1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị
kinh tế cao, là nguồn thu nhập ngoại tệ chủ yếu của nhiều quốc gia đang phát
triển trên thế giới trong đó có Việt Nam. Từ khi hội nhập trở với nền kinh tế
thế giới (1994) đến nay, cà phê luôn là một trong những mặt hàng nông sản
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu mỗi năm lên đến
trên dưới 2 tỷ Dollar (USD) đã góp phần không nhỏ vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Các thành
tựu nổi bật của ngành cà phê Việt Nam các năm qua là:
Thứ nhất, tạo công ăn việc làm cho khoảng 300.000 hộ gia đình nông
dân trồng cà phê với trên 600.000 lao động, tương đương 2,93% lực lượng
lao động trong nông nghiệp, và bằng 1,83% lực lượng lao động của cả nước.
Thứ hai, từ năm 2006 đến nay, mỗi năm kim ngạch xuất khẩu của
ngành cà phê Việt Nam mang về cho đất nước từ trên 1,6 tỷ Dollars (USD)
trở lên, năm 2012 này kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt tới trên 3,3 tỷ USD.
Thứ ba, mở rộng thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam tới gần
100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành
quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ 2 thế giới về sản lượng
và là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê vối.
Bên cạnh những thành tựu nổi bật thì ngành cà phê Việt Nam cũng bộc
lộ những hạn chế là:
Một là, đời sống của những hộ gia đình nông dân trực tiếp trồng cà
phê còn gặp nhiều khó khăn do thu nhập từ sản xuất cà phê thấp và không ổn
định bởi giá xuất khẩu cà phê vối của Việt Nam thấp hơn và phụ thuộc vào
giá xuất khẩu cà phê vối cùng loại của các nước khác trong khi Việt Nam là
quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê này;
Hai là, chất lượng cà phê của Việt Nam bị các nhà nhập khẩu nước
ngoài đánh giá thấp hơn chất lượng tự nhiên vốn có của nó;
Quốc dân; Đề tài: “Nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản
xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế”,
3
luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
của nghiên cứu sinh Ngô Thị Tuyết Mai, thực hiện năm 2007 tại Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân; Đề tài: “Năng lực cạnh tranh của ngành cà phê Việt
Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành
Kinh tế Chính trị của nghiên cứu sinh Vũ Trí Tuệ, thực hiện năm 2012 tại
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Đề tài nghiên cứu
về: “Ảnh hưởng của thương mại cà phê toàn cầu đến người trồng cà phê tỉnh
Đắc Lắc – Phân tích và khuyến nghị chính sách” do Trung tâm thông tin
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Oxfam Anh và Oxfam Hồng kông,
thực hiện năm 2002; Đề tài nghiên cứu về: “Toàn cầu hóa, thương mại và
đói nghèo – Bài học từ ngành cà phê Việt Nam”, của Phan Sỹ Hiếu, Trung
tâm thông tin Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thực hiện năm 2003; Đề
tài nghiên cứu về: “Báo cáo nghiên cứu ngành cà phê – báo cáo số 29358 -
VN ”, do Ban Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc Ngân hàng Thế
giới thực hiện tháng 6/2004; Đề tài nghiên cứu về: “Giải pháp nhằm tổ chức
lại sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê ở tỉnh Daklak trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của PGS.TS Đào Duy
Huân, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2004); Đề tài: “Ảnh
hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tỉnh Đắc
Nông”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế phát triển của học viên
Phạm Văn Toản, thực hiện năm 2008 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh; Đề tài: “Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh
tế chuyên ngành thương mại của học viên Huỳnh Kim Long, thực hiện năm
2009 tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Phương pháp duy vật biện chứng, và lịch sử logích để thực hiện
mục tiêu thứ ba của luận án là đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập
cho hộ gia đình trồng cà phê tại Việt Nam.
Số liệu sử dụng:
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ Niên giám Thống kê của các tỉnh
Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum, Bộ Nông nghiệp và Phát
5
triển Nông thôn, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam trong khoảng thời gian
1994 - 2011;
- Số liệu sơ cấp: được thu thập từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp 300
chủ hộ gia đình nông dân hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê trên địa
bàn 22 xã thuộc 08 huyện của 2 tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng là 02 địa phương
có diện tích trồng cà phê lớn nhất cả nước, có đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu
phù hợp cho 2 loại cà phê có tính thương mại cao trên thị trường thế giới là
cà phê vối và cà phê chè.
