SV thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Nhã Môn: Luật Kinh doanh quốc tế
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
LỜI NHẬN XÉT
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
1
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
chấp bằng trọng tài được coi là lựa chọn được ưa chuộng của các doanh nghiệp trên thế
giới. Tuy nhiên, thực trạng Việt Nam lại cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự "mặn
mà" với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có hơn
95% tranh chấp thương mại trong nước được đưa ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Sở dĩ có tình trạng trên thì bên
cạnh nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp còn có nguyên nhân xuất phát từ hệ
thống pháp luật về trọng tài của Việt Nam, đó là hệ thống chưa thực sự tạo ra một hành
lang pháp lý an toàn, hiệu quả để doanh nghiệp trong và ngoài nước tự tin khi lựa chọn
trọng tài.
Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) năm 2003 đã đánh dấu một
bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam,
đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của cộng đồng doanh
nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trong hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều
điểm tiến bộ cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới như việc Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), việc ban hành Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu
tư năm 2005… nhưng một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ sự bất cập như thẩm
3
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế, đội ngũ trọng tài viên trong nước chưa phát triển,
cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài chưa hiệu quả…
Xuất phát từ thực tế trên đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thực thi các cam kết
khi gia nhập WTO thì việc ban hành Luật TTTM là một tất yếu khách quan. Sự ra đời
của Luật TTTM với nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ
quốc tế góp phần tạo niềm tin cho các cá nhân, tổ chức khi lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Một trong những điểm mới đáng ghi nhận là Luật TTTM
chính thức quy định hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ
việc và có các quy định nhằm hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơ hội phát triển
ngang bằng nhau và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng cả hai hình thức này. Tuy
nhiên để các quy định này không chỉ có hiệu lực trên giấy thì cần có sự đánh giá khách
việc nói riêng.
b. Nhiệm vụ.
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:
• Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài thương mại.
• Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về trọng tài thương mại; đánh giá
thực trạng sử dụng phương thức trọng tài thương mại trong thực tiễn giải quyết các
tranh chấp thương mại tại Việt Nam.
• Việt Nam từ đó chỉ ra các khó khăn, vướng mắc đang và sẽ gặp phải và các
nguyên nhân liên quan đến việc sử dụng trọng tài thương mại giải quyết tranh
chấp.
• Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc áp dụng và điều
chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
nhằm lựa chọn những kinh nghiệp hay, phù hợp cho việc áp dụng vào Việt Nam.
• Đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một cách hiệu quả các quy định của
pháp luật nhằm khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng phương thức trọng tài
thương mại khi cần giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là tài phán thương mại và các hình thức của nó, “Luật trọng tài
thương mại” và thực tiễn tình hình tài phán tại Việt Nam, “Luật trọng tài thương mại”
của 1 số tổ chức trên thế giới như WTO…
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm những quy định pháp luật về các phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, kinh nghiệm quốc tế và đi sâu nghiên
cứu phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại theo pháp
luật Việt Nam.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu bài
luận sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
5
xâm phạm lợi ích nhà nước, xã hội, tập thể và quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công
dân.
Những tranh chấp và xung đột pháp lý, những vi phạm pháp luật không loại trừ xảy ra
ngay cả trong nhà nước xã hội chủ nghĩa khi pháp luật thể hiện ý chí tuyệt đại đa số nhân
dân lao động. Để phản ứng lại những hành vi vi phạm pháp luật, nhà nước áp dụng các
biện pháp cưỡng chế khác nhau đã được pháp luật dự kiến trước trong các chế tài của các
quy phạm pháp luật. Song, những biện pháp cưỡng chế nhà nước chưa thể áp dụng ngay
được nếu như chưa có sự phán xét, đánh giá những hành vi được coi là vi phạm pháp luật
hay những tranh chấp pháp lý cụ thể.
