1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cụm từ viết tắt Diễn giải
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GDTC Giáo dục thể chất
GV Giáo viên
HS Học sinh
QLGD Quản lý giáo dục
THCS Trung học cơ sở`
THPT Trung học phổ thông
TDTT Thể dục thể thao
UBND Uỷ ban nhân dân
TB Trung bình
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người. Người có sức khoẻ
thì có hàng trăm, hàng ngàn ước mơ, còn người không có sức khoẻ chỉ có một
ước mơ duy nhất đó là: Có sức khoẻ. Một tâm hồn lành mạnh, một tư duy
sáng suốt chỉ có thể có ở trong một cơ thể cường tráng, đầy sinh lực. Muốn có
một sức khoẻ tốt để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngoài yếu tố tư chất bẩm
sinh, vấn để rèn luyện để nâng cao sức khoẻ là yếu tố vô cùng quan trọng.
Lý tưởng về phát triển con người toàn diện được Các Mác và Ăng-ghen
xác định rõ nội dung cụ thể và gắn liền nó với thực tiễn đấu tranh cách mạng,
nhằm xây dựng một xã hội mới theo nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản. Học
thuyết về giáo dục toàn diện của Các Mác và Ăng-ghen được Lênin đi sâu
và phát triển sáng tạo. Đặc biệt, Lênin quan tâm sâu sắc đến tương lai của
các tài năng thể thao”. Chỉ thị 17-CT/TW ngày 23/10/2002 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khoá IX) nêu rõ: “Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở
trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên
trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng
giáo dục thể chất; xem đây là một tiêu chí xét công nhận trường chuẩn quốc
gia”. Luật Thể dục, Thể thao số 77/2006/QH11 được Quốc Hội Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2006 quy định:
“Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm
cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài
tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”.
1.3. Bắc Kạn là một tỉnh vùng cao miền núi với địa hình chia cắt, giao
thông đi lại khó khăn, dân cư sống phân tán, kinh tế chậm phát triển, đời sống
4
5
nhân dân còn ở mức thấp… Trong những năm gần đây, dưới sự nỗ lực, quyết
tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, bộ mặt
kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên, là một
tỉnh nghèo nên mức độ đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung
cũng như mức độ đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh còn có nhiều hạn
chế. Riêng trong lĩnh vực GDTC ở các cấp học trong toàn tỉnh Bắc Kạn còn
có nhiều khó khăn về mọi mặt như: Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cho việc học tập thiếu thốn; thiếu sân bãi tập luyện cho học sinh; đội
ngũ giáo viên còn thiếu cả về số lượng và chất lượng… chính vì vậy mà chất
lượng và hiệu quả của công tác GDTC trong trường học nói chung cũng như
ở các trường THCS thị xã Bắc Kạn nói riêng còn có những hạn chế nhất định,
chưa đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh.
Hiện nay, vấn đề quản lý GDTC ở các trường phổ thông nói chung và ở
các trường THCS trên địa bàn thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng còn
chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Vì vậy, để góp phần nâng cao
chất lượng công tác GDTC cũng như tăng cường hiệu quả của hoạt động quản lý
6.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GDTC ở các trường
THCS thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
6.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho học sinh ở
các trường THCS thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương
pháp phân tích tổng hợp các tài liệu, các văn bản chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà Nước có liên quan đến quản lý GD&ĐT và quản lý hoạt động
GDTC cho học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6
7
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi nhằm thu thập thông tin về thực
trạng quản lý hoạt động GDTC cho học sinh THCS trên địa bàn thị xã Bắc Kạn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
- Phương pháp chuyên gia.
