Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất rau mầm tại thành phố huế - Pdf 33

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nền nông nghiệp nước ta nói chung và nông nghiệp Thừa Thiên Huế
nói riêng đang đứng trước những thách thức đó là: Vấn đề ô nhiễm môi
trường, đất đai bị bạc màu, mất sức sản xuất, suy giảm đa dạng sinh học, ngộ
độc thuốc bảo vệ thực vật ở người, bùng phát sâu bệnh do sự phá hủy hệ sinh
thái vì sử dụng quá nhiều hóa chất. Việc chuyển dịch sang nông nghiệp an
toàn, nông nghiệp hữu cơ với các sản phẩm: Rau, hoa quả và thực phẩm an
toàn là vấn đề phải được giải quyết kịp thời và cần thiết.
Những bất cập và tồn tại của sản xuất rau theo phương pháp thông
thường và sản xuất rau an toàn là: Chất lượng rau kém, rau chưa an toàn,
chưa có thương hiệu sản phẩm, giá thành còn cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và thị
hiếu của người tiêu dùng và chưa có chiến lược xúc tiến thương mại [12].
Rau mầm là một loại rau ăn thân lá, được sử dụng khi rau còn non, có
khoảng 2-3 lá. Rau mầm là nguồn cung cấp phong phú nhất các loại vitamin
và chất chống ôxi hóa, ức chế sự hình thành tế bào ung thư, giảm bệnh tim
mạch, giảm lượng cholesterol trong máu. Rau mầm hiện rất được ưa chuộng
ở thị trường các nước phát triển trên thế giới. Đây là một mặt hàng không
những bổ dưỡng mà còn an toàn, vệ sinh và tuyệt đối không sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật, thời gian trồng ngắn 5-10 ngày, được trồng trên giá thể,
kiểm soát được nước tưới, dinh dưỡng trong giá thể, ngăn chặn côn trùng [8].
Hiện nay có một số mô hình nông dân sản xuất rau mầm, rau hữu cơ ở
TP. Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Cần Thơ….Sản phẩm được bán tại các siêu thị,
nhà hàng và được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên mô hình sản xuất
này mới chỉ mang tính tự phát, chưa có những nghiên cứu cơ bản về vấn đề
này, chưa đảm bảo tiêu chuẩn trong sản xuất rau an toàn và bền vững. Do
vậy sản xuất rau ăn mầm cho đến nay vẫn chưa có đủ cơ sở khoa học để
hoàn thiện công nghệ và nhân rộng mô hình sản xuất rau ở hộ gia đình…Bên
cạnh đó rau xanh đóng vai quan trọng trong đời sống con người xét về mặt
khoa học dinh dưỡng lẫn giác độ xã hội [17].

+ Kết quả nghiên cứu của đề tài là dữ liệu khoa học cần thiết cho công
tác giảng dạy, nghiên cứu và sản xuất rau mầm.

2


- Ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở để xây dựng quy trình sản
xuất rau mầm tại Thừa Thiên Huế.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở để xây dựng mô hình trình
diễn và mô hình sản xuất rau mầm có chất lượng, hiệu quả cao, vệ sinh an
toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
+ Phương pháp nghiên cứu dựa trên một số kết quả đã nghiên cứu
thành công trên thế giới và hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện
nay và xu thế tất yếu của thời đại.
1.3. Giới hạn của đề tài
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 01 - 05 năm 2009.
- Đề tài được nghiên cứu qua 5 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: So sánh khả năng sinh trưởng phát triển, phẩm chất và
cho năng suất của một số giống rau mầm.
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của nền giá thể đến sinh trưởng
và cho năng suất của rau mầm cải củ.
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến sinh
trưởng và năng suất rau mầm cải củ.
Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến
năng suất và chất lượng rau mầm cải củ.
Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến
sinh trưởng và phát triển, năng suất của rau mầm.
1.4. Địa điểm nghiên cứu và ứng dụng
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí

mã bao bì cũng chưa đăng kí, mã vạch.
Đến nay mới có 4 tỉnh đăng kí thương hiệu rau an toàn như Hà Nội
(rau Bảo Hà), Thành phố Hồ Chí Minh (rau Tân Phú Trung), Đà Lạt – Lâm
Đồng (rau hữu cơ) và Vĩnh Phúc có rau an toàn Sông Phan, su su Tam Đảo,
sự đăng ký như vậy mới chỉ có trong phạm vi nhỏ vùng miền, chưa tuyên
tuyền quảng cáo để phổ biến rộng rãi cho thương hiệu đi xa hơn trong thị
trường cả nước.

