nhau. Cụm từ gốm đã
thành tên gọi chung của năm loại chất liệu: đất nung, sành nâu, sành xốp, sành
trắng và sứ, xuất hiện nối tiếp nhau và cùng tồn tại cho đến ngày nay.
Vẻ đẹp của gốm là sự kết hợp những yếu tố của nghệ thuật điêu khắc và nghệ
thuật hội họa. Người làm gốm có một “trường” họat động rộng lớn để biểu hiện tài
năng trong lĩnh vực nghệ thuật cũng như kỹ thuật, sang tạo nên những sản phẩm
phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống.
Nghề gốm ở Việt Nam đã qua năm giai đoạn phát triển, mỗi giai đaọn đánh
dấu bước tiến bộ về kỹ thuật và nghệ thuật. Sau đây là các giai đoạn phát triển của
nghề gốm Việt Nam:
1. Thời nguyên thủy:
Việt Nam là một trong những nơi gốm xuất hiện sớm. từ thời nguyên thủy
xa xưa, nghề đan lát đã phát triển ở nước ta do nguyên liệu tre nứa dồi dào, những
người làm gốm đầu tiên, khi chưa biết dùng bàn tay nặn xoay thì thường đan
khuôn bằng nan tre theo hình nồi, niêu, chum vại rồi trát một lớp đất sét dày mỏng
tùy theo ý muốn khi đất khô, người thợ đem cho nung cháy khuôn nan và chin đất.
Các sản phẩm chính của thời ký này là đồ đựng và đồ đun nấu, về cuối có them
các loại đồ dùng để ăn uống, trang sức, tuy nhiên thực dụng là yếu tố hang đầu của
đồ gốm thời đó.
2. Thời vua Hùng dựng nước: Gốm thời vua Hùng chính thức được chia
thành 4 giai đoạn lớn:
a. Gốm Phùng Nguyên:
văn hóa đồ dồng danh tiếng, là niềm tự hào của dân tộc ta, đã để lại những hiện vật
tuyệt mỹ như trống đồng Ngọc Lũ.
3. Thời Lý Trần: (thế kỷ XI – XIV)
Men Lý Trần chủ yếu cẫn là loại men tro và men đất, men đá chưa được
sản xuất bao nhiêu, các loại men này phần lớn thuộc men có độ trong, trắng dày,
khi gặp lửa cao thì chảythành giọt, gọi là ngấn lệ, một số man rạn rất đẹp do
xương và men không có cùng độ co.
Gốm thời Lý Trần có thể chia thành 3 nhóm lớn: gốm gia dụng, gốm trang
trí và gốm kiến trúc. Về tạo dáng gốm gia dụng, ngoài việc thừa kế và nâng cao
dáng gốm đất nung và sành nâu cổ truyền, nhiều sản phẩm được tạo dáng trên cơ
sở những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa quả hoặc dáng của những đồ đồng
xưa. Trang trí của gốm Lý Trần có một bước ngoặc mới, nếu hoa văn hình học
chiếm vị trí chủ yếu và duy nhất trên gốm đất nung thì sành nâu thì trên gốm Lý
Trần lại ở vị trí phụ, những họa tiết chính ở đây là hoa, lá, chim, voi , hổ, người.
Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc, rất gần gũi thiên nhiên và con
người Việt Nam. Đặc biệt hơn nữa là lò nung đã có bước tiến lớn về kỹ thuật,
người ta đã biết sử dụng là cóc, lò nằm, có thể cả lò rồng, để nâng cao nhiệt độ
nung của lò lên cao từ 1200-1280 độ C. Việc sử dụng các bao nung mà ngày nay
ta còn tìm thấy tại một cái giếng cổ tại Túc Mạc (Hà Nam Ninh) ở vùng Phủ Thiên
Trường của nhà Trần, cho thấy người thời ấy đã đạt được trình độ sản xuất gốm
cao cấp, nhất là gốm men ngọc.
