1
DANH MỤC CÁC BẢNG
ANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VKHKTNNVN Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
NN& PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CPNL Che phủ ni long
TGST Thời gian sinh trưởng
N Tổng số phiếu điều tra hộ nông dân
Kg N Ki lô gam Đạm nguyên chất (Ni tơ)
Kg P
2
O
5
Ki lô gam Lân nguyên chất (Phốt pho)
Kg K
2
O Ki lô gam Ka li nguyên chất
NSTT Năng suất thực thu
NSLT Năng suất lý thuyết
SVH Sinh vật học
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
USDA Cục nông nghiệp quốc gia Mỹ
ICRISAT Viện Quốc tế Nghiên cứu cây trồng vùng Nhiệt đới
Bán khô hạn
P/C Phân chuồng
KL Khối lượng
CS Cộng sự
1
2
MỞ ĐẦU
nông dân, đồng thời còn cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng vụ sau. Huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang hiện là nơi cung cấp lạc giống phục vụ cho sản xuất
lạc xuân ở nhiều tỉnh đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung bộ, và cung cấp lạc
tươi làm thực phẩm cho một số đô thị
Ở Bắc Giang, lạc đông tuy được trồng cách đây hai chục năm nhưng
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và tổng kết thành quy
trình kỹ thuật hoàn chỉnh để phổ biến, áp dụng rộng rãi. Vì vậy, trình độ sản
xuất của nông dân còn hạn chế và không đồng đều, năng suất lạc đông giữa
các hộ chênh lệch nhau rất lớn, việc mở rộng diện tích lạc vụ đông còn gặp
nhiều khó khăn. Trong khi, trồng lạc đông có thể đem lại thu nhập cao hơn
nhiều cây vụ đông khác (ngô, khoai lang, ). Hiện tại sản lượng lạc đông
không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường, trong khi quỹ đất có thể trồng lạc đông
ở Bắc Giang có thể gấp nhiều lần hiện nay
Từ những vấn đề trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lạc vụ đông trên đất lúa ở tỉnh Bắc Giang”
để góp phần phát triển cây lạc đông trên địa bàn.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định thời vụ trồng lạc đông trên đất lúa ở Bắc Giang để có năng
suất, hiệu quả cao hơn một số cây trồng vụ đông phổ biến trong tỉnh hiện nay.
- Xác định mật độ trồng thích hợp cho sản xuất ở vụ đông.
- Xác định cách bón đạm, lân có hiệu quả đối với lạc vụ đông.
- Xây dựng quy trình sản xuất lạc vụ đông trên đất lúa ở Bắc Giang.
3
4
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài sẽ góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc phát triển sản xuất
lạc trong vụ đông ở vùng đông bắc nước ta.
- Những thông tin từ kết quả nghiên cứu của đề tài về kỹ thuật, kinh tế
trong sản xuất lạc, ngô, khoai tây đông sẽ là tư liệu cho giáo viên và sinh viên
Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam tới nay chưa được xác minh rõ ràng. Sách
“Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn có mô tả nhận xét nhiều loại cây trồng ở
nước ta, nhưng cũng không đề cập đến cây lạc. Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét
đoán danh từ “Lạc” có thể do từ Hán “Hoa sinh” là người Trung Quốc gọi là
cây lạc. Như vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế
kỷ XVII, XVIII.
Lạc thuộc loại cánh bướm (Fabaceae), chi Arachis. Từ lâu người ta chỉ
biết đến một loài của chi Arachis, đó là lạc trồng A. hypogaea do Line mô tả
từ năm 1753.
5
6
Dựa trên cấu trúc hình thái chia loài lạc trồng làm 2 nhóm lớn: nhóm
phân cành xen kẽ và nhóm phân cành liên tục ứng với nhóm Virginia và nhóm
Spanish, Valencia theo Gregory [31].