4


- Giá thành rau an toàn còn cao, một số nơi đưa ra giá bán ngay trong
tỉnh hoặc thành phố cũng đã gấp 2 hoặc 2,5 lần trong khi đó rau an toàn vẫn
chưa đủ sức thuyết phục, điều này dẫn đến hậu quả là người sản xuất rau an
toàn không yên tâm sản xuất. Chỉ nơi nào bao cấp có kinh phí thì mô hình
còn hoạt động, nếu không thì nông dân lại làm theo tập quán cũ để đảm bảo
mức sống, ví dụ như một số xã của huyện Đông Anh.
- Chưa đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của khách hàng, lý do là chất
lượng rau an toàn không ổn định, một số nơi do khối lượng rau an toàn chưa
đủ, thậm chí không giữ được thời gian giao rau an toàn đúng thời hạn cho
các bệnh viện, nhà trẻ.... Điều này đòi hỏi là cần thiết phải liên doanh, liên
kết các vùng rau với nhau ngay trong thời gian tới.
- Chưa có chiến lược xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường xuất
khẩu, cụ thể là chưa có chiến lược lâu dài sản xuất rau an toàn [14].
2.2. Giới thiệu chung về rau mầm
2.2.1. Khái niệm rau mầm
Như chúng ta đã biết, rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa
ăn hàng ngày của con người. Rau chứa nhiều nước từ 70 – 95%. Lượng các
chất đường, bột, đạm và chất béo ít nên rau không có giá trị cho năng lượng
cao. Tuy vậy, rau là nguồn thức ăn bổ sung vitamin và chất khoáng quan

lá thật. Thời gian từ gieo đến thu hoạch chỉ từ 5 - 10 ngày, tùy loại rau. Giá
đậu xanh là loại rau mầm đã được trồng và sử dụng phổ biến từ lâu. Tuy vậy
trong thực tế có một số loại rau nếu thu hoạch ở giai đoạn cây mầm thì năng
suất không cao như rau dền, cải ngọt, cải xanh. Với những loại rau này nhiều
người thích ăn ở giai đoạn 1- 3 lá thật, thời gian trồng rất ngắn và cũng có
thể được gọi là rau mầm.
Về kỹ thuật canh tác, rau mầm được trồng trên các dụng cụ và vật
liệu riêng thích hợp là các khay nhỏ với các loại đất hữu cơ sinh học, không
dùng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật [2].
2.2.2. Giá trị dinh dưỡng, dược liệu và kinh tế của rau mầm
+ Giá trị dinh dưỡng
Rau là những cây được sử dụng để làm thực phẩm ăn cùng với lương
thực trong bữa ăn của con người. Bộ phận của cây rau được sử dụng có thể
là lá, thân, hoa, quả hoặc củ. Rau có thể chế biến làm thực phẩm theo nhiều
cách khác nhau như ăn sống, luộc, xào, nấu, muối mặn, đóng hộp, sấy khô.
Một số cây rau còn được chế biến thành kẹo, mứt hoặc nước giải khát như bí
đao, cà rốt, cà chua....

6


Ngoài thành phần chính là nước chiếm từ 70-95% tùy theo bộ phận
cây (quả, lá chứa nhiều nước hơn củ, hạt) các cây rau chứa nhiều chất dinh
dưỡng rất cần thiết cho cơ thể [1].
Các chất bột, đường, đạm, và chất béo trong rau không nhiều như các
loại lương thực và một số thực phẩm khác nhưng cũng là nguồn bổ sung
quan trọng. Trong điều kiện thiếu lương thực, rau cũng có thể cung cấp năng
lượng duy trì cuộc sống một thời gian nhất định.
Rau là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng quan trọng nhất cho cơ
thể. Các chất khoáng chất trong rau gồm nhiều loại như kali, canxi, sắt,