4. Thời Hậu Lê, Tây Sơn:
Sự mở rộng thị trường trong nước và việc giao lưu buôn bán với các nước
ngoài trong thời kỳ này đã tác động lớn đến các họat động thủ công nghiệp, trong
đó có nghề gốm. Trước hết là sự hình thành các trung tâm sản xuất gốm có tính
chuyên môn hóa đã nổi tiếng như: Bát Tràng (Hà Nội) sản xuất các loại gốm sành
xốp và sành trắng; Thổ Hà (Hà Bắc) làm gốm sành nâu như chum vại; Phù Lũng
(Hà Bắc) làm gốm sành nâu có phủ men da lươn; Hương Canh (Vĩnh Phú) làm
chum, vò vại, chĩnh bằng sành nâu; Đình Trung, Hiển Lễ (Vĩnh Phú) làm chum vò
vại bằng đất nung; Vân Bình (Hà Sơn Bình) làm ấm đất, nồi đất; Làng Cậy (Hải
lượng cao. Nổi bật nhất là nhà máy sứ Hải Dương (Hải Hưng), cơ sở sản xuất sứ
đầu tiên của cả nước áp dụng kỹ thuật hiện đại qua mọi khâu nguyên liệu, tạo
hình, trang trí, nung,… Sau khi nước nhà thống nhất, đồ gốm hai miền Nam, Bắc
đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp mới. Có thể rút ra một số nhật xét tổng quát về
những đặc điểm phát triển của gốm trong giai đoạn này như sau:
- Sự hình thành loạt “ chất liệu” sứ với các kỹ thuật và trang trí hiện đại.
- Ở miền Bắc các xí nghiệp và hợp tác xã sản xuất gốm sành trắng được xây
dựng hầu khắp các tỉnh, phát huy thế mạnh của vùng mình về truyền thống và
nguyên liệu. Các tỉnh phía Nam phát triển các loại sành xốp lửa trung và đã tạo
được vùng gốm có phong cách riêng. Các cơ sở sành nâu, gốm nâu cũng được chú
ý ở các địa phương.
- Ngành gốm ngày càng phát triển bởi các học viên được đào tạo chính quy
đã trở thành những cán bộ, công nhân.
- Từ những năm 80 đến nay có thể khái quát chung ngành gốm sứ Việt
Nam đã và đang hình thành hai khu vực ở hai miền đất nước
6
* Miền Bắc: gốm sứ sản xuất tập trung tại Bát Tràng, Quảng Ninh, Hải
Dương, Hà Nội.
* Miền Nam: gốm sứ phát triển mạnh ở Đồng Nai, Sông Bé và Lâm Đồng.
b) Qui trình sản xuất gốm:
Quy trình hoàn thiện sản phẩm gốm sứ, một trong những quy trình phức tạp
và nếu hỏng một giai đoạn sẽ làm hỏng toàn bộ sản phẩm.
Quy trình
Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế
đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm
truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".
Quá trình tạo cốt gốm
Chọn đất
Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm
gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai
công việc này thường vẫn do phụ
nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một
cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng
chân quay bàn xoay và tay vuốt đất
tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi
đưa vào bàn xoay được vò cho thật
nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném
("bắt nẩy") để thu ngắn lại. Sau đó
người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất
nhuyễn dẻo mới "đánh cử" đất và "ra hương" chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải.
Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng
sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm "xén lợi" và "bắt lợi" xong thì được cắt
chân đưa ra đặt vào "bửng". Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu
của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam
(không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương
Tây. Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm
Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. "Be chạch" cũng là một hình
thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.
Phơi sấy và sửa
hàng mộc
8
Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm
thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng
vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay
phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ
từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.
Sản phẩm mộc đã định hình cần đem "ủ vóc" và sửa lại cho hoàn chỉnh.
Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay
vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân "vóc" cho đất ở chân
"vóc" chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là "lùa"). Người thợ gốm tiến hành các
Giá
% Trị
Giá
% Trị
Giá
% Trị
Giá
%
France 11.32 9.62 10.71 8.8 10.4 9.6 10.45 9.52 12.16 10.98
Holand 17.5 14.88 15.85 13.02 13.96 12.89 14 12.05 14.57 13.15
Germany 39.97 33.98 42.32 34.77 35.13 32.44 34.22 31.17 31.21 28.17
Italy 2.94 2.5 2.89 2.37 3.12 2.88 4.55 4.14 4.02 3.63
England 23.95 20.36 23.7 19.47 21.76 20.09 22.25 20.27 22 19.58
Ireland 0.54 0.46 1.03 0.85 1.12 1.03 1.24 1.13 1.32 1.19
Denmark 6.06 5.15 6.44 5.29 5.54 5.12 5.4 4.92 5.48 4.95
Greece 0.21 0.18 0.12 0.1 0.28 0.26 0.2 0.18 0.48 0.43
Portugal 0.12 0.1 0.05 0.04 0.18 0.17 0.12 0.11 0.09 0.08
Spain 1.69 1.44 1.94 1.59 2.92 2.7 3.93 3.58 5.19 4.68
Belgium 6.65 5.65 9.56 7.85 6.03 5.57 6.07 5.53 7.23 6.53
Sweden 3.93 3.34 4.13 3.39 5.92 4.89 4.57 4.16 4.35 3.93
Finland 1.21 1.03 1.17 0.96 0.8 0.74 1.24 1.13 1.14 1.03
Australia 1.5 1.28 1.74 1.43 1.99 1.84 1.77 1.61 1.79 1.62I
Với kim ngạch nhập khẩu hơn 600 triệu EURO tương đương hơn 800 triệu
USD hằng năm, thị trường châu Âu vẫn còn là thị trường đầy tiềm năng cho các
mặt hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam, trong đó thị trường Đức, Anh và Hà Lan là
11
những thị trường chủ lực có mức tiêu thụ cao nhất trong khối EU 15. Ngành gốm
mỹ nghệ Việt Nam cần đặc biệt chú trọng giữ vững vị thế của mình tại thị trường
này để làm bàn đạp phát triển rộng hơn ra các nước khác.
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU GỐM MỸ NGHỆ
CỦA MỸ
I- Phân tích tình hình nhập khẩu gốm mỹ nghệ của Mỹ
12
1.Khái quát về thị trường nhập khẩu gốm sứ của Mỹ:
Mỹ là một trong những thị trường lớn nhất cho mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ
và gia dụng. Hơn 90% các hộ gia đình và phần lớn các nhà hàng, khách sạn, doanh
trại quân đội của Mỹ có nhu cầu cao về gốm sứ. Rất ít nhà bán lẻ ở Mỹ trực tiếp
nhập khấu gốm sứ. Ngay cả những chuỗi cửa hàng rất lớn cũng thông qua những
nhà nhập khẩu/nhà phân phối.
Tuy nhiên khác với châu Âu vốn cũng là một thị trường lớn cho mặt hàng
này, thị trường Mỹ cạnh tranh khốc liệt hơn với những nhà nhập khẩu và những
nhà phân phối chuyên nghiệp cùng những đơn đặt hàng khổng lồ.
2. Tình hình nhập khẩu gốm sứ của Mỹ:
Mỹ là quốc gia nhập khẩu gốm sứ lớn nhất trên thế giới, chiếm 13.6% nhập khẩu
thế giới. Xét theo từng nhóm sản phẩm gốm sứ, tình hình nhập khẩu của Mỹ như
sau:
Gạch sứ không tráng men: Mỹ là 1 trong 3 quốc gia nhập khẩu lớn nhất
nhóm sản phẩm này bên cạnh Đức và Pháp. Mỹ nhập khẩu từ Ý, Mexico và
Tây Ban Nha là chính. Riêng Ý chiếm khoảng 80% thị phần này của Mỹ.