7.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu
8. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm phần mở đầu, kết luận và 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDTC cho học sinh ở
trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDTC ở các trường THCS thị
xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động GDTC các trường THCS
thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
7
8
Chương 1
khoa học giáo dục thể chất, y tế trường học (Bộ GD&ĐT, NXB TDTT năm
2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC
và y tế trường học. Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của
Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài Định hướng chiến lược tăng cường
GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ học sinh trong nhà trường phổ thông các
cấp đến năm 2010. Trong đề tài này, các tác giả đã đưa ra mục tiêu định
hướng lâu dài, mục tiêu trước mắt 2003 - 2010 và đồng thời đưa ra các giải
pháp chiến lược nhằm thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra. Trong nghiên
cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung
Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trường học các
tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra
những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những
hạn chế còn tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa
phương cả nước do đó nó thể hiện được bức tranh tổng thể công tác GDTC.
Nhưng hạn chế của nó là chưa thể hiện được sự khác biệt giữa các vùng miền,
địa phương và các giải pháp tương ứng. Trong các đề tài tiếp theo có thể kể
đến công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Công Dân với đề tài Nghiên cứu
biện pháp phát triển thể chất cho học sinh các trường trung học phổ thông dân
tộc nội trú khu vực miền núi phía bắc. Đề tài đã đánh giá được thực trạng phát
triển thể chất của học sinh các trường dân tộc nội trú gồm các tỉnh Lào Cai,
Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn và cũng đề ra các biện pháp nhằm tăng cường
thể chất cho đối tượng học sinh này. Biện pháp chủ yếu là bám sát nội dung
chương trình dạy học để tăng cường thể lực, trang bị kỹ năng cho học sinh tốt
hơn.
9
10
Theo Nguyễn Kim Minh [11, tr 277], từ năm 1991 đến 2005, trong số
32 luận án tiến sĩ về TDTT, đã có 19 luận án nghiên cứu về GDTC. Ví dụ:
Nghiên cứu hiệu quả của GDTC đối với sự phát triển tố chất thể lực của nam
học sinh phổ thông (lứa tuổi 8 - 17 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh của
thao để thực hiện” [26, tr 198].
Nô vi cốp và Mát vê ép thì cho rằng “GDTC là hoạt động cơ bản có
định hướng TDTT trong xã hội, là một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp
thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung ở nhà
trường các cấp” [18].
Còn các nhà lý luận TDTT của Việt Nam như Nguyễn Toán, Phạm Danh
Tốn thì cho rằng do bắt nguồn từ gốc hán nên có người gọi tắt GDTC là thể
dục theo nghĩa tương đối hẹp vì theo nghĩa rộng của từ Hán cũ Thể dục còn có
nghĩa là TDTT. Bởi vậy theo hai tác giả trên thì GDTC là một trong những
hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá
trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ
thống giáo dục và giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường. Trong quá
trình GDTC ngoài giáo dưỡng thể chất thì việc giáo dục phẩm chất đạo đức và
phòng cách TDTC cho người học cũng hết sức quan trọng [29, tr 32].
Cũng theo hai tác giả trên thì đặc trưng cơ bản và chuyên biệt thứ nhất
của giáo dưỡng thể chất là dạy học vận động và đặc trưng thứ hai là sự tác
động có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chất thể lực nhằm
nâng cao sức vận động của con người. Từ đó hai tác giả đã đưa ra định nghĩa:
“GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học
vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con
người” [29, tr 24].
Theo chúng tôi, giáo dục thể chất là một quá trình được tổ chức một
cách có mục đích, có kế hoạch thực hiện với chức năng chuyên biệt nhằm
phát triển các kỹ năng vận động, các tố chất vận động và phát triển thể lực
cho người học.
11
12
Giáo dục thể chất là một trong những nội dung giáo dục toàn diện nhân
cách người học trong các nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng, nó
có thể được tiến hành bằng nhiều con đường, trong đó con đường dạy học
13
trạng thái hoạt động của hệ luôn ở thế cân bằng, vận động phù hợp, thích ứng
và có hiệu quả.
Ngoài ra còn có một số nhà khoa học quản lý ở Nga, Mỹ có những khái
niệm “quản lý” theo các cách khác nhau.
- Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy
được rõ ràng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể
những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được
mục tiêu dự kiến.