Có thể dùng rau mầm để trộn rau sống, dùng kèm với các món chiên,
món xào hoặc nướng, các loại chả (giò, lụa, quế...), nem, xúc xích, bánh xèo,
phở, bún, mì ăn liền, thịt quay, tôm ram, các loại mắm, cá kho tộ....hay các
món chay, làm trang trí cho các món ăn.
Rau mầm được trồng trên các giá thể đã được diệt trùng, sử dụng các
nguyên liệu như: Xơ dừa, giấy bản để trồng, được tưới hoàn toàn bằng nước
sạch, không sử dụng bất kì một loại hóa chất kích thích nào.
Rau mầm có giá trị dinh dưỡng rất cao, chứa rất nhiều loại vitamin,
aminoaxit, carotenne,.... có tác dụng chống ôxi hóa, làm chậm quá trình lão
hóa, dễ tiêu hóa và sử dụng như một loại thực phẩm đa chức năng [21].
Theo kinh nghiệm của nhiều người trồng rau mầm, mỗi gia đình ở
thành phố chỉ cần 7-14 khay luân phiên thay nhau trong tuần là đã có một
lượng rau sạch, bổ dưỡng, an toàn cung cấp cho chính gia đình mình [19].
Bảng 2.1. Nhu cầu vitamin trong một ngày của người lao động (mg)
Vitamin

A

B1

B2

C

PP

B6

Lao động bình thường


1,5

3,0

3,5

120

25,

2,

Loại lao động

(Nguồn: Hướng dẫn trồng rau sạch - Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Duy Điềm
nhà xuất bản phụ nữ, 2007)[4].

8


Bảng 2.2. Kết quả phân tích các thành phần dinh dưỡng của rau mầm cải củ
Chỉ tiêu

Rau mầm cải củ
Ẩm độ

Vitamin C

Khoáng tổng số


91.94

7.70

0.70

Cơ sở

(Nguồn: [8])
+ Giá trị dược liệu
Chất Chlorophyl giúp tẩy rửa và oxy hóa máu huyết còn chất xơ trợ
giúp bài tiết, lexithin giúp loại trừ chất béo. Vì vậy, ăn rau mầm có thể khử
độc tố trong cơ thể [19].
Chất antioxidants chứa nhiều trong rau mầm giúp bảo vệ cơ thể khỏi
hóa chất phóng xạ và độc hại, giúp cơ thể tự tẩy rửa, trừ khử và tái tạo, chữa
lành. Antioxidants còn là enzim quan trọng vì chúng là tinh chất cho sự hoạt
động của hệ miễn nhiễm và rau mầm là một trong những nguồn gốc tốt cho
sự dinh dưỡng quan trọng này [19].
Trong cây mầm có chứa nhiều vitamin E và các chất kích thích sinh
trưởng. Gần đây, các nhà khoa học của trường đại học Y John Hopkins (Mỹ)
đã công bố hạt mầm xúp lơ xanh có chứa chất chống ung thư sulforaphan
nhiều hơn 30 lần so với xúp lơ xanh đã trưởng thành. Mầm đậu tương có
chứa phytoestrogel có tác dụng chống lão hóa và làm đẹp cho nữ giới [20].
+ Giá trị kinh tế
Theo tính toán, mỗi kg hạt rau cho thu hoạch từ 7-8 kg rau mầm, với
giá bán 30 ngàn đồng/kg, cho lãi gấp 7 lần so với số vốn đầu tư. Nếu trồng
quy mô nhỏ hộ gia đình có thể tận dụng mọi vật dụng như rá, rổ, khay.... để
trồng, đồng thời áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt giữ độ ẩm cho cây [21].

9

Tổng
chi

Năng
suất

Đậu xanh

1.20

1.5

7.46

10.16

520

15.60

5.44

Đậu đen

1.20

1.5

7.46


7.46

12.86

460

18.40

5.54

Ngô nếp mèo

0.43

1.5

7.46

9.39

380

11.40

2.01

Qua việc sản xuất 5 loại rau mầm tại các hộ gia đình thấy rằng tất cả
các loại rau đều sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất khá và đặc biệt cho lợi
nhuận rất cao, biến động từ 201.000 – 554.000đ, lớn nhất là cải củ và thấp
nhất là ngô nếp mèo [8].

nhất trong khoảng 20 - 300C. Nhiệt độ thấp hoặc cao quá đều ảnh hưởng đến
sự nảy mầm. Nếu gặp trời lạnh cần che phủ, không để nơi nắng nóng quá.
- Ánh sáng: Rau mầm không cần nhiều ánh sáng, tốt nhất là ánh sáng
tán xạ. Tuy vậy nếu thiếu ánh sáng cây mầm có thể mau vươn cao nhưng nhỏ
và yếu. Đặc biệt nếu để rau có 2 - 3 lá thật mới thu hoạch thì cần lượng ánh
sáng tương đối nhiều, vì thế nên để ở ngoài một thời gian.
- Nước và độ ẩm: Nước là yếu tố rất quan trọng, trong suốt thời gian
trồng rau cần thường xuyên đảm bảo đủ độ ẩm cho khay trồng, khoảng 6070% độ ẩm bão hòa. Cũng không nên để độ ẩm cao quá vì có thể làm hạt
thối, mầm mọc yếu. Nếu khô quá hạt cũng nảy mầm chậm, thậm chí hạt hoặc
cây mầm bị chết khô. Đặc biệt cần tránh mưa.
- Dinh dưỡng: Trong thời gian cây còn là mầm, chưa có lá thật, mầm
sống chủ yếu bằng chất dinh dưỡng dự trữ trong hạt, không cần cung cấp bổ