Vì vậy, nhà nước cần có một hay nhiều các tổ chức, cơ quan thay mặt nhà nước đứng
ra thực hiện chức năng xem xét khía cạnh pháp lý của sự việc, giải quyết những tranh
chấp và áp dụng chế tài theo luật định. Hoạt động mà các cơ quan đó thực hiện chính là
“hoạt động tài phán” và bản thân cơ quan đó là “cơ quan thực hiện chức năng tài phán”
Thuật ngữ “tài phán” có gốc từ tiếng La Tinh là “jurisdictio” có nghĩa là tổng thể
những quyền hạn của Tòa án hoặc cơ quan hành chính về việc đánh giá khía cạnh pháp
lý của những sự kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết tranh chấp và áp dụng những chế
tài theo luật định.
Như vậy, có thể nói khái niệm “tài phán” rộng hơn khái niệm “xét xử” ở nhiều khía
cạnh. Hoạt động tài phán có thể thực hiện bởi nhiều loại cơ quan khác nhau. Không chỉ
tòa án mà các cơ quan hành chính hay các cơ quan khác cũng có quyền tài phán. Quyền
tài phán có thể do một cơ quan độc lập, chuyên trách thực hiện hoặc có thể do một cơ
quan thực hiện nhiều chức năng, trong đó có chức năng tài phán. Điều đó phụ thuộc vào
cơ cấu, phương thức tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước, vào thẩm quyền mỗi cơ
quan theo quy định của pháp luật.
7
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
Tài phán được hiểu là toàn bộ các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có
thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý. Quyền tài
phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
8
SV thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Nhã Môn: Luật Kinh doanh quốc tế
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân. Quan hệ thương mại có
thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không
phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một
bên là thương nhân. Ngoài ra cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng
có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công
ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, hợp nhất, giải thể, chia, tách…công ty;…
Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm
pháp luật. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có hợp
đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi
ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể ó những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng
không làm phát sinh tranh chấp.
Nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích
của các bên trong hợp đồng thương mại. Các quan hệ thương mại có bản chất là lợi ích
các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế
của các bên.
III. Các phương thức giải quyết tranh chấp.
Tranh chấp thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi của
các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi
phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội.
Hiện nay, tranh chấp thương mại được giải quyết bằng các phương thức:
Thương lượng: là phương thức giải quyết trah chấp thông qua vệc các bên tranh chấp
cùng nhau bàn bạc, dàn xếp để tháo gỡ những bất đồng phát sinh nhằm loại bỏ tranh chấp
mà không cần có sự giúp hay phán quyết của bên thứ ba.
Hòa giải: là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm
trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp
nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.
trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của
mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng
phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có
trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.
Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật
Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất
phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên
các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế
cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán
quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc
phục trong Luật năm 1697. Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa
các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở
trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành
công. Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo
luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án
vốn được cho là kém hiệu quả hơn.
10
SV thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Nhã Môn: Luật Kinh doanh quốc tế
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc
tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Tầm
quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng
rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho
phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những
thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật;
các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh
hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới. hậm chí,
trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật
ngữ ODR – online dispute resolution nghĩa là giải quyết tranh chấp trực tuyến). Trọng tài
Sau khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền bắc cơ bản hoàn thành, Đảng ta đã
xác định vì hoạt động kinh tế là hoạt động làm nền tảng cho những hoạt động xã hội
khác, đồng thời là một nhiệm vụ tương đối mới mẻ và khó khăn đối với Nhà nước ta, cho
nên trước hết phải đặc biệt chú ý tăng cường hiệu lực của Nhà nước ta về mặt tổ chức
quản lý kinh tế. Theo đó, nguyên tắc tập trung, chuyên môn hóa, hợp tác hóa… trong các
ngành kinh tế được đề cao. Mọi hoạt động kinh tế trong chế độ ta đều diễn ra theo kế
hoạch, mà kế hoạch Nhà nước là công cụ chủ yếu để quản lý kinh tế. Công tác kế hoạch
hoá của Nhà nước kết hợp với đề cao trách nhiệm và phát huy sáng tạo của các ngành,
các địa phương và cơ sở. Bộ máy quản lý kinh tế cũng được xây dựng trên nguyên tắc kết
hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, bảo đảm hình
thành các ngành kinh tế – kỹ thuật, các tổ chức kinh tế liên hiệp, các vùng kinh tế và các
cơ cấu kinh tế địa phương.