Theo thời gian sinh trưởng lạc được phân làm 3 nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm chín sớm từ 80-100 ngày
Nhóm 2: Nhóm chín trung bình từ 101-120 ngày
Nhóm 3: Nhóm chín muộn trên 120 ngày
Với điều kiện thời tiết và tập quán sản xuất ở miền Bắc Việt Nam (từ
Thanh Hoá trở ra), để phù hợp cho việc bố trí cây trồng trong cơ cầu thời vụ
thì có thể chia ngưỡng TGST ở các tỉnh phía Bắc chia làm 4 nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm chín cực sớm từ 90 - 100 ngày
Nhóm 2: Nhóm chín sớm từ 101 - 120 ngày
Nhóm 3: Nhóm chín trung bình từ: 121 - 140 ngày
Nhóm 4: Nhóm chín muộn từ trên 140 ngày
1.2. Giá trị của cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc không những có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho con người và
gia súc, mà nó còn có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh
cố định đạm và các bộ phận thân lá rễ của cây lạc.
Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng cộng sinh với loài vi khuẩn
Sản lượng lạc trên thế giới luôn tăng, những năm cuối thập kỷ 90 là
26,399 triệu tấn, tăng so với thập kỷ 70 là 58,01%. Tuy nhiên, sản lượng tăng,
giảm ở các châu lục lại khác nhau. Châu Mỹ sản lượng giảm 4,9%, Châu phi
tăng 4,6%. Châu Á tăng mạnh nhất 104,69% từ 9,548 lên 19,543 triệu
7
8
tấn/năm, điển hình như khu vực Đông Nam Á những năm 90 tăng gần 300%
so với những năm 70 [27], [29]. Sản lượng lạc trung bình của thế giới trong 6
năm gần đây (2000 - 2005) là 32,261 triệu tấn/năm tăng so với nhưng năm 70
là 93,1%, tăng so với năm 90 là 23,5% [35].
Ấn độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, song lạc chủ yếu
được trồng ở những vùng khô hạn, năng suất lạc thấp so với năng suất trung
bình của thế giới [29], [27]. Diện tích lạc trung bình những năm 70 là 7,159
trệu ha, năng suất 8,1tạ/ha. Theo thống kê của FAO, USDA (2000 - 2006)
[29], [37] diện tích lạc trung bình của Ấn Độ là 8 triệu ha, năng suất trung
bình 8,6 tạ/ha so với những năm 90 giảm 8,5%. Trung Quốc diện tích lạc
trong những năm 60 là 1,919 triệu ha năng suất 11,4 tạ/ha và tăng liên tục,
năm 1980 diện tích lạc của Trung Quốc là 2,647 triệu ha năng suất trung bình
17,6 tạ/ha [34]. Theo USDA (2000-2005) [37]. Những năm gần đây diện tích
trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,035 triệu ha, chiếm 20% tổng diện
tích lạc toàn thế giới. Năng suất trung bình là 28,2 tạ/ha. Mỹ là nước có diện
tích lạc và năng suất ổn định, năm 2000- 2004 diện tích là 0,578 triệu ha,
năng suất trung bình 31,7 tạ/ha. Nigiêria năm 2000 - 2004 diện tích lạc từ
1,22 - 1,23 triệu ha, năng suất đạt 8,6 tạ/ha. Inđônêsia năm 2004 diện tích lạc
là 0,7 triệu ha, năng suất trung bình 15,9 tạ/ha. Ngoài các nước trên, lạc còn
được trồng một diện tích lớn ở Sênêgan, Bu Ma, Su Đăng, Bu Ki Na, Hàn
Quốc, Achentina.
1.3.2. Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Trong điều
kiện nghiên cứu, lạc là cây trồng có tiềm năng cho năng suất rất cao. Tuy
phát triển khi nồng độ Al là 3 micro M. Đất trồng lạc thiếu Ca, đất chua là yếu
tố ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và xâm nhập của vi khuẩn nốt sần cộng
9
10
sinh với cây lạc, từ đó hạn chế quá trình cố định đạm sinh học ở rễ lạc. Sự
mất cân đối các chất dinh dưỡng ở trong đất là nguyên nhân dẫn đến năng
suất lạc thấp. Ngoài ra, nhiều khu vực trồng lạc trên thế giới còn gặp trở ngại
trong việc phát triển diện tích và tăng năng suất lạc là yếu tố nước. Do vậy
khô hạn luôn là yếu tố hạn chế đối với cây lạc.