11


sung chất dinh dưỡng. Ngoài ra trong đất trồng bằng xác hữu cơ cũng có
chứa một số chất dinh dưỡng cho cây mầm khi cần thiết.
Rau mầm không gieo trên đất thường mà được gieo trên xác hữu cơ đã
được chế biến, xử lý, đảm bảo tơi xốp và sạch. Xác hữu cơ thường dùng là
xơ dừa nghiền thành bột khô, có thể trộn thêm một ít bột vỏ đậu phộng. Các
loại bột xác hữu cơ này có độ xốp tốt, có khả năng giữ ẩm và điều hòa nhiệt
độ cho cây mầm, ngoài ra còn chứa đủ dinh dưỡng cho cây [2].
2.2.4. Dụng cụ và vật liệu trồng rau mầm
+ Hạt giống
Có thể trồng rau mầm bằng nhiều loại hạt giống như cải củ, cải ngọt,
cải xanh, rau muống, đậu xanh, đậu nành, hướng dương, cà rốt, rau
dền....Hạt giống cần đẫy chắc, đảm bảo độ nảy mầm cao trên 90%. Nên mua
hạt giống ở những cơ sở tin cậy, có chất lượng [2].
+ Khay trồng

Khăn giấy dùng để lót trên bề mặt giá thể trước khi gieo hạt, mục đích
là để thu hoạch rau mầm không bị dính giá thể vào rau. Giấy phải mềm và
sạch. Không dùng các loại giấy báo, giấy tập viết hay giấy cứng vì sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hạt và mầm. Khi thu hoạch cũng nên dùng khăn giấy lót
vào hộp đựng thành phẩm, vừa sạch sẽ vừa giữ mầm được tươi [2].
+ Bìa giấy carton
Là loại bìa cứng dùng để đậy khay trong 1 - 2 ngày đầu mới gieo hạt,
khi hạt chưa mọc. Đậy khay có tác dụng giữ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho
hạt nảy mầm, hạn chế chim, chuột và côn trùng ăn hạt. Khi mầm đã bắt đầu
nảy thì bỏ bìa đậy khay ra cho mầm đủ ánh sáng phát triển bình thường [2].
+ Bình phun nước
Dùng bình bơm loại 1 - 4 lít bằng nhựa để tưới [2].
2.3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu rau trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Trên thế giới
Theo thống kê của FAO, hiện nay diện tích trồng rau trên thế giới
khoảng 15 triệu ha/năm, năng suất trung bình đạt 35 – 40 tấn/ha, sản lượng
đạt ở mức 600 triệu tấn, bình quân đầu người 85 kg rau các loại/năm. Có 120
chủng loại đang được sử dụng, trong đó có 14 loại rau chính [11].

13


Năm nước nhập khẩu rau quả lớn nhất thế giới là: Liên Xô cũ, Tiệp
Khắc, Bỉ, Canada, Israel. Năm nước xuất khẩu rau lớn nhất thế giới là: Chi
Lê, Ecuado, Costarica, Newzelan, Tây Ban Nha [7].
Bảng 2.4. Sản lượng rau thế giới và một số nước (tấn/năm)
Năm

2003



2545.795

2469.057

2616.907

2386.463

Pháp

8667.328

8730.823

8420.267

5711.298

5819.300

Philippin

5166.443

5347.027

5352.655

5729.428


2007

889742.60
893432.500
0

(Nguồn FAO, 2008)[16].
Nhìn chung, sản lượng rau của Pháp, Việt Nam và Philippin chiếm với
một tỷ trọng cao, qua các năm cho thấy sản lượng rau của các nước này luôn
có sự biến động.
Khi mức sống của người dân tăng thì nhu cầu sử dụng rau cũng tăng
lên. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu rau quả của mỗi
khu vực có sự khác nhau. Ở Châu Á và Viễn Đông, cứ thu nhập tăng 1% thì
nhu cầu về rau, đậu quả tăng 0.9% [5].
Cũng theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau
tối thiểu cho một người là 90 kg/năm. Hiện nay ở nhiều nước đã vượt qua
ngưỡng này. Năm 1996, sản lượng bình quân theo đầu người ở các nước:
Bungari 178 kg, Hungari 161 kg, Rumani 98 kg. Năm 1998 các nước có
lượng rau tiêu thụ cao trên đầu người như: Bắc Triều Tiên 244,6 kg, Nam
Triều Tiên 141,1 kg [10].