Xét về mặt lịch sử, Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời của chế
độ hợp đồng kinh tế. Năm 1960, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 04/TTg ngày
04/01/1960 để ban hành Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh tế. Ngày 14/11/1960, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg về Tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà
nước. Theo Nghị định này, ngành Trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp Trung ương, khu,
thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế.
Quy định này nhằm làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các bộ quản lý ngành kinh
tế – kỹ thuật, thể hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương
và vùng lãnh thổ, tích cực xây dựng cấp huyện và phân định trách nhiệm giữa huyện và
tỉnh, thành phố.
Tiếp theo, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54-CP ngày 10/03/1975 về chế
độ hợp đồng kinh tế thay Nghị định số 04-TTg, thì ngày 14/04/1975, Chính phủ đã ra
Nghị định số 75-CP để ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài
kinh tế. Theo Bản Điều lệ này, Trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà
nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế. Đó là chức năng giữ vững tính kỷ
luật Nhà nước về hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử
lý vi phạm hợp đồng kinh tế.
Với Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng
Luật Trọng tài mẫu của UNCITRAL (điều 2.a) đưa ra khái niệm “Trọng tài nghĩa là
mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường
trực”.
Theo Hội đồng trọng tài Mĩ (AAA):”Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp
bằng cách đệ trình vụ việc tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết
và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có quyết định bắt buộc các bên tranh chấp phải thi
hành”.
Ở Việt Nam, trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm
đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là “trọng tài kinh tế”. Trọng tài kinh tế khi
đó có những đặc trưng phản án sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang
chức năng quản lý và chức năng giải quyết tranh chấp; do đó, trọng tài kinh tế ở
Việt Nam thời đó không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa. Chính sách Đổi mới đã
dẫn đến sự phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm
dứt tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế
và trọng tài kinh tế. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu cầu thành lập các
trung tâm trọng tài đúng nghĩa (phi Chính phủ) ở Việt Nam. Hiện nay ở Việt Nam có 7
13
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động (ACIAC, VIAC, HCMCAC, HCAC, CCAC,
PIAC. VID.ARCE).
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại: “Trọng tài thương mại là phương
thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của
luật này”.
Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trọng tài nhưng nhìn chung hiện nay
trọng tài thương mại được nhìn nhận dưới hai góc độ:
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại,
được thực hiện bởi hội đồng trọng tài hoặc một số trọng tài viên duy nhất với tư cách là
bên thứ 3 độc lập nhằm giải quyết tranh chấp bằng việc đưa ra một số phán quyết trên cơ
sở sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và có hiệu lực bắt buộc với các bên.
nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường được tổ chức dưới dạng các trung tâm
trọng tài. Ta có định nghĩa: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách
phán nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định.
Từ khái niệm trên, ta có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản về hình thức trọng tài
này như sau:
Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan Nhà nước. Thể hiện:
− Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sang kiến của các trọng tài viên
sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không phải được
thành lập bởi Nhà nước. Do đó, nó không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý
Nhà nước cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước.
− Hoạt động của các trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không
được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước.
− Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực
Nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết.
− Dù không thành lập bởi Nhà nước nhưng trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới
sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động như: ban hành các
văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của
trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập,
giấy đăng ký hoạt động của trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong
việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong
việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi
hành quyết định trọng tài…
Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau. Giữa
các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới.
Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ. Cơ cấu của
trung tâm trọng tài gồm có Ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm. Cụ thể:
15
Nghiên cứu khoa học
− Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một số thủ tục tố tụng chặt
chẽn mà pháp luật trọng tài, điều lệ, quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy
định.