Từ cách tiếp cận trên, ta có thể đi đến khái niệm về quản lý là:
“Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý”
Cũng theo các nhà khoa học quản lý trong và ngoài nước như Trần
Hiếu Tân (1998), Nguyễn Ngọc Quang (1989), Nguyễn Minh Đạo (1997) thì
hoạt động quản lý vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính
giai cấp, vừa có tính kỷ luật, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã
hội rộng rãi… Đó là những mặt đối lập trong một thể thống nhất và đó cũng
chính là bản chất của hoạt động quản lý. Quản lý là một hoạt động cần thiết
cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người.
Quá trình tác động của chủ thể quản lý phụ thuộc vào công cụ quản lý
và phương pháp quản lý quá trình này có thể được biểu diễn bằng sơ đồ số 1:
13
14
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc hệ thống quản lý
1.2.2.2. Khái niệm Quản lý giáo dục
Theo các chuyên gia về quản lý giáo dục trong và ngoài nước thì quản
lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội. Quản lý
giáo dục được xuất hiện cùng lúc với sự ra đời của hoạt động giáo dục. Với
cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học quản lý đã đưa ra khái niệm quản
riêng là một bộ phận không thể thiếu được của quản lý xã hội Xã hội chủ
nghĩa nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước, các nhà
quản lý học TDTT của Liên Xô cũ và Trung Quốc như Nôvicốp, Mátvê ép
(Liên Xô cũ), Dụ Kế Anh, Chu Nghiêm Kiệt (Trung Quốc) đã đi đến khái
niệm về quản lý TDTT trong đó có quản lý TDTT trường học tức GDTC
trường học như sau:
“Quản lý GDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu
GDTC đã đề ra” [30; tr 27].
Còn các nhà nghiên cứu quản lý học TDTT ở nước ta với cách tiếp cận
quản lý TDTT hướng vào hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm
không ngừng phát triển sự nghiệp TDTT và sự nghiệp GDTC cho học sinh,
sinh viên trường học các cấp, góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện
đức, trí, thể, mỹ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Với cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi chọn khái
niệm sau đây làm khái niệm công cụ: “Quản lý GDTC là sự tác động liên tục
mang tính mục đích, tính kế hoạch của người quản lý (chủ thể quản lý) lên
khách thể quản lý (chương trình, kế hoạch giảng dạy, quá trình dạy học của
giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy) nhằm thúc đẩy và nâng
15
16
cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho học sinh sinh viên theo đúng
nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển
của xã hội” [2; tr 5].
Từ khái niệm về quản lý GDTC của các học giả trong và ngoài nước, ta
có thể khái quát về quản lý GDTC như sau:
- Quản lý GDTC là tổ chức điều hành phối hợp các lực lượng GDTC nhằm
thúc đẩy công tác GDTC cho thế hệ trẻ theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng
mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.
- Quản lý GDTC với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi phải có
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo vệ cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của nhà nước.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC ở trường THCS
1.3.2.1. Mục tiêu GDTC trong trường THCS
GDTC với tư cách là một mặt giáo dục giữa chức năng của “khoa học
giáo dục cơ thể, rèn luyện cơ thể” nhằm mục đích chính là bảo vệ, bồi dưỡng
sức khỏe cho học sinh. Nó được thể hiện qua các tiêu chuẩn sau:
- Không mắc bệnh tật.
- Hình thái, cấu trúc và chức năng cơ thể phát triển nhịp nhàng, hài hòa,
cân đối theo đúng quy luật sinh lý.
- Các năng lực trí tuệ và vận động phát triển đến mức cao ở từng lứa tuổi.
17
18
- Có tinh thần lạc quan, nghị lực kiên cường, ý chí dũng cảm.
- Thích nghi dễ dàng với môi trường sống.
- Góp phần phát triển con người toàn diện, chuận bị cho học sinh đi vào
cuộc sống lao động, sáng tạo và bảo về Tổ quốc.
* Chương trình giáo dục phô thông cấp THCS đề cập đến mục tiêu, yêu
cầu GDTC như sau:
- Kiến thức:
+ Biết phương pháp đơn giản rèn luyện sức nhanh, sức bền. Hiểu một
số chiến thuật, luật thi đấu đá cầu và môn tự chọn.
