HOẠT ĐỘNG AN SINH XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO NỘI SINH Ở TÂY NAM BỘ HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC - Pdf 81

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN SỸ

HOẠT ĐỘNG AN SINH XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ
TÔN GIÁO NỘI SINH Ở TÂY NAM BỘ HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN SỸ

HOẠT ĐỘNG AN SINH XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ
TÔN GIÁO NỘI SINH Ở TÂY NAM BỘ HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 62 22 03 09

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. HỒNG MINH ĐƠ

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của


2.1.

HỘI CỦA MỘT SỐ TƠN GIÁO NỘI SINH Ở TÂY NAM
BỘ HIỆN NAY

Mơ hình tham gia hoạt động an sinh xã hội của một số tôn giáo
nội sinh ở Tây Nam Bộ
3.2. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
3.3. Những vấn đề đặt ra
Chương 4: DỰ BÁO XU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG AN SINH XÃ HỘI

44
56
70

80

3.1.

CỦA MỘT SỐ TÔN GIÁO NỘI SINH Ở TÂY NAM
BỘ, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ

Dự báo xu hướng hoạt động an sinh xã hội của một số tôn giáo
nội sinh ở Tây Nam Bộ
4.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động an sinh xã hội
4.3. Khuyến nghị
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

:

Bửu Sơn Kỳ Hương

ĐTCTXH

:

Đồn thể chính trị - xã hội

MTTQ

:

Mặt trận Tổ quốc

PGHH

:

Phật giáo Hòa Hảo

TĐCS

:

Tịnh độ Cư sĩ Phật hội

THAN



106

Biểu hiện sự phối hợp giữa tôn giáo nội sinh với Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể

Sơ đồ 2.1:

102

Thể hiện sự phối hợp giữa các tôn giáo trong hoạt động
an sinh xã hội

Biểu đồ 3.7:

98

Kinh phí tham gia hoạt động an sinh xã hội của từng tôn
giáo trong 5 năm

Biểu đồ 3.6:

96

Kinh phí Phật giáo Hồ Hảo tham gia hoạt động an
sinh xã hội theo từng nhiệm kỳ

Biểu đồ 3.5:

94

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tây Nam Bộ (TNB) là vùng đất với sự đa dạng tôn giáo và những truyền
thống văn hóa đặc sắc mang tính tộc người. Đây là nơi đã sản sinh nhiều tôn giáo
bản địa vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và ngày nay vẫn đang
có những tơn giáo mới ra đời hoặc truyền từ nơi khác đến. Tây Nam Bộ cịn là
vùng đất có nhiều dạng thức tín ngưỡng dân gian do quá trình di dân từ những
nơi khác đến khai mở hoặc những tín ngưỡng hình thành trong quá trình lao
động sản xuất, cũng như trong quá trình thích ứng với thiên nhiên. Đời sống tơn
giáo đã trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần giúp các tộc người cư trú
trên vùng đất này có thêm sức mạnh đối diện với thiên nhiên hoang hóa và cuộc
sống cịn nhiều khó khăn, bất trắc.
Trong bối cảnh tồn cầu hóa và sự định hình, phát triển của cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở ra cho Việt Nam nói chung, TNB nói riêng
nhiều thời cơ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân, nhưng bên cạnh đó cũng khơng ít thách thức, khó khăn, xuất hiện và
ln tiềm ẩn những "rủi ro xã hội" nên cũng từ đó mà gia tăng nhu cầu ASXH.
Thực hiện chính sách an sinh xã hội (ASXH) là một trong những giải pháp nhằm
hạn chế thách thức đó. Hiện nay vấn đề cần thiết nhất là có những giải pháp tốt
nhằm giải quyết việc làm, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, hạn chế tác động
bởi mơi trường, thiên tai, nhất là tình trạng sụp lún, sạt lở bờ biển, ven sông ở
TNB… làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cư dân vùng này. Đa số cư dân ở
TNB sống bằng nghề nơng nghiệp, mặt bằng dân trí cịn thấp (độ tuổi từ 15 trở
lên: chưa đi học chiếm 6,6%; chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 32,8% cao nhất các
vùng) [108], tỷ lệ hộ nghèo cao (chiếm 7,9%, nhất là đồng bào dân tộc khmer,
chiếm hơn một nửa trong tổng số hộ nghèo tồn vùng) [31, tr.56]. Trước những
khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, cư dân nơi đây rất cần được sự san sẻ, đùm
bọc, cưu mang của cộng đồng, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội. Để