Ánh sáng và nhiệt độ: Lạc là cây mẫn cảm với nhiệt độ và cường độ
ánh sáng ngày ngắn. Cường độ ánh sáng thấp vào thời kỳ ra hoa làm cho lạc
sinh trưởng chậm, cành sinh sản bị ức chế, hoa rụng, thời kỳ đâm tia, hình
thành quả, làm cho số lượng tia và quả giảm (Hudge và Mc Cloud 1974 [32].
Nhiệt độ là yếu tố hạn chế, làm quả lạc chậm hay ngừng phát triển dẫn đến
năng suất lạc thấp, đã được các tác giả như Leong S. K., Ong C. K., 1983
[33], Moreshet 1996 [35] Awal M. A. và Ikeda T., 2002 [26] khẳng định qua
các kết quả nghiên cứu của mình. Theo các tác giả để khắc phục yếu tố hạn
chế về ánh sáng và nhiệt độ, cần phải bố trí trồng lạc đúng thời vụ, sao cho
thời kỳ mẫn cảm tránh được nhiệt độ thấp và ánh sáng ngày ngắn, đảm bảo
cho lạc sinh trưởng tốt nhất.
Yếu tố giống: Hiện nay nhiều nước vẫn chưa tìm được các giống lạc có
năng suất cao, chống chịu được sâu bệnh. Trung Quốc những năm 70 do chưa
có giống tốt, kháng bệnh nên năng suất lạc chỉ đạt 11,0 - 12,0 tạ/ha. Từ đầu
thập kỷ 90 đến nay, nhờ có công tác chọn tạo giống và kết hợp với các biện
pháp kỹ thuật canh tác, năng suất lạc đã đạt tới 30,1 tạ/ha năm 2005 [37].
Các yếu tố sinh học như sâu bệnh hại, thiếu giống có khả năng chống
chịu sâu bệnh cũng là yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất lạc trên thế giới. Theo
Vũ Công Hậu và CS (dịch 1995) [11] ở Ấn Độ thiệt hại do sâu, bệnh hại lạc
năm 1987 lên tới 150 triệu đô la, tại Nigiêria năm 1975 thiệt hại ở lạc do
Virus đã lên tới 250 triệu đô la.
5
/ha cho lạc nhờ nước trời,
năng suất lạc tăng 14,7% [11]. Và chỉ cần bón 400 - 500mg P
2
0
5
/ha đã kích
thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Virgna sống cộng sinh, làm
tăng số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc. Như vậy bón lân là
biện pháp cơ bản nâng cao năng suất lạc.
11
12
Đối với dinh dưỡng kali, Duan Shufen (1988) [28] cho biết bón phân
kali cho đất từ trung bình đến giàu ở Trung Quốc, đã làm tăng khả năng hấp
thu N và P của cây lạc. Tuy nhiên để việc bón phân khoáng có hiệu quả cao
cần phải bón cân đối giữa các dinh dưỡng N, P, K, Ca, S và các phân vi lượng
khác. Cụ thể: bón phối hợp (30 kg N + 17 kg P)/ha tăng năng suất gấp đôi so
với chỉ bón 30kg N/ha. Trên đất nhẹ hoặc trung bình bón phối hợp (11,0 kg N
+ 10,0 kg P + 19,0 kg K)/ha đã làm tăng năng suất lạc nước trời 100 - 154%
so với bón đơn độc N, P, K hoặc khi bón 2 trong 3 loại phân trên [10]. Tỷ lệ
bón kết hợp N, P, K tối ưu theo khuyến cáo là 1,0 : 1,5 : 2,0 (Duan Shufen,
1988) [28].