+ Có kiến thức sơ bộ về đặc điểm cấu tạo, sinh lý cơ thể người; bước
đầu hiểu được cơ sở khoa học của khẩu phần ăn và các biện pháp vệ sinh, rèn
luyện cơ thể và phòng chống bệnh tật.
Nội dung của GDTC được xác định trên cơ sở phân tích tác dụng của
các nhân tố hàng ngày ảnh hưởng đến cơ thể học sinh.
Người ta xếp 4 nhân tố chính: Vệ sinh, TDTT, các chế độ sinh hoạt
(học tập, lao động, nghỉ ngơi, vui chơi) và dinh dưỡng.
Nhà trường làm tốt công tác vệ sinh nghĩa là:
Giáo dục cho học sinh có tình cảm, ý thức, hiểu biết vệ sinh tối thiểu
như: Vệ sinh thân thể, vệ sinh đồ dùng cá nhân, vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh
học tập, vệ sinh lao động, vệ sinh rèn luyện, vệ sinh tinh thần, vệ sinh phòng
bệnh, phòng dịch. Cần giáo dục liên tục gắn với thực tế, xây dựng thành thói
quen và nếp sống.
Tạo điều kiện cho học sinh học tập và lao động hợp vệ sinh. Trường
lớp đúng quy cách, đủ ánh sáng, thông khí tốt, mát về mùa hè, ấm về mùa
đông, bàn ghế vừa tầm có công trình nước sạch, nhà vệ sinh đúng quy cách.
Có sân chơi bãi tập, môi trường xanh, sạch đẹp.
19
20
Nhà trường phải là đơn vị tiên tiến trong phong trào tiêm chủng, dập tắt
sớm các dịch bệnh lan vào trường, chữa bệnh sớm cho học sinh, tuyên truyền
vệ sinh trong phụ huynh học sinh. Ngăn ngừa các tệ nạn nghiện hút, xâm
nhập vào nhà trường.
Nhà trường tổ chức sinh hoạt hợp lý cho học sinh có nghĩa là:
Nghiêm chỉnh chấp hành các qui chế giảng dạy và học tập về khối
lượng, nội dung chương trình về thời gian quy định cho tiết học, buổi học,
tuần học, học kỳ năm học. Luôn luôn cải tiến phương pháp giảng dạy và học
tập giúp cho học sinh học một cách tự giác, đễ hiểu, nhớ lâu.
Tổ chức cho học sinh lao động vừa sức: Hình thái hợp lý, dụng cụ nhỏ
nhẹ, cường độ thích hợp, an toàn tuyệt đối.
Trả đủ thời gian nghỉ thực tế cho học sinh (khi nghỉ chuyển tiết, nghỉ ra
chơi, ngày chủ nhật…) tôn trọng thời gian ngủ.
Hướng dẫn học sinh vui chơi giải trí lành mạnh và thoải mái ở trong và
điểm các chức năng bộ phận trong cơ thể đang phát triển mạnh cả về lượng và
chất. Việc tác động các bài tập hợp lý đến cơ thể các em có ý nghĩa rất lớn
đến quá trình hoàn thiện một cơ thể cân đối hài hòa. Không những phát triển
về thể chất mà các em ở giai đoạn này còn đang hoàn thiện cả về nhận thức
thế giới. Do vậy việc hình thành ở các em những kiến thức về vệ sinh thân
thể, môi trường, dinh dưỡng cũng có vai trò quan trọng trong việc định hình
giá trị trong bản thân các em. Sự phát triển ở học sinh THCS một cơ thể cân
đối, hài hòa các chức năng, bộ phận và có một thế giới quan chuẩn mực về vai
trò của sức khỏe và vệ sinh để có sức khỏe sẽ hình thành và định hình rõ nét
nếu việc thực hiện các nhiệm vụ GDTC được diễn ra một cách bài bản và
đúng trọng tâm.