(PGHH) ở TNB, từ đó đề xuất giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động ASXH của TGNS trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan và đánh giá tình hình nghiên cứu những nội dung có liên
quan đến đề tài và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;


3

- Nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về ASXH của Đảng,
Nhà nước và hoạt động ASXH của một số TGNS ở TNB;
- Phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động ASXH và những vấn đề
đặt ra về hoạt động này của một số TGNS ở TNB hiện nay;
- Dự báo xu hướng hoạt động và nêu ra giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động ASXH của một số TGNS ở TNB.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hoạt động ASXH của một số TGNS ở TNB có nguồn
gốc từ nền tảng tư tưởng của Phật giáo, gồm: TAHN, TĐCS và PGHH.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động ASXH của ba TGNS ở
TNB từ khi thực hiện chủ trương đổi mới đất nước (1986) đến năm 2018 (là thời
kỳ các TGNS nói trên lần lượt được công nhận tư cách pháp nhân và tham gia
hoạt động ASXH ngày càng rõ nét).
- Về không gian: An sinh xã hội có nội hàm rất rộng thể hiện trên nhiều
lĩnh vực, liên quan đến nhiều ngành, tổ chức khác nhau. Luận án chỉ tập trung
nghiên cứu việc tham gia hoạt động ASXH của TAHN, TĐCS, PGHH trong lĩnh
vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, cứu trợ nhân đạo.
- Địa bàn nghiên cứu: các tỉnh/thành ở Tây Nam Bộ.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

giữa tôn tại xã hội và ý thức xã hội theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin
(phương pháp này giúp cho chúng ta hiểu được nguồn gốc, bản chất của ý thức
tơn giáo. Từ đó, chỉ ra vai trị của tơn giáo đối với sự phát triển của lịch sử xã
hội); tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà
nước về tín ngưỡng, tơn giáo và ASXH.
Ngồi ra, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
và liên ngành của Tôn giáo học (giúp đánh giá đúng thực trạng của tơn giáo
về vai trị, những hoạt động ảnh hưởng đến đời sống cư dân và chính sách của
Đảng, Nhà nước), Xã hội học tôn giáo (Sử dụng phương pháp này để nghiên
cứu các vấn đề tôn giáo và biến đổi tôn giáo, như: niềm tin tôn giáo, thực hành
tôn giáo, tôn giáo với các vấn đề xã hội…có liên quan đến việc tham gia hoạt
động ASXH); phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế (sử
dụng các phương pháp này để đánh giá, nhận xét TGNS sự tham gia hoạt động
ASXH một cách sát hợp với thực tế), v.v..


5

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận giải làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn, các khái niệm về ASXH,
quan niệm của TGNS, cơ sở đức tin và phương pháp tu tập hình thành tư tưởng
tấm lòng từ bi, hướng thiện để từ đó tích cực tham gia hoạt động ASXH thời kỳ
hội nhập quốc tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng những thành tựu, hạn chế; đồng thời chỉ ra
nguyên nhân thành cơng, hạn chế q trình tham gia hoạt động ASXH của TGNS
và những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm phát huy tốt hơn trong thời gian tới.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận án dự báo xu hướng hoạt động
TGNS và nêu ra những giải pháp, khuyến nghị với Trung ương, địa phương
và TGNS ở TNB nhằm nâng cao hiệu quả tham gia hoạt động ASXH, khắc
phục những bất cập, vướng mắc giữa chính sách ASXH với các văn bản qui