Gạch sứ tráng men: Mỹ là 1 trong 3 quốc gia nhập khẩu lớn nhất nhóm sản
phẩm này bên cạnh Pháp và Đức. Mỹ nhập khẩu chủ yếu từ Ý, Tây Ban
Nha và Mexico. Trong đó Ý cung cấp trên 44% nhu cầu nhập khẩu cảu Mỹ,
Tây Ban Nha và Mexico khoảng 20% và 11%.
Gốm gia dụng: Mỹ đứng đầu về nhập khẩu bên cạnh Đức và Nhật Bản.
Trung Quốc là nhà xuất khẩu mặt hàng này lớn nhất vào Mỹ, cung cấp
khoảng 56% nhập khẩu của Mỹ.
Gốm trang trí: Mỹ nằm trong top 3 quốc gia nhập khẩu nhóm sản phẩm này
bên cạnh Đức và Hồng Kong. Mỹ nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Tây
Ban Nha và Ý. Trong đó Trung Quốc cung cấp 57% nhập khẩu của Mỹ.
Poland 4,573 4,290 4,710 3,511 2,227
Bangladesh 3,144 3,861 2,464 3,228 3,639
Hungary 2,450 1,673 2,305 2,940 2,975
Hong Kong 1,763 2,125 2,522 2,071 2,521
Korea 617 2,496 3,438 2,262 1,620
Mexico 2,529 3,178 1,896 823 412
Denmark 1,865 1,541 1,402 1205 883
Taiwan 2,136 1,359 1,048 1,267 700
Czech Rep. 994 1,340 1,079 1,348 1,494
Ireland 910 969 1,095 1,377 1,384
Venezuela 499 642 1,432 1,358 967
Brazil 600 1,175 235 1,590 562
Russian Fed. 355 481 461 525 72
Austria 438 577 552 676 235
Malaysia 679 584 344 256 314
Switzerland 995 424 92 381 107
India 200 28 848 482 371
Tunisia 387 384 282 213 539
Norway 130 445 210 286 227
Netherlands 509 322 185 51 79
Greece 135 454 297 151 50
Sweden 173 102 32 237 181
Spain 193 69 78 276 96
Turkey 16 19 122 121 275
Finland 2 96 283 26 -
Colombia 27 153 214
14
II- Những thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu gốm mỹ nghệ sang thị
trường Mỹ
1.Khó khăn:
lệch
tháng
Tính từ
đầu năm
2009
Tính từ
đầu năm
2008
Chênh
lệch năm
Xuất
khẩu
38 31 7 287 401 -114
Nhập
khẩu
145 137 8 1,190 1,650 -460
Thuế quan
Nhìn chung, Mỹ không có hạn ngạch nhất định về sản phẩm gốm sứ nhập
khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế thông thường tính theo CIF là 8%.
Tuy nhiên, sản phẩm gốm sứ từ các quốc gia đang phát triển được hưởng chế độ
GSP (chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập) thì mức thuế là 0%.
15
Cấu trúc giá
Một vài thập niên trước đây thị trường gốm sứ Mỹ chú trọng đến chất
lượng nhưng hiện nay thị trường này quan tâm đến giá cả nhiều hơn. Nguyên nhân
chính của sự thay đổi cấu trúc thị trường này là cho sự phát triển và gia tăng dân
nhập cư ở Mỹ. Và sự biến chuyển này trong việc đánh giá sản phẩm gốm sứ đã
đem lại cơ hội cho các quốc gia châu Á mở rộng thị phần của mình.