21
22
* Đặc điểm tâm sinh lý GDTC học sinh THCS
Để công tác GDTC có hiệu quả đối với học sinh THCS, các hoạt động
GDTC của nhà trường phải được các em yêu thích, các bài tập cùng với khối
lượng và cường độ được áp dụng phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa
tuổi học sinh THCS.
Đa số các em học sinh THCS có độ tuổi từ 11 đến 14, ở lứa tuổi này, cả
nam và nữ bắt đầu vào tuổi dậy thì (nam từ 12 đến 14 tuổi, nữ từ 10 đến 13
tuổi), đây là khoảng thời gian mà sự phát triển của cơ thể diễn ra mạnh mẽ, có
tính quyết định đến trình độ thể chất của các em ở lứa tuổi trưởng thành sau
này. Đây cũng là lứa tuổi mà hình thành được nhiều những phản xạ có điều
kiện, năng lực tổng hợp cao, phát triển khả năng tư duy, tiếp thu nhanh các kỹ
xảo vận động quan trọng, hình thành các năng kiếu vận động. Đây cũng là
thời kỳ phát triển học sinh nhậy cảm, mạnh mẽ, có những thay đổi hết sức
quan trọng (đột biến) về các chức năng trong cơ thể như: Hệ thần kinh - tâm
lý, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ vận động, hệ sinh dục Công tác GDTC phải
tác động tích cực, chủ động tận dụng thời cơ thúc đẩy quá trình phát triển của
các em nhanh, mạnh và hoàn thiện hơn, đôi khi còn giúp các em chữa được
(đặc biệt là tuyến giáp) phát triển mạnh trong khi đó các huyết quản lại phát
triển chậm. Các nhà sinh lý gọi đây là “hiện tượng huyết áp cao thanh niên”
thường gặp ở những em phát triển mạnh về chiều cao. Đặc điểm của hiện
tượng này là huyết áp tối đa tăng (không vượt quá 150mk/Hg), huyết áp tối
thiểu bình thường. Hiện tượng này bắt đầu từ lứa tuổi 11-12 và tăng dần theo
lứa tuổi, cao nhất ở tuổi 15-16 sau đó giảm dần và ổn định.
Khi hướng dẫn tập luyện cho đối tượng học sinh, người giáo viên thể
dục cần phải nắm vững đặc điểm trên để phân biệt với các trường hợp bệnh lý.
23
24
Hệ hô hấp: Dung tích nhỏ, nhịp thở tăng nhanh, khả năng nợ oxy, năng
lực hoạt động yếm khí thấp hơn người thường. Do vậy, khi cho học sinh chạy
bền cần quan tâm dạy cách thở trong khi chạy cho học sinh.
* Đặc điểm về GDTC cho học sinh THCS
Trong sinh hoạt hàng ngày, khi lao động kéo dài thì sự tiêu hao năng
lượng tăng, đến một lúc nào đó xuất hiện mệt mỏi, sau đó mệt mỏi tăng dần
và dẫn đến khả năng làm việc giảm dần. Chỉ sau khi nghỉ ngơi và bổ sung
“nguyên liệu” thì khả năng làm việc của cơ thể dần dần khôi phục. Tuy nhiên
qua nhiều kết quả nghiên cứu khoa học, người ta thấy sự khôi phục không
chức dừng lại khi đạt mức ban đầu, mà còn có giai đoạn hồi phục vượt mức -
trong một khoảng thời gian nhất định.
(Sơ đồ của GX V Phôbơn và N.N Iacôplép)
Lao động hay
luyện tập
Đặc điểm trên có ý nghĩa đặc biệt trong GDTC, bằng một loạt các bài
tập được tính toán khoa học phù hợp với sức khoẻ của mối người theo chế độ
phù hợp chặt chẽ giữ tập luyện với nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý thì sức khoẻ
của người tập không ngừng được nâng cao.
Nếu buổi tập thứ 2 tiến hành cách buổi tập thứ nhất quá xa hoặc những
đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt
động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm. GDTC
chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể
25