"An sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người" của Lê Ngọc Hùng; "An sinh
xã hội cho nơng dân trong điều kiện cơng nghiệp hóa hiện đại hóa nơng nghiệp,
nơng thơn ở Việt Nam" của tác giả Ngô Thị Phượng; "Một vài nét an sinh xã hội
của người cao tuổi Việt Nam" của Mai Tuyết Hạnh; "Vấn đề trợ giúp trẻ em có
hồn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam nhìn từ góc độ an sinh xã hội" của Vũ
Thị Kim Dung... Đây là tập hợp các bài viết có giá trị tham khảo cho luận án.
Vũ Văn Phúc (2012), An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [86]. Tác
giả đã tập hợp nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học của cán bộ lãnh đạo, quản
lý, các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu trên các lĩnh vực liên
quan đến ASXH. Những bài viết được tuyển chọn in thành sách đã phân tích,
phản ảnh nhiều góc nhìn khác nhau về ASXH và được phân ra thành 2 phần
chính (thứ nhất: nêu lên những vấn đề mang tính lý luận chung và kinh nghiệm
của thế giới về ASXH; thứ 2: tập trung phản ảnh những vấn đề thực tiễn ở nước
ta, những đề xuất kiến nghị giải pháp). Cuốn sách đã thể hiện góc nhìn bao qt
về những thành tựu đạt được sau hơn 25 năm thực hiện đường lối Đổi mới của
Đảng ta. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém cần
nghiên cứu có giải pháp khắc phục. Từ kết quả đánh giá, các tác giả đã đưa ra
những định hướng, giải pháp kiến nghị về cơ chế, chính sách từng bước cần phải
hồn thiện phù hợp với xu thế phát triển đất nước.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2012), Lao động,
tiền lương, ASXH một số kinh nghiệm của thế giới [59]. Cuốn sách đề cập đến
các vấn đề về lao động, tiền lương, ASXH của nhiều nước trên thế giới. Đây là
cơng trình nghiên cứu về ASXH của các nước có nhiều kinh nghiệm để từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoạch định chính sách về
ASXH. Ngồi phần danh mục các cơng trình nghiên cứu cuốn sách có ba phần:
lao động, tiền lương và ASXH. Cơng trình đã tập hợp nhiều bài viết phản ánh
chính sách ASXH, kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ASXH cũng như vấn
đề đặt ra của nhiều quốc gia (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thụy
Điển, Italia, Đức...); vấn đề cải cách chính sách ASXH, thay đổi mơ hình kinh tế


kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008 - 2012 đã tác động mạnh đến hệ thống ASXH và
đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cần nghiên cứu để có giải pháp kịp thời tháo


10

gỡ cho nhiều quốc gia khác nhau. Cuốn sách là cơng trình nghiên cứu những
thành tựu đạt được trong thời gian qua của một số nước trong khối EU về thực
hiện chính sách ASXH; tác giả đã tập trung phân tích những mặt tích cực và
những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến hạn chế, yếu kém của hệ thống ASXH tại
một số nước ở châu Âu; những tác động của cuộc khủng hoảng đến chính sách
và q trình thực thi chính sách ASXH. Qua đó, rút ra những bài học kinh
nghiệm q báu nhằm từng bước hồn thiện và thực thi tốt hệ thống chính sách
ASXH cho Việt Nam trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Lan Hương và nhóm cộng sự (2013), Phát triển hệ thống an
sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 [63] đã giới thiệu các vấn đề mang tính lý
luận chung về ASXH. Trong đó, nhóm tác giả tập trung phân tích, đánh giá những
thành tựu, hạn chế bất cập và nguyên nhân trong quá trình thực thi Nghị quyết số
15-NQ/TW ngày 01/06/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về
chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020. Trên cơ sở đó, đề ra những nội dung định
hướng cho chính sách ASXH phù hợp với xu hướng phát triển của Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập quốc tế đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Đặng Nguyên Anh và các cộng sự (2013), An sinh xã hội ở Việt Nam:
Định hướng mơ hình và giải pháp [3]. Đây là sản phẩm của Đề tài cấp bộ mà
nhóm tác giả đã hệ thống hóa và tổng hợp các cơng trình nghiên cứu trong giai
đoạn 2011-2013 về vấn đề ASXH. Nội dung của đề tài đã đánh giá đúng thực
trạng với những kết quả đạt được, hạn chế trong bối cảnh khó khăn ở Việt Nam;
đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của thành tựu và tập trung làm rõ nguyên nhân dẫn
đến những hạn chế yếu kém trong hoạt động ASXH. Trên cơ sở đó các tác giả đề
xuất giải pháp khắc phục những hạn chế; đồng thời nêu ra những định hướng các