6. Những đóng góp của luận án
Với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, luận án sẽ đóng góp về mặt lý luận
và thực tiễn như sau:
Một là, xác định được các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê tại Việt Nam trên cơ sở các lý thuyết kinh tế học liên quan
đến thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và những đặc điểm riêng biệt của hộ gia đình trồng cà phê; Hai là, đánh giá
thực trạng và lượng hóa các yếu tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế; Ba là,
đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà
phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Tên và kết cấu của luận án
Tên luận án: thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
trừ đi các khoản chi phí không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia
vào quá trình sản suất cà phê tại hộ gia đình trong năm.
1.1.2. Các lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông
dân và hộ gia đình trồng cà phê trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2.1. Nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng sản phẩm của hộ gia
đình nông dân
Luận án đã sử dụng các lý thuyết như: lý thuyết về mối quan hệ giữa
sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào; lý thuyết về lao động và năng suất
lao động trong nông nghiệp của Park Sung Sang (1992); lý thuyết về vốn
7
trong sản xuất nông nghiệp của Harrod – Domar (1940); lý thuyết về thay đổi
công nghệ trong sản xuất nông nghiệp của Nicholas Kaldor (1957)
1.1.2.2. Nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại hộ gia đình
nông dân
Giá bán hàng hóa phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị
trường và các chính sách điều tiết sản xuất và tiêu dùng của chính phủ
1.1.2.3. Nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm tại hộ
gia đình nông dân
David Ricardo (1772 – 1823) cho rằng chi phí sản xuất phụ thuộc vào
độ màu mỡ của đất đai, khi độ màu mỡ của đất càng cao thì càng có điều
kiện để giảm các chi phí trung gian đầu vào, giảm chi phí về công lao động
và làm tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân.
1.1.2.4. Nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế
Từ ADam Smith (1723 – 1790) với lý thuyết “lợi thế tuyệt đối”,
David Ricardo (1772 -1823) với lý thuyết “lợi thế so sánh”, Eli Hecksher
(1879 – 1952) và Berti O.hlin (1899 – 1979) với lý thuyết “Tỷ lệ các yếu tô”
cho đến Paul R.Krugman và Maurice Obtefeld (1996) với lý thuyết “Lợi thế
kinh tế theo quy mô” đều cho rằng các quốc gia đều có lợi khi tham gia
thương mại quốc tế.
Chi trả lãi vay cho các nguồn vốn sản xuất cà phê
1.1.3.4. Các yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có tính chất quyết định đến thu nhập của các
hộ gia đình trồng cà phê bởi tại các nước trồng cà phê người ta chỉ tiêu thụ
khoảng ¼ sản lượng của họ, do đó ¾ sản lượng còn lại sẽ được xuất khẩu ra
thị trường nước ngoài.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà
phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Về khía cạnh kinh tế
Nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế là để phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam
khi sản xuất cà phê với năng suất cao nhất thế giới, tạo nguồn thu ngoại tệ
quan trọng để phát triển đất nước.
1.2.2. Về khía cạnh xã hội
9
Nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông dân trồng cà phê có ý nghĩa
xã hội rất to lớn như ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cho vùng Tây
Nguyên là khu vực có vị trí địa chính trị, địa kinh tế hết sức quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của cả nước.