Đối với dinh dưỡng Ca, cũng rất quan trọng, bởi bón vôi cho lạc sẽ làm
giảm tốc độ Al, Mn làm tăng các nguyên tố P, Ca, Mg, Mo và cải thiện sự
hình thành nốt sần. Tuy nhiên bón Ca chỉ có hiệu quả cao đối với đất có hàm
lượng Ca dễ tiêu nhỏ hơn 158mg/kg đất, và năng suất lạc tăng theo tỷ lệ thuận
với mức Ca tăng từ 0, 4, 6, 8 tấn/ha. Những kết quả nghiên cứu ở Chiềng Mai
Thái Lan cho thấy đất không được bón Bo có tỷ lệ quả lép tăng 50% so với
đất có bón Bo và năng suất lạc giảm 45%. Ngoài ra bón Co và Mo cũng làm
tăng năng suất lạc.
Sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghệp
của Việt Nam. Diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieo trồng các
cây công nghiệp ngắn ngày (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [2] và có xu hướng
tăng trong giai đoạn 2001- 2009. Theo số liệu thống kê năm 2009, diện tích
lạc trên toàn quốc là 249.200 ha sản lượng 525.100 tấn, năng suất trung bình
21,0 tấn/ha (Tổng cục thống kê, 2010) [25].
Vùng đồng bằng Sông Hồng, lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh: Vĩnh Phúc,
Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam,
Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31.000 ha chiếm 12.56% diện tích trồng
13
14
lạc của cả nước với sản lượng đạt 72.800 tấn chiếm 13.86% sản lượng lạc
toàn quốc năm 2009 [25].
Vùng trung du Miền núi phía Bắc, lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Phú
Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào
Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu với diện tích
trồng 50.400 ha, chiếm 20,22% diện tích trồng lạc của cả nước; đạt sản lượng
86.300 tấn, chiếm 16,43% sản lượng lạc toàn quốc năm 2009 [25].
Vùng bắc Trung bộ và duyên hải Miền trung, đây là vùng trồng lạc lớn
nhất cả nước, tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Với diện tích trồng
108.200ha, chiếm 43.41% diện tích trồng lạc của cả nước. Sản lượng đạt
210.400 tấn, năng suất bình quân là 19,4 tạ/ha, chiếm 40,04% sản lượng lạc
toàn quốc.
Vùng Tây Nguyên, diện tích trồng 17,700 ha, chiếm 7,1%, tập trung ở
các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai. Sản lượng là 30.400 tấn, năng suất
bình quân là 17,1 tấn/ha, chiếm 5,78% sản lượng lạc toàn quốc. Vùng đông
Nam bộ, diện tích 29.100 ha, chiếm 11,67%, tập trung ở các tỉnh Tây Ninh,
Binh Thuận, Bình Phước Sản lượng đạt 83.800 tấn chiếm 15,95%. Vùng
[6] cho rằng, yếu tố hạn chế sinh học quan trọng nhất đối với sản xuất lạc ở
Việt Nam là thiếu giống chịu thâm canh cao, có khả năng kháng sâu bệnh hại
và thích ứng cho từng vùng sinh thái. Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự (2005)
[13], Nguyễn Thị Yến, (2000) [12] cho rằng, bệnh gây hại là yếu tố hạn chế
lớn đối với nhiều vùng trồng lạc ở Việt Nam, đặc biệt ở Miền Bắc nguy hiểm
nhất là bệnh chết héo xanh ở lạc [9], [21].
15
16
Theo Vũ Công Hậu và CS (dịch, 1995) [11] cho biết lạc được trồng
trên đất có độ mặn 4.900 miCromhos/cm thì sản lượng giảm 50%, nếu độ
mặn là 6.500 miCromhos/cm thì không có sản lượng. Cũng theo tác giả này
đất trồng lạc thiếu Bo đã làm cho quả không có hạt. Đất chua (pH thấp), hàm
lượng P, Ca, Mg, Mo thấp, Al và Mn cao nên ức chế sự hình thành và hoạt
động của nốt sần ở cây lạc. Mà nguyên nhân dẫn đến đất chua, nghèo dinh
dưỡng chủ yếu là do đất bị rửa trôi, xói mòn, từ đó làm năng suất lạc thấp.