thực tiễn và đề cập đến các nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách ASXH.
Nguyễn Mai Phương (2015), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH
ở Việt Nam hiện nay [87]. Bài viết đã cung cấp nhiều thông tin về thành tựu
trong cơng tác xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã
hội, ưu đãi xã hội thời gian qua trên nền tảng từ chủ trương chính sách của Đảng,
Nhà nước về ASXH; đánh giá những thành tựu, hạn chế yếu kém, nguyên nhân
và những bài học được rút ra từ thực tiễn. Qua đó, tác giả nêu ra những giải pháp
khuyến nghị các ngành, các cơ quan chức năng nhằm thực hiện tốt hơn chính
sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới.


12

Đinh Thành Trung, Lữ Quang Ngời và Lê Thị Thanh Hiếu (2017), Chính
sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế những thách
thức và giải pháp [112]. Bài viết đã phác họa toàn cảnh bức tranh hội nhập quốc
tế của một quốc gia, theo đó những tác động và ảnh hưởng của q trình này đến
vấn đề ASXH khơng nhỏ, thậm chí ngày càng sâu rộng. Do vậy, để khắc phục
những tác động ấy trước hết cần phải hồn thiện hệ thống chính sách ASXH phù
hợp với xu hướng vận động, phát triển của mỗi quốc gia. Từ thực trạng về kết
quả thực hiện chính sách ASXH trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tác giả đề ra
một số giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách ASXH. Trong đó tập trung huy
động mọi nguồn lực xã hội; trợ giúp kịp thời các trường hợp bị ốm đau, tai nạn,
rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…; hồn thiện cơ chế, chính sách ASXH.
Nguyễn Trọng Đàm (2017), An sinh xã hội ở Việt Nam: Nhìn lại năm
2016 và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới [34, tr.58-61]. Tác giả phản ánh
tình hình kinh tế nước ta trong năm 2016 phải đối mặt với những khó khăn,
thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết và sự tác động của kinh tế thế giới
làm cho đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng với sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước chính sách ASXH đạt được nhiều điểm nổi bật đáng ghi nhận

Quadagno S. Jill (1988), The transformation of old age security: Class
and politics in the American welfare state [134]. Quadagno S. Jill đánh giá việc
ban hành và phát triển của đạo luật ASXH liên quan đến sự xung đột giữa các
nhóm lao động và doanh nghiệp đối với lương hưu. Với nhiều câu hỏi được đặt
ra như: Tại sao Hoa Kỳ tụt hậu so với Đức, Anh và Thụy Điển trong việc áp
dụng chương trình an sinh quốc gia cho người già? Tại sao Đạo luật ASXH được
ban hành vào năm 1935 lại phụ thuộc vào tiêu chuẩn kép dựa trên giai cấp? Tại
sao phúc lợi tuổi già ở Hoa Kỳ vẫn kém hơn so với các đối tác châu Âu? Dựa
vào biên niên sử phân tích tinh vi của một trăm năm lịch sử phúc lợi Hoa Kỳ, tác
giả Jill Quadagno khám phá sự ra đời của chương trình hỗ trợ tuổi già tại Hoa
Kỳ. Dựa vào nghiên cứu lịch sử và nền tảng lý thuyết khoa học xã hội, tác giả
cịn phân tích sự thay đổi sâu sắc liên quan đến quá trình ASXH: từ sự hỗ trợ của
cộng đồng dựa trên luật dành cho người nghèo thời kỳ thuộc địa, cơ chế tài trợ
và quản lý hành chính địa phương, đến việc hình thành một bộ máy hành chính
lớn của liên bang Hoa Kỳ.
Theodore R. Marmor (1988), Social security: Beyond the rhetoric of crisis
[139]. Cuốn sách tập trung trả lời câu hỏi khả năng và triển vọng của ASXH