1.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc đảm bảo thu
nhập cho hộ gia đình trồng cà phê
Từ nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho các hộ gia đình
trồng cà phê tại Brazil, Colombia và Indonesia, cho thấy: (i) các các quốc gia
đều lựa chọn những khu vực có điều kiện đất đai thổ nhưỡng, khí hậu phù
hợp trồng cà phê cho những sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao nhằm
duy trì thị phần cà phê của những quốc gia này trên thị trường cà phê toàn
cầu; (ii) đảm bảo giá bán cho các hộ gia đình nông dân bằng các quỹ phát
triển cà phê quốc gia, quỹ bình ổn giá cà phê do chính phủ hoặc giao cho liên
đoàn những người trồng cà phê trực tiếp quản lý điều hành; (iii) tổ chức sản
nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập của nông dân trồng lúa ở
Campuchia, (ii) Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010) xây dựng mô
hình nhận diện các yếu tố tác động đến thu nhập của nông dân vùng trung du
ở tỉnh Phú Thọ, (iii) Đinh Phi Hổ và Nguyễn Hữu Trí (2010) đã nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động nông nghiệp ở tỉnh Bến tre, (iv)
Bùi Quang Bình (2008), nghiên cứu vốn con người và thu nhập của hộ sản
xuất cà phê ở Tây Nguyên, (v) Mai Văn Xuân và Nguyễn Văn Hóa (2011),
nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố đầu vào đến phát triển cà phê bền
vững trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc. Các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ
trồng cà phê được lựa chọn để đưa vào mô hình lượng hóa là:
Các yếu tố tác động đến thu nhập/ha cà phê
Kỳ
vọng
Nhóm yếu tố tác động đến sản lƣợng cà phê của hộ
- Năng suất cà phê trên 01 ha vườn đang thu hoạch (X
1
), X
1
tính bằng tấn/ha.
- Tình trạng vay vốn cho xản xuất cà phê (X
2
), X
2
là biến giả,
theo đó (X
2
= 1 có vay vốn, X
2
5
), X
5
là biến
giả, theo đó: X
5
= 1 có HĐTT và X
5
= 0 không có HĐTT
+ +
Nhóm yếu tố tác động đến chi phí sản xuất cà phê
- Chi phí phân bón cho 01 ha cà phê trong năm (X
6
) X
6
được
tính bằng triệu đồng/ha
- Chi phí thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cho 01 ha cà phê
trong năm (X
7
), X
7
được tính bằng triệu đồng/ha
- Chi phí nước tưới cho 01 ha cà phê trong năm (X
8
) X
b
5
, b
6,
b
7
, b
8
, b
9
là hệ số co dãn của các biến độc lập với biến
phụ thuộc Y.
Từ mô hình có dạng tổng quát Y = f(X
1,
X
2,
X
3,
…
X
n
) ta có mô hình
tổng quát được trình bày dưới dạng logarith tuyến tính như sau:
lnY = B
o
+ b
1
ln
8
+ b
9
lnX
9
+ u 12
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG CÀ PHÊ
TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1. Quá trình hình thành hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam
2.1.1. Bối cảnh ra đời hộ gia đình trồng cà phê
Sau khi Luật Đất đai ban hành năm 1993, quy định rõ chuyển giao
quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho hộ gia đình nông dân, hình thức kinh
tế hộ gia đình nông dân trồng cà phê mới chính thức được xác lập.
2.1.2. Đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình
trồng cà phê ở Việt Nam
2.1.2.1. Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình.
Các yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại gia đình nông dân gồm:
(i) Tác động từ nguồn đất đai: Cây cà phê tại Việt Nam được trồng
chủ yếu tại các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng
vùng Tây Nguyên, nơi có khoảng 1,2 triệu ha đất Bazan, rất phù hợp với sự
phát triển của cây cà phê nên cho năng suất cao và chất lượng cao.
(ii) Tác động từ năng suất của cây cà phê: Năng suất cà phê của Việt
Nam đã tăng lên rất nhanh từ khoảng 0,32 tấn/ha (1970) đến trên 2 tấn/ha
cầu vào năm 1990 thì đến nay là khoảng 18%, nếu tính riêng cà phê vối thì
thị phần loại cà phê Việt Nam lên tới 34%.
2.2. Thực trạng thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê ở Việt Nam
2.2.1. Phân tích trên cơ sở thống kê các yếu tố tác động đến thu
nhập của hộ gia đình trồng cà phê
2.2.1.1. Về sản lượng cà phê do các hộ gia đình nông dân sản xuất
(i) Quy mô diện tích vườn cà phê của hộ gia đình nông dân: Tại khu
vực nghiên cứu cho thấy diện tích vườn cà phê của các hộ gia đình nông dân
ở Việt Nam chủ yếu là nhỏ lẻ, có tới 91,3 % hộ có diện tích vườn dưới 2 ha,
trong đó 28,5 % hộ gia đình có diện tích vườn dưới 01 ha, chỉ có 8,7% hộ gia
đình trồng cà phê có diện tích vườn từ 2,1 ha trở lên; (ii) Năng suất cà phê tại
các hộ gia đình nông dân: Năng suất cà phê trung bình tại các hộ gia đình là
3,06 tấn/ha, hộ đạt năng suất cao nhất lên tới là 5 tấn/ha nhưng cũng có hộ
chỉ đặt 0,34 tấn/ha; (iii) Tình trạng vay vốn cho sản xuất cà phê trong năm:
14
Tại vùng nghiên cứu có 40,97% hộ gia đình vay được vốn từ các tổ chức tín
dụng này, còn lại 59,03% hộ gia đình trồng cà phê không vay vốn; (iv) Trình
độ kiến thức trong sản xuất cà phê của chủ hộ hoặc người quản lý vườn cà
phê: Qua bảng đánh giá kiến thức nông nghiệp của chủ hộ cho thấy mức
điểm trung bình của các chủ hộ là 3,7/10 điểm.