Cây lạc chậm phát triển khi nồng độ Al là 3 micro M. Đất trồng lạc thiếu Ca,
đất chua là yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và xâm nhập của vi
khuẩn nốt sần cộng sinh với cây lạc, từ đó hạn chế quá trình cố định đạm sinh
học ở rễ lạc. Sự mất cân đối các chất dinh dưỡng ở trong đất là nguyên nhân
dẫn đến năng suất lạc thấp. Ngoài ra, nhiều khu vực trồng lạc trên thế giới,
gặp trở ngại trong việc phát triển diện tích và tăng năng suất lạc là yếu tố
nước. Do vậy khô hạn luôn là yếu tố hạn chế đối với cây lạc.
Ở Việt Nam có tới 46,6% diện tích đang trồng cây họ đậu không thích
hợp đối với cây đậu đỗ [2], có trên 70% diện tích trồng lạc nhờ nước trời
(Đậu Thị Lương, 1995) [22], lượng mưa lớn và phân bố không đều là yếu tố
hạn chế lớn đối với sản xuất lạc. Đất khô và nhiệt độ thấp ở đầu vụ xuân, cuối
vụ thu đông đều là những yếu tố hạn chế đến năng suất lạc ở miền Bắc Việt Nam
[2], [6], [21].
Qua kết quả nghiên cứu của Viện Nông hoá thổ nhưỡng (Phạm Văn Thiều,
2000) [17] cho biết trên một số đất trồng lạc ở các vùng lạc chuyên canh của ta thì
tác các nhà khoa học đã xác định thời vụ trồng thích hợp cho mỗi vùng. Ở
Miền Bắc thời vụ trồng lạc chịu sự chi phối của chế độ mưa và nhiệt độ trong
năm, Vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ gieo lạc vụ xuân tốt nhất từ 5/2 đến
6/3, muộn nhất không quá 10/3. Miền núi rét thường kéo dài gieo muộn hơn
từ 25/2 đến 15/3 trên đất ruộng. Từ 1/3 đến 15/3 trên đất bãi, đất đồi. Lạc thu
gieo từ 15/7 đến cuối tháng 8, do gặp nắng nóng và mưa lớn nên quả bé, năng
suất thấp. Lạc thu đông gieo trồng từ 15/8 đến 25/9; vụ này năng suất cao
hơn, chất lượng tốt hơn vụ thu, giữ làm giống cho vụ xuân năm sau rất tốt [2],
[6]. Vùng khu 4 cũ trồng lạc xuân bắt đầu từ 25/1, kết thúc 28-29/2. Đối với
17
18
vùng trung Trung bộ, lạc xuân gieo vào tháng 1, 2. Lạc hè gieo vào tháng 4, 5
đầu mùa mưa [8]. Tuy trong lịch thời vụ có quy định khá cụ thể nhưng dù sao
thì đây mới chỉ là cái khung cho cả một vùng rộng trên địa bàn của nhiều tỉnh.
Vì vậy, muốn có lịch sát hợp cho từng giống, từng chân đất, từng chế độ canh
tác khác nhau, thì mỗi địa phương cần nghiên cứu để cụ thể thêm làm căn cứ
hướng dẫn nông dân gieo trồng, làm sao cho hạt giống khi gieo xuống mọc
nhanh, bảo đảm được mật độ và thuận lợi để sinh trưởng, phát triển đến lúc
thu hoạch; tránh được các điều kiện bất lợi có thể dự đoán được như rét, hạn,
gió lào, mưa lũ… để cho năng suất cao và ổn định.
Trong quy trình kỹ thuật sản xuất lạc của Bộ Nông Nghiệp & PTNT
hướng dẫn là đối với các loại đất khác nhau thì phải áp dụng mức phân bón
khác nhau (Phạm Văn Thiều, 2002) [16].