16
SV thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Nhã Môn: Luật Kinh doanh quốc tế
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
− Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa
thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu
tố đã được thỏa thuận.
− Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một cách
cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, quyền lựa chọn địa điểm
giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng…
− Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất
cứ cơ quan, tổ chức nào. Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó
ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần
thiết.
− Kết quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài thương mại là phán
quyết do trọng tái tuyên đối với các đương sự của vụ tranh chấp.
− Quy tắc tố tụng trọng tài của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung quy
tắc lựa chọn trọng tài viên và thủ tục của hầu hết các trung tâm trọng tài trên thế
giới đều theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL.
V. Vai trò của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Khi các tranh chấp phát sinh trong các hoạt động thương mại, các bên có thể thương
lượng, hòa giải với nhau để giải quyết vụ việc. Trong trường hợp hai bên không thể tự
hòa giải được thì có thể đưa vụ việc ra giải quyết bằng trọng tài hoặc tòa án. Trong các
tranh chấp có yếu tố nước ngoài thường thì các bên có xu hướng ngại đưa vụ tranh chấp
ra giải quyết bằng tòa án. Nếu giải quyết tòa án ở quốc gia của một trong hai bên của
đương sự thì tất nhiên bên kia sẽ không tin tưởng vì e ngại rằng thẩm phán sẽ có “ưu ái”
hơn cho đương sự bên nước họ hơn. Còn nếu tố tụng ở nước thứ ba thì cả hai bên đều gặp
khó khăn khi đối mặt với các quy tắc, thủ tục và trình tự tố tụng ở nước đó. Ngoài ra, tố
Thứ tư, tố tụng trọng tài thường nhanh hơn so với tố tụng tòa án. Đặc điểm của tố
tụng trọng tài chỉ là xét xử một lần và phán quyết có giá trị trung thẩm, chỉ trong một số
trường hợp đặc biệt thì tòa án mới xem xét lại quyết định của trọng tài. Đối với các tranh
chấp thương mại thì sự nhanh gọn của hình thức giải quyết này là lý do các bên tranh
chấp thường hay chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Thứ năm, trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xử kín, tức là không cần phải đưa các
tranh chấp, cơ sơ quyết định của trọng tài về vụ tranh chấp vào quyết định trọng tài. Đây
là một đặc điểm khác biệt của trọng tái so với tòa án. Trọng tài không cần xét xử công
khai như tòa án nếu các bên yêu cầu. Như vậy mà có thể giữ bí mật những chi tiết, sơ
liệu, thông tin cụ thể mà các bên tranh chấp không muốn công khai (liên quan đên bí mật
công nghệ, scandal…) giúp tránh được những hậu quả không lường và thiệt hại sau này
cho các bên tranh chấp. Chính vì vậy mà các bên tranh chấp thường chọn biện pháp trọng
tài để giải quyết những tranh chấp về thương mại.
Với những đặc điểm và vai trò như vậy của mình, biện pháp trọng tài đã đáp ứng
được yêu cầu đề ra đối với việc giải quyết tranh chấp sinh trong quan hệ pháp luật dân sự
theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nói riêng và trong quan hệ quốc tế nói chung. Có
thể nói, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính khả thi nhất và là
phương thức phổ biến nhất để giải quyết các tranh chấp thương mại nhằm ổn định và thúc
đẩy sản xuất phát triển.
18
SV thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Nhã Môn: Luật Kinh doanh quốc tế
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
Chương IV. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI.
I. Cơ cấu tổ chức của trọng tài thương mại.
Theo Khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 thì trung tâm trọng
tài gồm Ban điều hành và các trọng tài viên. Ban điều hành trung tâm trọng tài gồm chủ
tịch, một hoặc các phó chủ tịch, có thể có Tổng thư ký do chủ tịch trung tâm trọng tài cử.
Những người được trung tâm trọng tài mời làm trọng tài viên phải có đủ điều kiện quy
định tại Điều 12 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003.
chứng cứ mà mình thu thập được chứ không để bị chi phối bởi bất lỳ tổ chức, cá nhân
nào. Không ai có quyền can thiệp, chỉ đạo vào việc giải quyết tranh chấp của trọng tài
viên. Và quyết đình của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan.
3. Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ và tuân thủ vào pháp luật.
Để giải quyết tranh chấp thương mại một cách công bằng, hợp lý, bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của các bên trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật. nếu trọng tài viên
không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ hoặc có hành vi vi phạm đạo đức trọng tài viên
thì các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài. Tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp
luật, chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết được các tranh chấp một
cách vô tư, khách quan. Có như vậy mới tạo được uy tín và sự tín nhiemj của các nhà
kinh doanh.
4. Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên.
Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận với nhau nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục
giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên phải tông trọng, nếu không sẽ đẫn đến hậu quả là
quyết định của hội đồng trọng tài sẽ bị hủy theo yêu cầu của các bên. Khoản 1 Điều 4 quy
định: “Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi
phạm các điều cấm và đạo đức xã hội”.
Đây là điểm đặc biệt chỉ có trong tố tụng trọng tài – hình thức giải quyết tranh chấp
do các bên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọng tài
viên bắt buộc phải tuân theo.
5. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công khai, trừ trường
hợp các bên có thỏa thuận khác (khoản 4 Điều 4 Luật trọng tài thương mại
2010).
Nguyên tắc này xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động kinh doanh. Theo nguyên tắc
này, các buổi xét xử trọng tài chỉ gồm trọng tài viên, các đương sự và các bên có liên
quan đến vụ tranh chấp. những người không có trách nhiệm không liên quan đến vụ tranh
chấp không được tham dự. và quyết định của trọng tài cũng như các căn cứ để trọng tài
đưa ra phán quyết sẽ không được công bố công khai nếu các bên không có yêu cầu.
6. Nguyên tắc giải quyết một lần.
Một trong những mục đích quan trọng nhất của việc tranh chấp thương mại là nhanh
chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như
trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn, cũng không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một
cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài
chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.
Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng con đường trọng tài,
tức là họ đã trao cho hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định
thẩm quyền xét xử đó của tòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy
thỏa thuận trọng tài.
21
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
Nói tóm lại, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nào được
pháp luật quy định là tranh chấp thương mại, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động
thương mại giữa cá nhân kinh doanh và tổ chức kinh doanh và các bên có thỏa thuận
trọng tài. nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền giải
quyết của trọng tài thương mại.
Trên cơ sở Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và các văn bản pháp luật hiện hành
có liên quan, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn về thẩm quyền của trọng tài thương mại
thông mại thông qua 2 điều kiện trên:
1. Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là tranh
chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh.
Như ta đã biết, trong hoạt động giao kết hợp đồng giữa 1 bên là thương nhân với một
bên là các cá nhân, tổ chức (không phải là thương nhân), nếu có phát sinh tranh chấp thì
Luật thương mại 2005 cho phép bên có hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi (bên có
hành vi dân sự) có thể chọn áp dụng Luật thương mại để giải quyết.
Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch
với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy nhưng bên không nhằm
mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng Luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ
pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ này phải được quan niệm là
tranh chấp thương mại. ví dụ như: tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty hay
Thỏa thuận trọng tài có thể là một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp đồng
và phải được và phải được lập thành văn bản. các hình thức thỏa thuận qua thư, điện báo,
Telex, Fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện ý chí của các bên giải quyết
vụ tranh chấp bằng trọng tài đều được coi là thỏa thuận trọng tài. ngay cả khi hợp đồng
giữa các bên không được thể hiện bằng văn bản thì thỏa thuận trong tài vẫn phải lập
thành văn bản. khi nộp đơn kiện cho trung tâm trọng tài , nguyên đơn phải nộp kèm theo
thỏa thuận trọng tài. nếu không có thỏa thuận trọng tài, trung tâm trọng tài sẽ không có
thẩm quyết giải quyết.