2.2.1.2. Về giá bán cà phê tại các hộ gia đình nông dân
(i) Chất lượng cà phê của các hộ gia đình nông dân: tại mẫu nghiên
cứu cho thấy có 70,1% hộ gia đình trồng cà phê vối, chỉ có 29,8% hộ gia
đình trồng cà phê chè chất lượng cao; (ii) Mức độ tham gia vào chuỗi cung
ứng cà phê toàn cầu: khảo sát thực tế cho thấy chỉ có 23,3 % hộ gia đình
trồng cà phê có ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các công ty thu mua, còn
lại 76,7 % hộ gia đình trồng cà phê không có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
2.2.1.3. Về chi phí sản xuất cà phê tại các hộ gia đình nông dân
(i) Chi phí hình thành vườn cà phê phân bổ trong thời kỳ kinh doanh
đình tham gia sản suất trên 01 ha cà phê lớn thì hộ gia đình trồng cà phê sẽ
giảm được chi phí thuê lao động ngoài gia đình để sản xuất cà phê. Từ mô
hình dạng logarith tuyến tính ta có:
LnTNHA = B
o
+ b
1
LnNSHA +
b
2
TTVVON +
b
3
LnKTNN +
b
4
LOAICF + b
5
HDTT
+ b
6
LnPHANHA + b
7
LnTHUOCHA +
b
8
LnNUOCHA + b
.080
.934
.000
.612
1.635
TTVVON
240
.055
167
.000
.797
1.255
LnKTNN
.179
.038
.175
.000
.864
1.158
LOAICF
098
.093
051
.293
.508
1.967
HDTT
.109
.060
.070
.177
.884
1.131
Qua xem xét R
2
hiệu chỉnh = 0.786; giá trị F = 74.82; kiểm định
Durbin – Watson, kiểm định phương sai không đồng đều (White), mức ý
nghĩa Sig = 0.000 ta kết luận: thu nhập của hộ gia đình nông dân phụ thuộc
vào: năng suất cà phê trên 01 ha, tình trạng vay vốn tăng để sản xuất cà phê
trong năm, kiến thức nông nghiệp trong sản xuất cà phê của chủ hộ, chi phí
phân bón cho 01 ha cà phê, chi phí nước tưới cho 01 ha cà phê trong năm
(đảm bảo mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy trên 99%) và tình trạng ký kết
hợp tiêu thụ sản phẩm giữa hộ gia đình trồng cà phê và các công ty thu mua
(đảm bảo ý nghĩa thống kê với độ tin cậy trên 90%). Từ đó ta có:
LnTNHA = 3,117
+ 1,691LnNSHA – 0,24 TTVVON +
0,179LnKTNN + 0,109 HDTT
- 0,23 LnPHANHA – 0,242 LnNUOCHA
2.3. Đánh giá những điểm mạnh – yếu, cơ hội – thách thức trong
quá trình nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê khi Việt Nam
hội nhập kinh tế quốc tế
Những điểm mạnh (S), S1: Năng suất cà phê tại các hộ gia đình nông
dân tại Việt Nam được xếp vào loại cao nhất thế giới và vẫn còn có khả năng
tăng lên khi được tái canh và cải tạo vườn cà phê bằng các giống mới; S2:
Sản lượng cà phê của Việt Nam tăng trưởng đều, không bị ảnh hưởng bởi
theo tính chu kỳ 2 năm một lần do sương muối như các nước Brazin và
Colombia; S3: Chất lượng vốn có của cà phê Việt Nam được nhiều chuyên
gia quốc tế đánh giá cao do được trồng trên đất đỏ Bazan ở độ cao trung bình
lấy lại uy tín cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới; T4: Phải cạnh tranh
với sản phẩm của các hộ gia đình trồng cà phê tại các nước có ngành cà phê
phát triển hàng trăm năm trước; T5: Khó khăn trong giảm chi phí sản xuất do
giá phân bón, nhiên liệu, hóa chất bảo vệ thực vật, bao bì, dụng cụ thu hái
chủ yếu là nhập khẩu; T6: Khó khăn về nguồn vốn để tái canh những vườn
cà phê già cỗi đã hết thời kỳ cho khai thác.