14


2.3.2. Việt Nam
Ở Việt Nam nghề trồng rau đã có từ lâu đời. Hiện nay nước ta có 70
loài thực vật được sử dụng hoặc chế biến làm rau, riêng rau trồng có 30 loại,
trong đó có 15 loại là rau chủ lực và trong số này rau ăn lá chiếm 80% [5].
Bảng 2.5. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam qua một số năm

2002

560,635

133,5

7484,978

2003

577,763

141,6

8183,819

2004

313,798

138,5

4346,475

2005

318,243

142,4



Năm

(Ha)

(Tạ/ha)

(1000 tấn)

2000

82.1

82,30

500.000

135,25

6760,00

2005

88,50

96,30

600.000

140,00

Kết quả

Mức cho phép

Bình Tân

4.0*101

10

1.9*104

102

Siêu thị Metro

0

10

1.5*105

102

Chợ Bến
Thành

0

10

1.0

Siêu thị Metro

29

1000

0.316

1.0

Chợ Bến
Thành

30

1000

Không thấy

1.0

16


Bảng 2.9. Hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật trong rau mầm
Mầm cải củ

Mầm cải bẹ xanh


Cho phép


11.27%

- Đã dùng

63/71

88.73%

1. Số người biết đến rau mầm
- Chưa biết
- Có biết
2. Địa điểm bày bán rau mầm

3. Số người đã dùng rau mầm

(Nguồn: [8])
2.3.3. Tại Thừa Thiên Huế
Bảng 2.11. Diện tích, năng suất, sản lượng rau qua các năm

17


Năm

2001

2002

2003


92,3

91,5

31.820

29.914

33.066

Chỉ tiêu

Sản lượng (tấn)

39.832 40.062 43.485

(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế, 2006)[11].
Những năm gần đây, sản lượng rau ở Thừa Thiên Huế có sự tăng
trưởng khá mạnh và tương đối ổn định, từ năm 2002 bình quân tăng 4.52%
mỗi năm. Diện tích canh tác tăng từ 3.234 ha năm 2001 lên 4.572 ha năm
2006, tăng 46.94%. Qua đó cho thấy sự tăng trưởng về sản lượng rau ở Thừa
Thiên Huế chủ yếu là do sự mở rộng quy mô sản xuất. Năng suất rau của
tỉnh còn thấp so với bình quân chung cả nước.
Tại một số nhà hàng hay siêu thị, rau mầm đã được chấp nhận ngày
càng phong phú về chủng loại, số lượng lớn dần và người tiêu dùng được
biết đến rau mầm qua nhiều món ăn [24]. Với số lượng nhà hàng và khách
du lịch cũng như nhu cầu ngày càng cao ở thành phố Huế thì sản xuất rau
mầm là một tất yếu. Hiện nay đã có một số cơ sở nhỏ đã sản xuất tuy nhiên
chưa có quy mô, sản phẩm làm ra chưa được các cơ quan chức năng kiểm tra
và đánh giá. Quy trình sản xuất phần lớn do người sản xuất tự tìm hiểu chưa

cải củ.

3.5

Trộn thịt bò,
trứng....

Hoàng Anh

Phạm Văn
Đồng

Cải củ.

3.5

Xào mực,
thịt bò....

Vĩ Dạ Mới

Phạm Văn
Đồng

Cải củ.

3.0

Xào thịt
bò...


78 Triệu
Quang Phục

Triệu Quang
Phục

Cải củ

3.5

Trộn thịt bò,
trứng....

20 Triệu
Quang Phục

Triệu Quang
Phục

Cải củ

3.5

Ăn sống,
trộn thịt bò...