Tại sao một quốc gia gặt hái được thành công quốc tế trong một ngành
công nghiệp nhất định? Câu trả lời nằm trong 4 thuộc tính lớn của một quốc
gia.Bốn thuộc tính của một quốc gia định hình môi trường cạnh tranh cho doanh
nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh:
1) Các điều kiện về yếu tố sản xuất(yếu tố thâm dụng): vị thế của một quốc
gia về các yếu tố sản xuất đầu vào như lao động được đào tạo hay cơ sở hạ
tầng,cần thiết cho cạnh tranh trong một ngành công nghiệp nhất định.
2) Các điều kiện nhu cầu:đặc tính của cầu trong nước đối với sản phẩm hoặc
hàng hóa của ngành đó.
3) Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan:sự tồn tại hay thiếu hụt
những ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan có tính cạnh tranh quốc tế ở
chính quốc gia đó.
4) Chiến lược công ty,cấu trúc và cạnh tranh nội địa:những điều kiện trong
một quốc gia liên quan đến việc thành lập,tổ chức và quản lý doanh
nghiệp,cũng như đặc tính của cạnh tranh trong nước.
Đây là một hệ thống tự củng cố lẫn nhau.Ảnh hưởng của một nhân tố quyết
định phụ thuộc vào trạng thái của các nhân tố khác.Lợi thế trong tất cả các nhân tố
không phải là điều kiện tiên quyết cho lợi thế cạnh tranh trong một ngành công
nghiệp.Sự tương tác giữa những lợi thế trong nhiều nhân tố quyết định mang lại
những lợi ích tự củng cố khiến cho đối thủ nước ngoài vô cùng khó khăn để bắt
chước.
Những biến số đó được phản ánh qua mô hình kim cương của Michael
Porter như sau:
Ngoài ra còn 2 biến số rất quan trọng cần thiết để hoàn thành lý thuyết này
đó là các sự kiện khách quan và chính phủ
17
• Các sự kiện khách quan là những sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát
của doanh nghiệp và cả chính phủ tạo ra những gián đoạn có thể phá
bỏ hoặc định hình lại cấu trúc công nghiệp và đem đến cơ hội cho
các doanh nghiệp của một nước “hất cẳng” các doanh nghiệp nước
Ngoài ra còn có các chất phụ gia khác.
Ở Việt Nam, nguồn nguyên liệu sẵn có ở trong nước dựa trên cơ sở nguồn
nguyên liệu thô dồi dào, phù hợp và đa dạng, nguyên liệu phụ nhập chiếm một tỷ
trọng rất nhỏ trong sản phẩm. Tại miền Bắc nước ta, chất đất phù sa màu mỡ của
sông Hồng là một tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban cho vùng đất này. Đó cũng là
nguồn nguyên liệu tốt nhất để làm nên những sản phẩm gốm sứ tuyệt mỹ. Còn ở
miền Trung, chủ yếu là gốm sứ Chăm mà nguyên liệu chính là đất sét đỏ, đất sét
trắng (cao lin), củi (bổi) và men. Những nguồn nguyên liệu này thường khai thác
tại chỗ; đất sét chủ yếu là dọc các triền sông hay ven các đầm lớn. Phù sa sông
cũng góp phần làm nên màu sắc men gốm. Vào đến vùng đất Nam Bộ, có thể nói
đối xứng cân bằng với vùng đất phù sa sông Hồng ở Bắc bộ là vùng đất sét trắng
Lái Thiêu - Bình Dương, được hình thành từ những biến động lịch sử của vùng.
Dòng sông Đồng Nai trĩu nặng phù sa, đổ về hạ lưu bằng hai nhánh sông Nhà Bè
và thoát ra biển Đông, hàng năm mang lại một lượng lớn phù sa và lâu ngày hình
thành những mỏ đất sét quý.