18
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ GIA ĐÌNH
TRỒNG CÀ PHÊ TRONG QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
3.1. Các căn cứ để đề xuất giải pháp
Căn cứ vào bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; căn cứ vào dự báo nhu
cầu tiêu thụ cà phê tại thị trường trong nước và thế giới; căn cứ vào các chính
sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến sản xuất cà phê tại Việt Nam; căn
cứ vào kết quả nghiên cứu của mô hình; căn cứ vào phân tích những điểm
mạnh – yếu, cơ hội – thách thức trong quá trình nâng cao thu nhập cho hộ gia
đình trồng cà phê khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Các nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao thu nhập cho hộ
gia đình trồng cà phê
3.2.1. Nhóm giải pháp về nâng cao sản lƣợng cà phê tại các hộ gia
đình nông dân
3.2.1.1. Xây dựng những vườn cà phê có quy mô lớn hơn theo hướng
liên kết sản xuất giữa các hộ gia đình trồng cà phê liền canh, liền cư.
Mục tiêu của giải pháp: tạo ra những vườn cà phê có diện tích lớn hơn
để có đủ điều kiện đầu tư sân phơi xi măng, mua sắm trang thiết bị cơ giới
phục vụ sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm, đồng thời tạo sức mạnh trong
đàm phán giá sản phẩm khi cung cấp cho đối tác khối khối lượng lớn;
Tổ chức thực hiện ở tầm vĩ mô: nhà nước cần ban hành chính sách tạo
sau 4 năm hộ trồng cà phê đã vườn cà phê mới, trước mắt hạn chế tối đa thu
hái cà phê xanh làm giảm năng suất cà phê do bị teo quắt khi phơi khô.
Đối với hộ gia đình nông dân trồng cà phê: cần có kế hoạch tái canh
những vườn cà phê già cỗi bằng các giống cà phê vô tính cho năng suất cao,
chỉ tổ chức thu hái cà phê khi quả chín trên cành đã đạt tỷ lệ quy định.
3.2.1.3. Nâng cao hiệu quả của nguồn vốn đầu tư tăng thêm cho sản
xuất cà phê của hộ gia đình nông dân
Mục tiêu của giải pháp: giúp các hộ gia đình trồng cà phê nâng cao
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn vay.
20
Tổ chức thực hiện ở tầm vĩ mô, nhà nước cần sớm thành lập quỹ phát
triển cà phê quốc gia nhằm cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi phù hợp
điều kiện sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam
Tổ chức thực hiện ở tầm vi mô, các cấp chính quyền địa phương cần
thường xuyên tổ chức những lớp tập huấn kỹ năng quản lý vốn vay cho các
hộ gia đình trồng cà phê, để họ sử dụng vốn vay một cách hiệu quả.
3.2.1.4. Nâng cao kiến thức nông nghiệp trong sản xuất cà phê cho chủ
hộ gia đình hoặc người trực tiếp quản lý vườn cà phê.
Mục tiêu của giải pháp: giúp các hộ gia đình trồng cà phê thay đổi thói
quen gieo trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế biến cà phê kiểu lạc hậu sang
các phương thức sản xuất tiên tiến để đạt năng suất cao, chất lượng cao.
Tổ chức thực hiện giải pháp ở tầm vĩ mô, cần sớm đưa quy trình kỹ
thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế biến cà phê vào giảng
dạy cho học sinh tại các vùng trồng cà phê ngay từ các cấp học trung
học cơ sở và trung học phổ thông; thực hiện triệt để công tác xóa mù
chữ và phổ cập trung học cơ sở để người lao động tại khu vực này có
thể tiếp cận được các kiến thức sản xuất cà phê tiên tiến thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng, sách, báo, tạp chí và Internet.