Siêu thị

Đinh Tiên

Dương Úc TN8, Beet TN12, Muống Đài Loan TN30, Hành Italy TN4.
- Giá thể: Đất sạch Trang Nông, cát sạch, trấu hun, mùn cưa, vụn xơ dừa.
- Địa điểm: Thành phố Huế, thời gian tháng 01- 05/2009.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nền giá thể khác nhau đến năng suất và
chất lượng rau mầm.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật như mật độ, chế độ ánh sáng
và thời điểm thu hoạch để tăng năng suất và chất lượng rau mầm.
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng
của một số loại rau mầm.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Các phương pháp
- Phương pháp điều tra và thu thập thông tin liên quan đến đề tài
nghiên cứu: Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, sản xuất, nhu cầu
tiêu thụ rau an toàn ở Thành phố Huế và các tỉnh bạn.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích các chỉ tiêu về chất lượng.
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu bằng chương trình thống kê
sinh vật học SXW.
3.3.2. Phương pháp cụ thể
+ Phương pháp điều tra và thu thập thông tin
- Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ....rau trên thế giới, trong
nước và tại thành phố Huế.
+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Thí nghiệm 1: “So sánh khả năng sinh trưởng phát triển, phẩm chất và cho
năng suất của một số giống rau mầm.”

20




IVc

IIIc

Ghi chú:
I: Hướng dương Úc TN8

IV: Cải củ (đối chứng)

II: Hành Italy TN4
III: Rau dền Mỹ TN12

V: Rau muống Đài Loan TN30
a,b,c: Lần nhắc lại

Kết quả thí nghiệm 1 sẽ lựa chọn được 1 loại giống rau mầm thích hợp
đưa vào thí nghiệm 2.
Thí nghiệm 2: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nền giá thể đến sinh trưởng và
năng suất của rau mầm cải củ”.
Thí nghiệm được bố trí tương tự thí nghiệm 1. Tiến hành với giống rau
được chọn ra ở thí nghiệm 1gieo trồng trên 5 nền giá thể. Tổng số 5 công
thức. Mỗi công thức được bố trí trên 3 khay. Tổng số khay thí nghiệm: 15
khay. Gieo 30g hạt/khay.
Công thức I: Đất sạch (đối chứng)

IV: Mùn cưa

II: Cát sạch


Kết quả thí nghiệm 4 sẽ tìm ra thời gian thu hoạch thích hợp cho hiệu
quả kinh tế nhất.
Thí nghiệm 5: ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến sinh
trưởng và phát triển, năng suất của rau mầm’’.
Dựa vào kết quả của các thí nghiệm trên chúng tôi tiến hành bố trí thí
nghiệm với 5 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 1 khay.
Công thức 1: 5 ngày tối – 0 ngày sáng
Công thức 2: 4 ngày tối – 1 ngày sáng

22


Công thức 3: 3 ngày tối – 2 ngày sáng
Công thức 4: 1 ngày tối – 4 ngày sáng
Công thức 5: 0 ngày tối – 5 ngày sáng (Đối chứng)
Thí nghiệm được bố trí như thí nghiệm 1.
Kết quả thí nghiệm 5 sẽ tìm ra chế độ chăm sóc hợp lý, cho năng suất cao.
3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi
Sinh trưởng phát triển
+ Chiều cao cây.
- Thời gian theo dõi từ ngày sau gieo đến khi thu hoạch hết các giống.
- Số lượng mẫu và cách lấy mẫu: Mỗi lần lặp lấy 5 cây
- Đo chiều dài thân (cm): Dùng thước có chia cm đặt từ đốt lá mầm và
duỗi thẳng thân theo chiều dài thước đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng.
+ Thời gian thu hoạch: Tính từ khi gieo đến khi thu hoạch
- Ngày gieo hạt
- Ngày bắt đầu mọc (10-15% số hạt mọc)
- Ngày mọc mầm hoàn toàn (>80% số hạt mọc mầm)
- Ngày thu hoạch (Cây cao khoảng 10-12cm)
Chất lượng sinh hóa (thời điểm thu hoạch)

Tổng số hạt nảy mầm
G =
*100
Tổng số hạt theo dõi
+ Thời gian nảy mầm được xác định theo công thức:
Σd.n
D =
Σn
Trong đó:
D là số ngày nảy mầm
d là ngày nảy mầm
n là số hạt nảy mầm tại ngày d
+ Tốc độ nảy mầm (R) (%/ngày) được tính theo công thức:
1
Σn
R
=
=

24


D

Σd.n

(Nguồn : [3])
Mầm bị nhiễm nấm, mầm không bình thường
Theo dõi số mầm không có khả năng phát triển thành cây, là những mầm bị
nhiễm nấm hay mầm bị chết sau khi mọc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status