Hiện nay, Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản chất lượng cao, có thể sản xuất
men và màu cho sản xuất gốm sứ. Cả nước hiện có 123 mỏ cao lanh trữ lượng 640
triệu tấn; 184 mỏ sét đỏ trữ lượng 1130 triệu tấn; 39 mỏ sét trắng trữ lượng 53
triệu tấn; 13 mỏ thạch anh và 20 mỏ cát thạch anh có tổng trữ lượng 2130 triệu
tấn; 25 mỏ dolomit trữ lượng 800 triệu tấn
Về phía Trung Quốc, 2 con sông Hoàng Hà và sông Dương Tử hằng năm cũng
bồi đắp một lượng phù sa lớn và trên bờ sông hình thành những mỏ đất sét quý.
1.1.2 Nguồn nhân lực
Chủ yếu là sử dụng lao động tại chỗ. Ở Việt Nam, các làng nghề gốm sứ thủ
công với nhiều loại hình sản xuất như hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợp tác, các hợp
tác xã, doanh nghiệp tư nhân, đã thu hút hàng triệu lao động tham gia. Vùng đất
19
Thăng Long từ lâu trở thành nơi tập trung nhiều nghệ nhân tinh hoa của các
phường nghề thủ công nơi kinh kỳ xưa, trong đó có nghề gốm, miền Bắc tập trung
nhiều nghệ nhân có kinh nghiệm lâu năm và tay nghề cao. Còn ở miền Nam, đầu
Dương) – Thanh Long (Đồng Nai) – Gốm Đỏ (Vĩnh Long). Một đặc điểm riêng
biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó
tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản
xuất gốm sứ. Hiện nay, một số doanh nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch vào
các khu công nghiệp để có thể mở rộng sản xuất.
Ở Trung Quốc cũng tương tự, các làng nghề gốm sứ cũng chủ yếu tập trung ở
vùng châu thổ sông Hoàng Hà như tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Giang Tây, các tỉnh
khác cũng có nghề gốm lâu đời như Hà Bắc, Chiết Giang, Hồ Nam, Sơn Tây.
1.2 Yếu tố tăng cường:
1.2.1 Cơ sở hạ tầng
20
Đối với các cơ sở gốm sứ truyền thống thì sản xuất theo phương pháp thủ công
với các lò nung bằng củi, than đá… Còn đối với các các cơ sở sản xuất gốm sứ
xây dựng thì sử dụng những máy móc, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn.
Hiện nay, nước ta có nhiều cơ sở sản suất gạch ceramic, granite, sứ vệ sinh với
công nghệ tiên tiến, công suất lớn. Theo Hiệp hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam,
tính đến đầu năm nay, cả nước có 53 nhà máy sản xuất gạch ốp lát, với tổng công
suất 170 triệu m2/năm. Nhà máy khai thác và chế biến cao lanh do công ty Kvk
Bohemia As (cộng hòa Séc) tại Lộc Ninh, Quảng Bình đầu tư có công suất
100.000 tấn cao lanh thành phẩm/năm và nhà máy sản xuất feldspat Yên Bái công
suất 100 ngàn tấn/năm, do tổng công ty thủy tinh và gốm xây dựng liên doanh với
công ty khoáng sản Yên Bái xây dựng, cung cấp nguồn nguyên liệu cao cấp cho
sản xuất gạch ốp lát, sứ vệ sinh và kính xây dựng. Nhà máy sản xuất men frit đầu
tiên của Việt Nam tại khu công nghiệp Phú Bài, Thừa Thiên – Huế cũng đã đi vào
sản xuất từ 6/2000, công xuất giai đoạn đầu là 3000 tấn/năm, đáp ứng khoảng gần
15% nhu cầu men frit của các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ. Viện khoa học công
nghệ vật liệu xây dựng của Việt Nam đã nghiên cứu thành công một số chủng loại
men bằng nguồn nguyên liệu trong nước để sản xuất gạch ốp lát thay cho nguyên
liệu nhập khẩu. Qua thử nghiệm cho thấy các chỉ tiêu kỹ thuật của loại men này
đạt tiêu chuẩn Châu Âu.
thành chỉ bằng 50% so với lò nhập ngoại, lò nung gốm sứ bằng gas hiện đã chuyển
giao ứng dụng vào sản xuất tại nhiều công ty gốm sứ ở Hà Nội, Thái Bình, Hà
Tây…
Ở Trung Quốc, họ cũng đã biết cách “cơ khí hóa” một cách hợp lý nhiều khâu
trong quá trình sản xuất nhờ các loại máy công cụ “made in China”, rất đắc dụng
và giá cả phải chăng.
1.2.3 Chủng loại, mẫu mã, chất lượng
Gốm sứ Việt Nam với chủng loại và chất liệu phong phú cho phép người mua
hàng có nhiều lựa chọn từ hàng men, không men, đất đỏ Các sản phẩm cũng đa
dạng như chậu tròn, oval, vuông, chữ nhật, hình thú, đôn, hũ, bình Điều này giúp
khách hàng có một bộ sưu tập đầy đủ trong khi họ chỉ có thể mua hàng đất đỏ tại
Trung Quốc, hàng men dạng tròn tại Malaysia và hàng cao cấp tại Italia. Tuy
nhiên, mẫu mã còn đơn điệu, chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dáng sản
phẩm không theo kịp tập quán và thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu, sản
phẩm không dự đoán được những biến đổi khí hậu của từng địa phương. Sản phẩm
thiếu tính đồng bộ, tính hoàn thiện sản phẩm còn thấp, công dụng không rõ nét, độ
an toàn chưa được chú ý…đặc biệt là thiếu sản phẩm được thiết kế kiểu dáng sáng
tạo từ đơn vị trực tiếp sản xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Những mặt hàng được sản xuất mang đặc tính và tượng trưng của từng địa phương
còn hạn chế, chưa gây được ấn tượng mạnh cho người tiêu dùng và các nhà phân
phối.
Những mặt hàng gốm sứ của Trung Quốc về mẫu mã, chủng loại đều đa dạng,
phong phú, đáp ứng được nhu cầu của nhiều thành phần khách hàng.
2. Những điều kiện về nhu cầu
2.1.Thị Trường nội địa
Điểm thứ hai mà Porter nêu lên trong nhân tố thứ tư của mô hình kim
cương có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh của một quốc gia đó chính là sự cạnh tranh
trong nước. Theo ông, cạnh tranh nội địa không chỉ tạo ra những áp lực cải tiến
mà còn là cải tiến theo cách thức nâng cao lợi thế cạnh tranh của các công ty trong
nước. Và ông cũng chỉ ra rằng, rất ít các công ty cạnh tranh thành công trên thị
nay, xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của Việt Nam vào thị
trường Mỹ đã tăng. Tuy nhiên, mức tăng còn rất thấp so với mức giảm sút trong
những tháng đầu năm. Do đó, tính chung trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của Việt Nam vào thị
trường Mỹ chỉ đạt 13,1 triệu USD, giảm 21,9% so với cùng kỳ năm 2008. Trong
cơ cấu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của ViệtNam xuất khẩu vào thị
trường Mỹ trong tháng, thì đứng đầu là mặt hàng chậu gốm, với kim ngạch xuất
khẩu đạt 670 nghìn USD, tăng 25% so với tháng trước, tiếp đến là mặt hàng đồ gia
dụng bằng góm sứ đạt 188 nghìn USD, tăng 90%; mặt hàng bình gốm đạt 136
nghìn USD, giảm 11,7%; mặt hàng tượng và đồ trang trí bằng gốm sứ đạt 77 nghìn
USD, tăng gấp 7 lần so với tháng trước. mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường này tăng rất nhanh trong vài năm gần đây nhưng hàng TCMN của chúng ta
đang gặp phải một số khó khăn nhất định. Khó khăn đầu tiên là sự cạnh tranh từ
hàng gốm sứ của Trung Quốc, bởi quốc gia này cung cấp hàng gốm sứ chính cho
thị trường Mỹ. Mặt khác, hàng gốm sứ của Việt Nam có quy mô sản xuất còn nhỏ
lẻ, manh mún. Đơn hàng nhập của Mỹ thường lớn, trong khi đó các cơ sở sản xuất
của ta lại nhỏ nên nhiều khi không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về số
lượng và thời gian giao hàng nên không ký được hợp đồng. Bên cạnh đó, mẫu mã
hàng gốm sứ của Việt Nam còn chưa phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Mỹ.
Theo các nhà xuất khẩu hàng gốm sứ có kinh nghiệm, các nhà sản xuất Việt Nam
nên nhấn mạnh vào tính văn hóa, dân tộc và các giá trị nghệ thuật khác để lồng
vào sản phẩm của mình. Đối với mặt hàng gốm sứ, cần chú ý đến mẫu mã, kiểu
dáng, chất liệu cũng như khâu đóng gói và vận tải để giảm chi phí.
3 Những ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan
23
a. Nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu.
Ngành công nghiệp sản xuất gốm với đặc trưng chủ yếu là nguồn nguyên
liệu đất sét trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim đã
có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Sản
lượng khai thác tăng lên theo từng năm. Nguồn nguyên liệu chính tạo gốm hầu
gốm sứ sử dụng gas tạo sự trao đổi nhiệt trong buồng nung đạt hiệu suất cao hơn;
sử dụng bông gốm thay cho gạch làm lớp cách nhiệt cho lò; lắp đặt thêm buồng
sấy sử dụng nhiệt khói thải của lò (tái sử dụng năng lượng); thiết kế chế độ nung
đáp ứng các yêu cầu riêng của từng sản phẩm… Với những cải tiến này, lò nung
gốm sứ bằng gas giúp giảm tiêu hao nhiên liệu khoảng 25%, giảm chi phí sản xuất
khoảng 30%, giảm tỷ lệ phế phẩm của sản phẩm (tăng sản phẩm đạt chất lượng từ
65% lên hơn 80%). Vận hành đơn giản, giá thành chỉ bằng 50% so với lò nhập
ngoại, lò nung gốm sứ bằng gas hiện đã chuyển giao ứng dụng vào sản xuất tại
nhiều công ty gốm sứ ở Hà Nội, Thái Bình, Hà Tây…
24
c. Ngành vận tải.
Các ngành nghề xuất nhập khẩu luôn nhận được sự khuyến khích phát triển
của nhà nước, nên yêu cầu cho việc vận chuyển chuyên nghiệp ngày các
bức bách hơn. Trên cơ sở đó, các phương thức vận tải cũng phát triển mạnh
mẽ.
Hơn mười năm trở lại đây, việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
bằng đường hàng không trở nên phổ biến đối với các doanh nghiêp kinh doanh
xuất nhập khẩu vì những ưu điểm như thời gian vận chuyển nhanh, ít rủi ro hơn
vận tải bằng đường biển, đường sắt.
Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như:
• Dễ bị tác động của thời tiết xấu;
• Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị ở sân bay còn chưa theo kịp nhu cầu vận
chuyển hàng hóa
• Việc kiểm tra an ninh, hải quan còn rất nhiêu khê
Bên cạnh đó, phương thức vận tải hàng hải cũng đang ngày càng phát
triển mạnh mẽ với một số ưu điểm nổi bật như: Số lượng hàng vận chuyển không
hạn chế. Tuy nhiên cũng vẫn còn một số khó khăn cho việc trung chuyển hàng hóa
như: Đội tàu nhỏ, độ tuổi trung bình cao, năng lực quản lý kém
Thói quen xuất theo giá FOB và nhập theo giá CIF đã làm cho doanh
nghiệp Việt Nam mất quyền thuê tàu nên gây mất mát nhiều quyền lợi cho các