Tổ chức thực hiện ở tầm vi mô:
3.2.3. Nhóm giải pháp về nâng cao giá bán cà phê tại các hộ gia
đình nông dân
3.2.3.1. Nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu ngay tại hộ gia đình.
Mục tiêu của giải pháp: nâng cao chất lượng cà phê trên thị trường thế
giới, thay đổi nhận thức của người tiêu dùng thế giới về chất lượng cà phê
của Việt Nam.
Tổ chức thực hiện ở tầm vĩ mô: Nhà nước cần sớm ban hành quy định
về chất lượng cà phê xuất khẩu, theo đó không cho phép xuất khẩu ra thị
trường nước ngoài các dạng sản phẩm cà phê nhân thô, phẩm cấp thấp, chất
lượng thấp; cần có quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu
phải thực hiện nghiêm túc bộ tiêu chuẩn chất lượng TCVN 4193:2005 đối
với cà phê xuất khẩu, tiến tới áp dụng bộ tiêu chuẩn chất lượng của tổ chức
22
cà phê thế giới ISO 10470:2004 cho tất cả sản phẩm cà phê xuất khẩu của
Việt Nam.
Tổ chức thực hiện ở tầm vi mô
Đối với các địa phương: cần tăng cường công tác khuyến nông để cán
bộ khuyến nông hướng dẫn hộ gia đình trồng cà phê thực hiện đúng quy trình
kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hái mới tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao; cần nhanh chóng xây dựng và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cà phê có
gắn liền với chỉ dẫn địa lý của từng địa phương.
Đối với các hộ gia đình trồng cà phê: cần thực hiện quy trình gieo
trồng, chăm sóc cây là phê theo đúng quy, tổ chức thu hái khi số quả cà phê
chín trên cành đã đạt tỷ lệ, phơi khô cà phê trên sân xi măng hoặc sấy khô,
tuyệt đối không dùng máy xay để xay dập vỏ quả tươi trước khi phơi làm tổn
hại nghiêm trọng đến chất lượng hạt cà phê của gia đình.
3.2.3.2. Xây dựng chuỗi cung ứng cà phê từ thị trường trong nước ra
đến thị trường nước ngoài
Mục tiêu của giải pháp: ổn định và từng bước nâng cao giá xuất khẩu
KẾT LUẬN
Cà phê là mặt hàng nông sản có giá trị, có tính thương mại cao, với
khách hàng hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Trong 20
năm qua, cà phê luôn là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù vậy, vẫn đang tồn tại một số hạn
chế mà một trong những hạn chế lớn nhất là đời sống của những hộ gia đình
trồng cà phê còn gặp nhiều khó khăn. Với đề tài: “Thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ”,
luận án đã đạt được các kết quả sau: Thứ nhất, tổng hợp lý thuyết để làm rõ
thu nhập và các nhóm lý thuyết liên quan đến thu nhập của hộ gia đình nông
dân; Thứ hai, từ cơ sở lý thuyết, đặc điểm các yếu tố tác động đến thu nhập
của người trồng cà phê trên thế giới, kinh nghiệm đảm bảo thu nhập cho hộ
gia đình trồng cà phê tại các nước có ngành cà phê phát triển hàng đầu thế
giới kết hợp với kết quả các công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đó về
thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Xác định
24
được các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê tại Việt
Nam; Thứ ba, xây dựng khung phân tích và mô hình lượng hóa các yếu tố
tác động đến thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam
hội nhập kinh tế quốc tế; Thứ tư, phân tích thực trạng thu nhập của hộ gia
đình trồng cà phê trên cơ sở số liệu thống kê mô tả các yếu tố tác động đến
sản lượng, đến giá bán và chi phí sản xuất cà phê tại hộ gia đình nông dân;
Thứ năm, lượng hóa và phân tích tác động của từng yếu tố đến thu nhập của
hộ gia đình trồng cà phê trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo đó, nhóm yếu tố tác động đến sản lượng cà phê tại hộ gia đình trồng cà
phê gồm: năng suất cà phê, tình trạng vốn vay tăng thêm cho sản xuất cà phê
trong năm, và kiến thức nông nghiệp trong sản xuất cà phê của chủ hộ gia
đình hoăc người trực tiếp quản lý vườn cà phê; nhóm yếu tố tác động đến giá