Thỏa thuận trọng tài hợp lệ
Thỏa thuận trọng tài hợp lệ là thỏa thuận trọng tài đó không bị vô hiệu. điều này có
nghĩa là, ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu thì
trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết. các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô
hiệu được quy định tại điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. sau đây, trên cơ sở
điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các trường
hợp thỏa thuận vô hiệu, từ đó kéo theo việc loại trừ thẩm quyền của trọng tài thương mại
để giải quyết tranh chấp trong những trường hợp này:
− Thứ nhất, tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại (ví dụ: tranh
chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa văn phòng luật sư hoặc công ty luật sư với
doanh nghiệp. pháp luật Việt Nam không quan niệm đây là tranh chấp kinh doanh,
thương mại).
Với cách quy định này dường như nhà làm luật có sự trùng lặp giữa thỏa thuận
trọng tài không có hiệu lực với vụ việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài? bản
23
Nghiên cứu khoa học
TÀI PHÁN THƯƠNG MẠI trong tiến trình Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế
thân lí do tranh chấp không thuộc hoạt động thương mại đã loại trừ thấm quyền
của trọng tài. như vậy, quy định thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu trong trường hợp
này thực sự không có ý nghĩa.
− Thứ hai, người kí thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền kí kết. quy định này
cần được hiểu được hai khía cạnh.
MSSV: 1210010179 GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Huyên
Như vậy, thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi thỏa thuận đó không thể hiện đầy
đủ, thể hiện không đúng ý chí của các bên hoặc ý chí của các bên không phù hợp quy
định của pháp luật. thỏa thuận trọng tài vô hiệu không tạo ra thẩm quyền cho trọng tài.
khi đó vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án.
IV. Số lượng Trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận.
Pháp luật trọng tài Việt Nam có đề cập cụ thể về số lượng TTV trong Hội đồng tại
khoản 1 Điều 39 Luật Trọng tài Thương mại 2010 (Luật TTTM 2010) có hiệu lực từ
1/1/2011, nhưng lại đặt dưới tiêu đề là Thành phần HĐTT: Thành phần HĐTT có thể bao
gồm một hoặc nhiều TTV theo sự thỏa thuận của các bên.
Luật TTTM 2010 cho phép các bên tự do lựa chọn số lượng TTV khi thành lập
HĐTT. Các bên có thể thỏa thuận về việc HĐTT được cấu thành bởi một hay nhiều TTV.
Trường hợp HĐTT chỉ bao gồm một TTV duy nhất rất cụ thể và tương đối đơn giản. Tuy
nhiên, vấn đề rắc rối lại phát sinh khi HĐTT được thành lập từ nhiều TTV. Theo ngôn
ngữ phổ thông, thì nhiều TTV có thể được hiểu là hai, ba, bốn, năm thậm chí sáu, bảy…
TTV. Cách quy định không rõ như vậy của Luật TTTM 2010 trên thực tế sẽ phát sinh
nhiều điều bất cập.
Pháp luật trọng tài của một số quốc gia và tổ chức trên thế giới cũng quy định tương
tự như khoản 1 Điều 39 Luật TTTM 2010 của Việt Nam. Khoản 1 Điều 10 Luật mẫu về
trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL cho phép các bên toàn quyền trong việc
thỏa thuận sẽ có bao nhiêu TTV tham gia HĐTT. Tuy nhiên, khi đề cập đến trường hợp
các bên đã đạt được thỏa thuận về số lượng TTV, nhưng không chỉ định được TTV thì
Khoản 3 Điều 11 Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL cũng chỉ gói
gọn ở hai khả năng là HĐTT bao gồm một hoặc ba TTV.
V. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài thương mại.
Tranh chấp giữa các bên có thể được giải quyết tại trung tâm trọng tài hoặc hội đồng
trọng tài do các bên thỏa thuận. song dù chọn hình thức nào thì các bên cũng cần trải qua
một số trình tự sau:
+ Nộp đơn và thụ lý đơn
+ Thành lập Hội đồng trọng tài, lựa chọn trọng tài viên.