14

trong những thập niên sắp tới như thế nào? Cuốn sách khám phá ý nghĩa của
ASXH từ góc độ lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị và luật pháp từ khi hệ thống
ASXH Mỹ ra đời năm 1935. Các câu hỏi nghiên cứu bao gồm: ASXH có phải là
hệ tư tưởng chặt chẽ và có thể bảo vệ? Nếu có, hệ tư tưởng đó có phù hợp với
yêu cầu của mơi trường chính trị đương đại mà nó dường như nhấn mạnh vào tái
tư nhân hóa nhiều vai trị của nhà nước phúc lợi xã hội hiện đại không? Điều gì
giải thích chất lượng khác thường của chính trị ASXH gần đây - điều được đặc
trưng bởi sự lo lắng cao độ và khủng hoảng và sự phản đối với những bất trắc về
tương lai.

Hoa Kỳ. Cơng trình cứu này, tác giả cịn trình bày khái niệm ASXH dựa trên nền
tảng triết học của các khái niệm bảo hiểm xã hội.
Eric R. Kingson (2008), Social Security program, trong quyển The
encyclopedia of social work (Bách khoa tồn thư về cơng tác xã hội), tái bản lần
thứ 20, quyển 4, hiệu đính bởi Terry Mizrachi và Larry E. Davis [138, tr.89-97].
Trong bài viết Eric R. Kingson luận bàn một cách tổng quan, súc tích về sự phát
triển và cấu trúc của ASXH từ góc độ cơng tác xã hội. Trên cơ sở đó chúng ta có
thể vận dụng để đối chiếu, so sánh, đánh giá hoạt động theo cấu trúc ASXH tại
Việt Nam với những mơ hình mà tôn giáo tham gia hoạt động.
Jeffrey R. Brown, Jeffrey Liebman, và David A. Wise (2009), Social
Security policy in a changing environment [141]. Cơng trình này, nhóm tác giả
thảo luận về các vấn đề ASXH từ giác độ nhân khẩu học, kinh tế và các xu
hướng khác. Theo đó, quyển sách phân tích mơi trường kinh tế và nhân khẩu học
thay đổi, trong đó các chương trình bảo hiểm xã hội có lợi cho các hộ gia đình
cao tuổi. Các tác giả cũng trình bày cách thức làm thế nào để những xu hướng
đang diễn ra này sẽ ảnh hưởng đến những người thụ hưởng trong tương lai, theo
cả chương trình ASXH hiện tại và các lựa chọn cải cách tiềm năng. Cơng trình
đặc biệt thăm dị các thách thức đặt ra đối với nền ASXH của một nền dân số
già. Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra xu hướng tiết kiệm hưu trí của khu vực tư
nhân và chi phí chăm sóc sức khỏe, cũng như bản chất khơng chắc chắn của xu
hướng nhân khẩu học, kinh tế và xã hội trong tương lai.
Jane Millar (2009), Understanding social security: Issues for policy and
practice [142]. Cuốn sách cung cấp cho người đọc thơng tin, các cơng cụ phân
tích để làm rõ ý nghĩa của sự phát triển chính sách, cải cách và đánh giá các lựa
chọn cho tương lai. Đồng thời phân tích phê phán về chính sách ASXH và thực


16

hành ASXH. Đây là tài liệu cần thiết cho những người hoạch định và thực thi


17

chính trong dài hạn của ASXH. Chương 7 trình bày lợi ích của ASXH đối với
những người nghỉ hưu và người lao động khuyết tật và vợ/chồng của họ cùng
những người phụ thuộc. Chương 8 chỉ ra trách nhiệm của những người thụ
hưởng ASXH trong chi trả dịch vụ y tế.
Bruce Schobel D. (2019), We may be seeing the beginning of social
security reform [145]. Chúng ta có thể thấy những phác thảo đang nổi lên về
tương lai của cải cách ASXH. Những thay đổi được đưa ra bao gồm sự gia tăng
lợi ích nhỏ, sự điều chỉnh chi phí sinh hoạt công cộng với những sự sử dụng chỉ số
giá tiêu dùng cho người cao tuổi, lợi ích tối thiểu đặc biệt gia tăng, sự tăng lên giới
hạn thuế ASXH, áp đặt thuế lương từ ASXH đối với những người có thu nhập
cao, bao gồm thu nhập bị đánh thuế và gia tăng đều đặn trong tỷ lệ thuế từ lương.
Những cơng trình đã cung cấp cơ sở lý luận, làm rõ các khái niệm về vấn
đề ASXH trong quá trình phát triển cũng như nhấn mạnh quan điểm việc thực
hiện an sinh xã hội với trọng tâm là đẩy mạnh phát triển lĩnh vực giáo dục, y tế,
chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động; đồng thời mở rộng cơ
hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trong giáo dục, y tế, nước sạch, điện,
đường giao thông, trường học, nhà ở. Các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh
phương pháp tiếp cận, cách thức tham gia của các thành viên xã hội (trong đó có
tơn giáo) và cả cộng đồng vào việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách. Qua
đó cho thấy, các cơng trình rất hữu ích cho việc tham khảo, kế thừa trong nghiên
cứu đánh giá thực trạng ASXH và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
tham gia hoạt động ASXH đối với TGNS.
Như vậy, các cơng trình nghiên cứu trên đã tập trung phân tích lịch sử và
một số vấn đề lý luận về ASXH, khái niệm ASXH; đánh giá những vấn đề bất
bình đẳng xã hội, nghèo khổ và xung đột xã hội; đánh giá các thành tựu, hạn chế
và một số mơ hình nhà nước phúc lợi, mơ hình ASXH ở một số nước trên thế
giới. Đây là những tư liệu quý giúp tác giả kế thừa cho luận án của mình

động ASXH xuất phát từ nền tảng giáo lý, giáo luật của các tôn giáo; hướng
thiện, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn là một trong những nội
dung tiêu biểu và đây là điểm chung của nhiều tôn giáo. Đối với Phật giáo có lời
dạy rất nhân văn và gần gũi với cuộc sống thực tiễn hàng ngày của mọi người, đó
là: "Dẫu xây chín bậc phù đồ/Khơng bằng làm phúc giúp cho một người" [119,
tr.379-380]; Công giáo có những điều Chúa dạy trong cuộc sống phải biết sẻ chia
nhau lúc gặp khó khăn: "... cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, cho


19

kẻ khác ở nhờ" [119, tr.381]; với PGHH, Đức Huỳnh Giáo chủ khun mọi người
hãy sống có lịng từ bi, giúp người khi người khó khăn bất hạnh được diễn đạt bằng
các câu thơ: "Của dư cho mượn mới là/Chỉ bằng bố đức lập nền từ bi" [119, tr.380].
Bên cạnh đó, tác giả đã cung cấp cho chúng ta nhiều số liệu các tôn giáo tham gia
hoạt động ASXH rất có giá trị mà luận án có thể kế thừa và sử dụng.
Nhật Tảo (2003), Thánh Giêrônimô Emilani (1481-1537) hiến thân trọn
vẹn cho giới thanh thiếu niên bất hạnh [93]; Quốc Trung (2003), Mẹ Têrêsa
Calcutta: Tôi thấy khuôn mặt của Chúa Giêsu nơi các người nghèo khổ [113].
Các tác giả đã giới thiệu tiểu sử, vai trò và những thành tích đóng góp của các cá
nhân, tổ chức từ thiện, bác ái của Công giáo thế giới và Việt Nam trong sự phát
triển xã hội. Điều đó đã minh chứng cho vai trị, trách nhiệm xã hội của tơn giáo
đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội trên các lĩnh vực như: y tế, giáo
dục, xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, cứu trợ
thiên tai, lũ lụt…
Vụ Pháp chế - Thanh tra, Ban Tơn giáo Chính phủ (2008), Báo cáo tổng
quan Dự án khoa học, Khảo sát thực trạng tơn giáo tham gia xã hội hóa về giáo
dục, y tế, từ thiện nhân đạo ở Việt Nam hiện nay - Những kiến nghị và giải pháp
[117]. Báo cáo đã phân tích mặt ưu điểm mang lại nhiều thành tựu trong những
năm qua; đồng thời cũng chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status