Theo Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên và CS (1991) [6] cho biết trên nhiều
vùng đất trồng lạc khác nhau ở Miền Bắc với liều lượng bón 60kg P
2
O
5
trên
nền 8 - 10 tấn PC + 30 kg K
trên đất xám bạc màu Ninh Bình bón thêm (60kg P
2
O
5
+ 30 kg K
2
O) vào nền
(10 tấn PC + 400kg vôi bột + 30kg N) năng suất lạc tăng 23,8% so với chỉ
bón nền + 60kg P
2
O
5
thì hiệu suất là 4,0 - 6,0 kg. Nguyễn Thị Dần, Thái
Phiên (1991) [7] cho biết trên đất cát ven biển Thanh Hoá bón 10 tấn PC và
30 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O/ha đã làm tăng 6,4 - 7,0 tạ/ha lạc so với
không bón.
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu để xác định khoảng cách, mật độ
trồng lạc tối ưu. Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [2] cho biết, với những giống
lạc dạng đứng cây phân cành gọn, mật độ thích hợp ở vụ xuân là 40 cây/m
2
(33cm x 15cm x 2 cây hoặc 25 cây x 20cm x 2 cây), năng suất cao hơn so với
trồng 33 cây/m
2
(33cm x 10cm x 1 cây) là 27 - 36%. Theo Ưng Định và
Vũ Ngọc Thắng, Vũ Đình Chính (2007)[16] ảnh hưởng của một số vật
liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14 trong
điều kiện vụ thu trên đất Gia Lâm - Hà Nội. Theo tác giả, công thức che phủ
nilon có tổng số quả đạt cao nhất, che phủ bằng trấu đạt thấp nhất.
Trịnh Thị Lan, Lê Đình Hải (2009) [24] so sánh một số giống, dòng lạc
và xác định lượng phân bón cho lạc xuân tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Theo tác giả, trong điều kiện vụ xuân giống lạc L26, L14, MD7 có năng suất
thực thu cao nhất khi bón 8 tấn PC + 30kgN + 60kgP
2
O
5
+ 60kgK
2
O + 500
kg vôi bột, mật độ trồng 33 cây/m
2
.
Vũ Văn Viết và cộng sự (2010) [19] nghiên cứu tuyển chọn giống và
vật liệu che phủ thích hợp cho lạc xuân tại xã Lệ Viễn huyện Sơn Động, tỉnh
Bắc Giang đã tuyển chọn được giống L14 có năng suất đạt 21 tạ/ha, phù hợp
với điều kiện địa phương và sử dụng vật liệu che phủ làm tăng năng suất so
với không che phủ trên 5,49 tạ/ha.
Theo Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân (biên dịch, 1995) [11] cây lạc thích
hợp với loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước, thoáng khí, đất cày
sâu 15 - 20cm, trồng luống rộng 0,7 - 1,2m, có rãnh, năng suất tăng 10 - 15%
so với cày nông 7- 8 cm.
1.4.4. Tình hình nghiên cứu phát triển lạc thu đông ở một số tỉnh phía Bắc
Việt Nam
Ở các tỉnh phía Bắc, lạc xuân là vụ sản xuất chính, năng suất trung bình
cao và ổn định hơn vụ lạc thu, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu và tiêu dùng tại
gặp mưa phùn, nên gặp khó khăn cho phơi giống. Như vậy thời vụ gieo trồng
ảnh hưởng lớn đến năng suất lạc trong vụ thu- đông. Tại Thanh Hoá năng suất
trồng ngày 5/9 đạt 35,0 tạ/ha, ngày 15/9 đạt 34,3 tạ/ha, tăng 6,0 - 10,3% so với
trồng ngày 25/9 [2].
Trần Đình Long và CS (1991) [23] cho biết kết quả thí nghiệm về phân
bón NPK tại Hà Nội cho biết, việc tăng liều lượng phân bón NPK theo tỷ lệ
21
22
(1 : 3 : 2) không ảnh hưởng đến số cành cấp I, thời gian sinh trưởng của lạc
trong vụ thu đông. Tại Thanh Hoá giống lạc L14 ở công thức được bón (10
tấn PC + 500kg vôi bột + 45kgN+ 135 kgP
2
0
5
+ 90 kgK
2
0)/ha có năng suất
36,5 tạ /ha, tương đương với công thức được bón (10 tấn PC + 500 kg vôi bột
+ 60kgN+ 180kg P
2
0
5
+ 120kgK
2
0)/ha là 37,8 tạ/ha và cao hơn các công thức
được bón (10 tấn PC + 500kg vôi bột + 15kgN+ 60kgP
2
0
5
+ 30kg K
1.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Bắc Giang
1.5.1. Tình hình sản xuất lạc ở Bắc Giang
Theo thống kê, từ năm 2000 đến nay diện tích trồng lạc bằng giống
mới có năng suất cao ngày càng được mở rộng, đã góp phần làm tăng năng
suất, sản lượng lạc của Bắc Giang, cụ thể ở bảng 1.1.
22
23
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tỉnh Bắc Giang
giai đoạn 2000 - 2009
Năm Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
2000 7.270 11,95 8.690
2003 8.180 16,10 13.070
2004 9.150 18,40 16.880
2005 10.940 18,82 20.590
2006 9.690 17,16 16.064
2007 10.060 19,03 19.140
2008 12.600 20,05 25.810
2009 11.200 20,62 23.100
(Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Giang 2010)
Lạc được trồng chủ yếu trong vụ xuân, trên hầu hết các loại đất khác
nhau, như chân đất cao, chân đất 3 vụ/năm, chân đất vàn, đất đồi bãi nương
rẫy. Tuy nhiên, diện tích lạc thâm canh chủ yếu được trồng trên đất chuyên màu
và chân 3 vụ/năm, tập trung ở các huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang
Dựa vào đặc điểm sinh học của cây lạc, điều kiện thời tiết, đất đai, mùa
vụ của Bắc Giang và những nhược điểm của việc sử dụng giống lạc từ vụ
Tân Yên (dẫn theo Nguyễn Văn Xuất, 2004)[20].
Từ năm 1995 đến nay, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã đưa các giống
lạc nhập nội từ Trung Quốc về khảo nghiệm so sánh và nhân rộng, giới thiệu
cho sản xuất nhiều giống mới có năng suất cao như giống TQ6, MD7, L14
Với những đặc tính ưu việt, các giống này đã nhanh chóng chiếm ưu thế và
được mở rộng diện tích sản xuất ở các vùng trồng lạc của tỉnh. Trong đó,
giống L14 thích hợp với vùng đất bạc màu và được nông dân Bắc Giang trồng
24
25
nhiều nhất. Đây là giống ngắn ngày, trồng được ở cả vụ xuân và vụ thu đông.
Năng suất trung bình trong tỉnh đạt 22- 25 tạ/ha, cá biệt có một số hộ đạt năng
suất 35 tạ/ha (Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Giang) [1].
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu
tới năng suất lạc của Bắc giang. Một số kết quả nghiên cứu về lạc tại Bắc Giang
là của:
Trịnh Thị Lan, Lê Đình Hải (2009) [24] so sánh một số giống, dòng lạc
và xác định lượng phân bón cho lạc xuân tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc giang.
Theo tác giả trong vụ xuân giống lạc L26, L14, MD7 có năng suất thực thu
cao nhất. Vũ Văn Viết và cộng sự (2010) [19] nghiên cứu tuyển chọn giống
và vật liệu che phủ thích hợp cho lạc xuân tại xã Lệ Viễn huyện Sơn Động,
tỉnh Bắc Giang đã tuyển chọn được giống L14 có năng suất cao nhất, đạt
21 tạ/ha.
Sở Khoa học công nghệ - Trung tâm khuyến Nông - Lâm tỉnh Bắc Giang
cùng với Trung tâm Thực nghiệm Đậu đỗ - Viện KHKT NNVN đã tiến hành
nghiên cứu biện pháp che phủ nilon trong sản xuất lạc ở vụ xuân và thu đông
1998 thấy năng suất tăng hơn không che phủ nilon từ 35 - 51%. Nếu trồng có
che phủ nilon và sử dụng giống mới, trồng theo luống hẹp (hai hàng dọc
luống) sẽ cho năng suất cao hơn so với kỹ thuật cũ (không che phủ, luống to
và giống cũ) từ 2 - 2,5 lần. Nhiều kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước
về biện pháp che phủ nilon cho thấy: